rao can ky thuat cua my doi voi do go xuat khau viet nam - Pdf 31


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU:.................................................................................................1
Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật ....................................... 62
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
CPSA Consumer Product Safe Act Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng
CPSC Consumer Product Safety
Commission
Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu
dùng
CPSIA Consumer Product Safety
Improvement Act
Đạo Luật Cải Thiện An Toàn
Sản Phẩm Tiêu Dùng
GCC General Conformuty
Certification
Chứng nhận hợp chuẩn tổng
quát
GSP Generalised System of
Preference
Ưu đãi phổ cập thuế quan
AGOA African Growth and
Opportunity Act
Luật lệ tăng trưởng và đào tạo
thuận lợi cho Châu Phi
HACCP Hazard Analysis Critical
Control Points
Quy chế kiểm dịch động thực
vật
GMP Good Manufacturing

Việt Nam và Hoa Kỳ là hai quốc gia có quan hệ thương mại phát triển
và không ngừng mở rộng. Kể từ sau khi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
được ký kết năm 2001, quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước đã có nhiều
khởi sắc. Điều này phù hợp với lợi ích thương mại của cả hai nước, phù hợp
với xu thế hội nhập, mở cửa hiện nay của các quốc gia trên thế giới cũng như
chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Hoa Kỳ.
Trong những năm vừa qua, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị
trường Hoa Kỳ tăng mạnh. Một trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn vào thị
trường Hoa Kỳ ta phải kể đến là mặt hàng đồ gỗ. Hoa Kỳ là nước nhập khẩu
đồ gỗ hàng đầu trên thế giới. Đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ được đánh giá là có chất lượng tốt, kiểu dáng sáng tạo, giá cả khá
cạnh tranh, vì thế tạo được độ tín nhiệm cao đối với người tiêu dùng. Kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ những năm vừa
qua không ngừng tăng. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường này đạt
16,1 triệu USD vào năm 2001. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên
1100 triệu USD (tăng gấp 68 lần so với kim ngạch năm 2001).
Tuy nhiên, thị trường Hoa Kỳ là thị trường khó tính, rất khắt khe về
chất lượng hàng hoá nói chung và mặt hàng đồ gỗ nói riêng. Do vậy, xuất
khẩu đồ gỗ của Việt Nam trong những năm vừa qua tuy đã đạt được một số
kết quả bước đầu đáng khích lệ song vẫn chưa xứng với tiềm năng của mình.
Sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng những yêu cầu về
rào cản kỹ thuật của thị trường Hoa Kỳ. Đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường
Hoa Kỳ vẫn chưa cạnh tranh được với đồ gỗ của Trung Quốc và Canada. Các
doanh nghiệp Việt Nam vẫn hết sức lúng túng khi phải đối mặt với những rào
1
cản mới của thị trường này. Vì vậy, Việt Nam muốn xuất khẩu thành công
vào thị trường Hoa Kỳ thì cần phải có những biện pháp hữu hiệu vượt qua
những rào cản kỹ thuật của thị trường này từ phía nhà nước và doanh nghiệp.
Chính vì lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối
với đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam” với mục đích đề xuất một số giải pháp nhằm

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
gồm có ba chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về rào cản kỹ thuật của
Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam
Chương 2: Thực trạng đáp ứng rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất
khẩu Việt Nam
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các
yêu cầu về rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC
TIỄN VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐỒ GỖ
XUẤT KHẨU VIỆT NAM
1.1. Lý luận chung về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
1.1.1. Khái niệm về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Như một tất yếu khách quan, khi các hàng rào thuế quan được các nước
giảm sử dụng theo xu hướng tự do hoá thương mại, các hàng rào phi thuế
quan trong thương mại quốc tế ngày càng được gia tăng áp dụng để bảo hộ
sản xuất trong nước.Trong các hàng rào phi thuế quan, hệ thống rào cản kỹ
thuật được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn
chặn hàng nhập khẩu.
Rào cản kỹ thuật là nhà nước đưa ra những yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ
thuật đối với sản phẩm đòi hỏi sản phẩm xuất khẩu hay nhập khẩu phải đạt tới
một tiêu chuẩn nhất định mới được xuất khẩu ra nước ngoài hay nhập khẩu
vào thị trường nội địa. Đây là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường
an toàn lao động, bao bì đóng gói đặc biệt là các tiêu chuẩn vệ sinh thực
phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với động thực vật, tiêu chuẩn bảo vệ môi
trường sinh thái đối với máy móc thiết bị và dây truyền công nghệ (không có
chất phế thải độc hại, tiếng ồn không quá mức…). Những quy định này xuất
phát từ đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội và phản ánh trình độ phát triển của
văn minh nhân loại. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường khéo léo sử dụng

các biện pháp này phải được công bố công khai và phù hơp với các quy định
của WTO. Đứng trên góc độ thương mại quốc tế, việc đưa ra các tiêu chuẩn
kỹ thuật một mặt nhằm nâng cao uy tín hàng hóa sản xuất trong nước, bảo vệ
5
lợi ích quốc gia và người tiêu dùng; Mặt khác còn thực hiên mục đích điều
tiết thương mại quốc tế hoặc bảo hộ sản xuất trong nước.
Các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế rất đa dạng và được áp
dụng rất khác nhau ở các nước tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.
Các rào cản này có thể được chia làm các loại hình sau:
- Căn cứ vào cấp độ của tiêu chuẩn có: Tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn
quốc gia, tiêu chuẩn vùng, tiêu chuẩn ngành…
- Căn cứ vào mục đích đặt ra các tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn để quản lý
chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn quản lý môi trường nhằm đảm bảo sản xuất
hài hòa với môi trường sống. Một số bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản
phẩm được áp dụng cho từng nhóm sản phẩm có tính chuyên ngành như: SA
8000, HACCP, GMP, ISO 14000… Tiêu chuẩn SA 8000 (Social
Accountability) quy định về trách nhiệm xã hội của một tổ chức, một doanh
nghiệp đối với người lao động, điều kiện làm việc của người lao đông;
HACCP (Hazard Analysis Critical Control Points) là tiêu chuẩn dùng để quản
lý chất lượng thực phẩm; GMP ( Good Manufacturing Practice) là tiêu chuẩn
áp dụng với sản phẩm dược phẩm và thực phẩm; ISO 14000 bao gồm các hệ
thống liên quan tới hệ thống quản lý môi trường (như ISO 14001 và 14004)
và các tiêu chuẩn liên quan tới các công cụ quản lý môi trường (các tiêu
chuẩn khác của bộ tiêu chuẩn ISO 14000). Trong thực tế hàng hóa xuất khẩu
của một quốc gia có thể đạt tiêu chuẩn ISO, nhưng lại không đáp ứng được
tiêu chuẩn của quốc gia nhập khẩu nếu như họ quy định cao hơn thì khó có
thể thâm nhập vào thị trường nước nhập khẩu.
- Theo nội dung của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế có:
Các tiêu chuẩn, quy định vệ sinh an toàn dịch tễ; Các quy định chế biến sản
xuất theo quy định môi trường; Các yêu cầu về nhãn mác; Các yêu cầu về

7
- Các bên đối tác dễ dàng hiểu nhau khi đàm phán về một mặt hàng
Nhờ những yêu cầu kỹ thuật đã được công bố rộng rãi bằng văn bản và
các phương tiện thông tin chung nên nhà xuất khẩu dễ dàng tiếp cận và thực
thi. Khi có vướng mắc phát sinh về hàng hóa cả hai bên chỉ cần đối chiếu với
các quy định, văn bản có sẵn về chuẩn hàng hóa. Đàm phán dễ dàng và nhanh
chóng hơn.
1.1.2.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, rào cản kỹ thuật cũng tạo
cho nhà xuất khẩu không ít những khó khăn. Với tư cách là công cụ bảo hộ
trực tiếp được thừa nhận, rào cản kỹ thuật gây sự cản trở hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa, quan hệ thương mại giữa các bên. Để phù hợp với các tiêu
chuẩn này vừa khó khăn vừa tốn kém. Ngoài các tiêu chuẩn quy định do các
tổ chức quốc tế đưa ra, các rào cản này còn do các nước tự đặt. Có khi các
tiêu chuẩn này cùng được đặt ra nhưng lại không thống nhất gây sự không
đồng bộ trong các rào cản thậm chí sự không đồng bộ giữa các vùng các miền
trong cùng một quốc gia. Sự phức tạp cản trở thương mại giữa hai bên nếu
bên xuất khẩu không hiểu rõ luật.
Ngoài ra do sự chênh lệch về trình độ giữa nước xuất khẩu và nước
nhập khẩu, các nước nhập khẩu có nền kinh tế phát triển thường đưa ra các
yêu cầu quá cao so với trình độ đáp ứng của nước xuất khẩu là các nước đang
phát triển. Các rào cản này thực sự đã trở thành những thách thức lớn đối với
các nước có trình độ thấp hơn. Sự hạn chế về năng lực, kinh nghiệm cũng như
trình độ khoa học công nghệ… của các nước xuất khẩu sẽ khiến họ khó có thể
vượt qua các rào cản này.
8
1.2. Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam
1.2.1. Rào cản kỹ thuật của Mỹ trong thương mại quốc tế
Mỹ đối mặt với sự cạnh tranh của luồng hàng hoá từ các nước đang
phát triển. Kết quả là Mỹ đã phản ứng lại tình trạng này bằng cách đặt ra

phẩm hay những bộ phận của sản phẩm đó được sản xuất, phân phối hoặc có
công dụng để sử dụng lâu dài hoặc tạm thời trong và xung quanh hộ gia đình,
khu cư xá… Những sản phẩm không nằm trong phạm vi điều chỉnh của
CPSA bao gồm máy bay, động cơ và thiết bị máy bay, mỹ phẩm, dược phẩm,
súng đạn, thực phẩm, một số loại tàu thuyền, thiết bị xe động cơ, thuốc lá và
các loại thuốc trừ sâu.
Để trừng phạt việc không tuân thủ các quy định của CPSA hình thức
chủ yếu là từ chối không cho nhập hàng vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, có thể tiến
hành các thủ tục bắt giữ, cảnh báo sản phẩm nếu sản phẩm đó được coi là có
thể gây nguy hiểm. Khi CPSC xác định một sản phẩm nguy hiểm, CPSC yêu
cầu nhà sản xuất thông báo cho công chúng biết khuyết tật hoặc sự không phù
hợp của sản phẩm và yêu cầu nhà sản xuất phải sửa chữa, thay thế sản phẩm
hoặc trả lại tiền cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nhà sản xuất vi phạm luật lệ và
có sản phẩm gây tổn thương cho người sử dụng có thể bị phạt về dân sự hay
hình sự.
Đạo Luật Cải Tiến An Toàn Sản Phẩm Tiêu Dùng (CPSIA) được Ủy
Ban An toàn sản phẩm tiêu dùng Hoa Kỳ ban hành và có hiệu lực từ
12.11.2008. Theo đó, các sản phẩm là đối tượng điều chỉnh bởi các điều luật,
các quy định về an toàn sản phẩm tiêu dùng khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều
bắt buộc phải có chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC). Giấy chứng nhận
này phải được kèm theo cho từng lô hàng nhập khẩu. Riêng đối với sản phẩm
tiêu dùng dành cho trẻ em là đối tượng điều chỉnh bởi các điều luật, các quy
10
định về an toàn sản phẩm trẻ em, kết quả thử nghiệm sử dụng cho chứng nhận
hợp chuẩn tổng quát phải được thực hiện bởi tổ chức thử nghiệm độc lập
được CPSC chỉ định.
• HACCP – Quy chế kiểm dịch động thực vật của FDA
HACCP (phân tích mối nguy cơ xác nhận điểm tới hạn) là tiêu chuẩn
chất lượng hàng thực phẩm. Là hệ thống kiểm soát chất lượng sản phẩm dựa
trên nguyên tắc phân tích và xác định các tiêu chuẩn thực phẩm nhằm đảm

kho phân phối hoặc chứa hàng nhập khẩu, phương tiện dùng để vận chuyển
hoặc cất giữ các chất nguy hiểm. Mỹ cấm tất cả các sản phẩm nhập khẩu
không tuân thủ các yêu cầu về nhãn hàng của Luật liên bang về các chất nguy
hiểm. Khi phát hiện sản phẩm vi phạm hải quan Mỹ yêu cầu dán lại nhãn đối
với các sản phẩm đó. Nếu sau khi dán lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu,
hàng sẽ phải tái xuất nếu không sẽ bị tiêu hủy.
1.2.1.2. Xuất xứ và thương hiệu hàng hóa
• Quy tắc xuất xứ
Xuất xứ của hàng hóa được nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của Mỹ có
thể tác động đến mức thuế suất áp dụng, quyền được hưởng lợi từ các chương
trình đặc biệt, khả năng được phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế chống bán phá
giá, hoặc thuế chống bán hạ giá (do được chính phủ hỗ trợ), mua sắm chính
phủ và yêu cầu ký mã hiệu. Có hai loại quy tắc xuất xứ cơ bản: không ưu đãi
và có ưu đãi. Quy tắc không ưu đãi nói chung được áp dụng khi không có
hiệp định thương mại đa phương và song phương. Quy tắc ưu đãi áp dụng đối
với hàng hóa để xác định có đáp ứng các điều kiện hưởng ưu đãi đặc biệt theo
các hiệp định thương mại hoặc luật lệ đặc biệt như ưu đãi phổ cập thuế quan
(GSP), Hiệp định thương mại tự do Băc Mỹ (NAFTA), luật lệ tăng trưởng và
đào tạo thuận lợi cho Châu Phi (AGOA). Ngoài ra còn có quy tắc xuất xứ đối
với hàng dệt may.
12
Những quy tắc này được ghi trong Luật thuế quan năm 1930, luật thuế
quan 1984, luật thương mại và cạnh tranh 1988. Đối với tất cả hàng hóa nhập
khẩu vào thị trường Mỹ đều phải ghi xuất xứ một cách cụ thể về tên hàng hóa
nước sản xuất bằng tiếng Anh với hình thức dễ đọc và ở vị trí dễ thấy trên vỏ
đựng hàng hóa để cho người mua cuối cùng ở Mỹ biết tên của nước xuất xứ,
nơi hàng hóa được sản xuất hoặc chế tạo. Các hàng hóa được miễn không
phải ký mã hiệu trong trường hợp cụ thể là ngoại lệ đối với quy định này.
Có thể định nghĩa người mua cuối cùng là người cuối cùng ở Mỹ nhận
được hàng hóa dưới hình thức như lúc nhập khẩu. Nói chung nếu một hàng

hóa của nước ngoài, hoặc trên bao bì của hàng hóa đó, bị coi là cố ý làm cho
người ta tin rằng hàng hóa đó được sản xuất ở Mỹ, trừ khi tên của nước xuất
xứ được ghi ở ngay sát tên của địa điểm xuất xứ nội địa.
Đối với tất cả hàng hóa vi phạm quy định về xuất xứ khi được nhập
khẩu vào Mỹ đều bị biện pháp trừng phạt là chịu mức thuế là 10% tổng giá trị
(không kể các loại chi phí khác). Đồng thời nhà nhập khẩu vẫn phải thực hiện
những quy định có liên quan khác. Ví dụ hầu hết hàng hóa trên bao bì không
ghi rõ xuất xứ sẽ bị giữ tại hải quan cho tới khi nhà nhập khẩu thu xếp tái
xuất, tiêu hủy/maketing lại cho đúng quy định dưới sự giám sát của hải quan
Mỹ. Nếu có một phần hàng hóa đã được thông quan sẽ phải được thu hồi về
kho ngoại quan của Mỹ cho tới khi nhà nhập khẩu thu xếp tái xuất, tiêu
hủy/maketing lại cho đúng quy định. Phần 1907(a) của OTCA tăng mức phạt
tối đa có thể lên tới 100.000 USD cho lần đầu của việc cố tình vi phạm thay
đổi hoặc xóa maketing xuất xứ và 250.000 USD cho lần tiếp theo.
• Thương hiệu và tên thương mại
Hàng hóa mang thương hiệu giả sẽ bị giữ lại và tịch thu. Một thương
hiệu giả được định nghĩa là thương hiệu không có đích thực, trùng hoặc
không thể phân biệt với một thương hiệu đã được đăng ký. Các ký tự sao chép
14
hoặc làm giả được hải quan Mỹ lưu hồ sơ có thể bị giữ lại, có thể bị bắt giữ và
tịch thu. Việc xuất khẩu các hàng hóa “tương tự” hoặc “chợ đen” nếu thương
hiệu đó đã được đăng ký và đã được hải quan lưu hồ sơ và có biện pháp
chống hàng chợ đen. Trong những trường hợp đó hàng hóa có thể bị thu giữ,
bắt giữ và tịch thu. Hải quan Mỹ cũng có biện pháp chống tương tự đối với
các hàng hóa không được phép mang tên thương mại đã được hải quan lưu hồ
sơ theo quy định.
Miễn trừ cá nhân cho hàng hóa có mang một thương hiệu vi phạm luật
có thể giành cho các hàng hóa đi cùng với bất kỳ ai đến Mỹ khi hàng hóa đó
được sử dụng cho cá nhân chứ không phải để bán. Luật cho phép chỉ được
mang một hàng hàng hóa vi phạm thương hiệu vào Mỹ. Cá nhân có thể vận

- Cải thiện mối quan hệ với tổ chức công đoàn
Doanh nghiệp được chứng chỉ SA 8000 có thể chưng bày chứng chỉ đó
trong xí nghiệp, nhà máy, ở catalogue, trên các biển quảng cáo và trên các
trang Web nhưng không được ghi trên sản phẩm.
1.2.1.4. Các quy định bảo vệ môi trường
EPA chịu trách nhiệm đảm bảo các bang phải kiểm tra độ an toàn của
sản phẩm đối với môi trường, ví dụ trong luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi
trường và luật kiểm soát chất độc các loại thuốc trừ sâu dự định được phép sử
dụng ở Mỹ bao gồm thuốc trừ sâu nhập khẩu phải được đăng ký với với EPA.
Ngoài ra việc nhập khẩu thuốc trừ sâu phải được thông báo cho EPA.
Trong một số trường hợp, Mỹ sử dụng các công cụ thương mại để thi
hành điều khoản môi trường, đặc biệt chú trọng tới môi trường biển. Việc
thực thi những điều khoản này do hai cơ quan: Bộ ngoại giao và Ủy ban Bảo
vệ khí quyển và đại dương quốc gia (NOAA) thuộc bộ thương mại.
16
1.2.2. Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ nhập khẩu từ Việt Nam
Bên cạnh chịu tác động của rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với hàng hóa
nhập khẩu nói chung. Mặt hàng đồ gỗ nhập khẩu vào thị trường này còn chịu
một số rào cản kỹ thuật riêng biệt đặc thù.
Các quy định của Mỹ về gỗ và đồ gỗ như sau:
HTS 44 - Gỗ và sản phẩm gỗ: Bao gồm gỗ củi, gỗ đốt lấy than, gỗ cây, gỗ
vụn, mạt gỗ, gỗ làm đường ray, gỗ xẻ, gỗ băm, gỗ lạng, gỗ ván ép, gỗ ép từ
vụn gỗ, gỗ làm khung, gỗ đóng thùng hàng, gỗ mỏ, gỗ xây dựng… và các đồ
dùng dụng cụ bằng gỗ, như mắc áo, đồ gỗ nhà bếp… Đối với danh mục này,
việc nhập khẩu phải:
1. Phù hợp với quy định của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) về giám định
tại cảng đến.
2. Phù hợp với các quy định Luật liên bang về sâu bệnh ở cây.
3. Phù hợp với quy định của Hội đồng thương mại Liên bang (FTC), Hội
đồng An toàn tiêu dùng (nếu là hàng tiêu dùng).

Cấm nhập khẩu động thực
vật quý hiếm
APHIS PPQ, FWS,
USCS
(Nguồn: )
HTS 94 - Đồ nội thất: Bao gồm các loại ghế, đồ đạc dụng cụ trong bệnh viện,
các đồ đạc trong nhà, văn phòng, giường tủ, bàn ghế, đệm, đèn và các tấm
ngăn xây dựng làm sẵn… Các đồ dùng này có thể làm hoàn toàn bằng kim
loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vải hoặc các vật liệu khác.
Đối với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:
1. Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban An toàn
tiêu dùng (CPSC) về an toàn tiêu dùng.
2. Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory
(UL), do CPSC quản lý.
3. Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA về
xác định nguồn gốc vải.
18
Bảng 1.2. Những văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu hàng
hóa thuộc nhóm HTS94
Số văn bản Loại biện pháp áp dụng Cơ quan nhà nước
điều hành
15 UCS 1191 - 1204 Luật về hàng dệt may dễ
cháy
FTC, CPSC, USCS
15 UCS 1263 Quy chế an toàn tiêu
dùng
FTC, CPSC, USCS
15 UCS 70 - 77 TFPIA – Luật về hàng
dệt may
FTC, CPSC, USCS

bởi một cơ quan đánh giá độc lập do CPSC công nhận. Giấy chứng nhận này
phải kèm theo sản phẩm hay chuyến hàng xuất khẩu sản phẩm và phải có sẵn
để cho CPSC và Hải quan Mỹ kiểm tra khi có yêu cầu. Đối với sản phẩm đồ
gỗ nhập khẩu việc nhập vào Hoa Kỳ không cần xin giấy phép nhập khẩu. Tuy
nhiên, mặt hàng này cũng có một số quy định khá chặt chẽ đối với các sản
phẩm nội thất dành cho trẻ em, đồ nội thất có thành phần dệt và đồ nội thất
chiếu sáng.
Các loại đồ gỗ khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ cần đưa ra 2 loại chứng
nhận: Chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC – General Conformity
Certificate) và Kiểm nghiệm bắt buộc bởi tổ chức thứ ba (Third party testing).
Tất cả các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đều phải có giấy chứng nhận cho tất cả các
lô hàng nhập khẩu, theo đó:
• Đối với sản phẩm tiêu dùng -> cần GCC
• Đối với sản phẩm trẻ em -> cần cả GCC & Kiểm nghiệm từ tổ chức thứ ba
1. Giấy chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC)
• Đây là một chứng nhận tự ban hành, hoặc là một tuyên bố đảm bảo sự
phù hợp của nhà cung cấp.
20
• Chứng nhận này phải được cung cấp bởi nhà nhập khẩu, chứ phòng luật
hay tổ chức thứ ba không thể làm thay. Về cơ bản, nhà nhập khẩu sẽ
phối hợp với nhà sản xuất để hoàn tất giấy chứng nhận này.
Chứng nhận này phải được kèm theo mỗi đợt xuất hàng.
Nội dung của GCC gồm các yếu tố sau:
• Phải được trình bày bằng tiếng Anh
• Đặc điểm nhận dạng của sản phẩm được chứng nhận
• Liệt kê những quy định an toàn sản phẩm của CPSC được chứng nhận
cho sản phẩm đó
• Thông tin về nhà sản xuất
• Thông tin về nhà nhập khẩu Mỹ
• Thông tin liên hệ người có trách nhiệm lưu giữ các kết quả kiểm nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status