Rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam - Pdf 11


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU:...................................................................................................
Trong cơ cấu các thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong tháng 8/2009,
thì kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ vẫn đạt cao nhất chiếm 41.2% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ. Trong khi Nhật Bản chiếm 13.2%, tổng kim ngạch của các thị
trường khác trên thế giới cộng lại là 45.6% chỉ hơn Mỹ là 4.4%. Với vị trí chiếm giữ gần
một nửa kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam Mỹ đang thị trường chủ lực được quan tâm
nhất của ngành đồ gỗ. Không chỉ trong năm 2008 mà trong năm 2009, Mỹ vẫn là thị trường
hàng đầu của ngành gỗ xuất khẩu Việt Nam. Tính theo giá trị xuất khẩu thì Mỹ cũng dẫn
đầu về giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam trong năm 2009 .............................. 42
Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật ..................................................................... 65
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
CPSA Consumer Product Safe Act Luật an toàn sản phẩm tiêu dùng
CPSC Consumer Product Safety
Commission
Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu
dùng
CPSIA Consumer Product Safety
Improvement Act
Đạo Luật Cải Thiện An Toàn
Sản Phẩm Tiêu Dùng
GCC General Conformuty
Certification
chứng nhận hợp chuẩn tổng quát
GSP Generalised System of
Preference
Ưu đãi phổ cập thuế quan
AGOA African Growth and
Opportunity Act

Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật ..................................................................... 65
Danh mục biểu đồ
1. Biểu đồ 1.1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu gỗ xuất khẩu tháng 8/2009
2. Biểu đồ 2.1. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm đồ gỗ sang Mỹ
3. Biểu đồ 2.2. Giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam sang
Mỹ 8 tháng đầu năm 2010
4. Biểu đồ 2.3. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang
Mỹ
5. Biểu đồ 2.4. Cơ cấu trung bình đồ gỗ xuất khẩu vào thị trường Mỹ giai
đoạn 2005 - 2009
6. Biểu đồ 2.5. Chứng chỉ FSC ở Việt Nam.

4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài:
Việt Nam và Hoa Kỳ là hai quốc gia có quan hệ thương mại phát triển
và không ngừng mở rộng. Kể từ sau khi Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
được ký kết năm 2001, quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước đã có nhiều
khởi sắc. Điều này phù hợp với lợi ích thương mại của cả hai nước, phù hợp
với xu thế hội nhập, mở cửa hiện nay của các quốc gia trên thế giới cũng như
chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Hoa Kỳ.
Trong những năm vừa qua, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị
trường Hoa Kỳ tăng mạnh. Một trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn vào thị
trường Hoa Kỳ ta phải kể đến là mặt hàng đồ gỗ. Hoa Kỳ là nước nhập khẩu
đồ gỗ hàng đầu trên thế giới. Đồ gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường
Hoa Kỳ được đánh giá là có chất lượng tốt, kiểu dáng sáng tạo, giá cả khá
cạnh tranh, vì thế tạo được độ tín nhiệm cao đối với người tiêu dùng. Kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ những năm vừa
qua không ngừng tăng. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường này đạt
16,1 triệu USD vào năm 2001. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên

học tập đưa ra một số kiến nghị đối với nhà nước và giải pháp cho các doanh
nghiệp nhằm giúp các mặt hàng đồ gỗ vượt qua các rào cản kỹ thuật của thi
trường Mỹ trong thời gian tới.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu: Rào cản kỹ thuật của thị trường Hoa kỳ đối với mặt
hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Trên giác độ nhà nước nghiên cứu các rào cản kỹ thuật
của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam từ 2001 tới nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phưong pháp duy vật biên chứng dựa trên tính logic của vấn đề
nghiên cứu. Đồng thời vận dụng phương pháp tổng hợp số liệu, thống kê,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích đánh giá báo cáo để đưa ra
những nhận định và giải pháp thích hợp nhất.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
gồm có ba chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với
đồ gỗ nhập khẩu Việt Nam
Chương 2: Thực trạng đáp ứng rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất
khẩu Việt Nam
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các
yêu cầu về rào cản kỹ thuật của Mỹ đối với đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam
3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC
TIỄN VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐỒ GỖ
XUẤT KHẨU VIỆT NAM
1.1. Lý luận chung về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
1.1.1. Khái niệm về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Như một tất yếu khách quan, khi các hàng rào thuế quan được các nước

Sandard Organization). Trong trường hợp các quốc gia không thể áp dụng các
tiêu chuẩn quốc tế vì lý do phương hại tới lợi ích quốc gia thì phải sớm công
bố trên các báo chí giúp các nước khác biết được tiêu chuẩn mà mình áp
dụng; Thông báo cho ban thư ký WTO biết và phải giải trình mục đích. Khi
cần thiết phải cung cấp các bản sao về tiêu chuẩn đó và giành thời gian hợp lý
để các nước khác góp ý đối với việc soạn thảo các tiêu chuẩn này.
Hiệp định rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) đề cập tới lợi ích
khi sử dụng hàng rào kỹ thuật: Đối với người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn và
sử dụng sản phẩm thích hợp có chất lượng và thông số kỹ thuật phù hợp với
yêu cầu của mình; Đối với người sản xuất phải quan tâm nâng cao chất lượng
sản phẩm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng; Đối với nhà
kinh doanh dễ dàng đàm phán về một mặt hàng.
Xuất phát từ mục đích bảo vệ lợi ích người tiêu dùng hàng hóa và dịch
vụ, bảo vệ người lao động, bảo vệ môi trường sống…, nên đây là nhóm các
biện pháp được WTO cho phép áp dụng để điều tiết xuất nhập khẩu. Nhưng
phải được công bố công khai và phù hơp với các quy định của WTO. Đứng
trên góc độ thương mại quốc tế, việc đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật một mặt
nhằm nâng cao uy tín hàng hóa sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích quốc gia
5
và người tiêu dùng; Mặt khác còn thực hiên mục đích điều tiết thương mại
quốc tế hoặc bảo hộ sản xuất trong nước.
Các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế rất đa dạng và được áp
dụng rất khác nhau ở các nước tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.
Các rào cản này có thể được chia làm các loại hình sau:
- Căn cứ vào cấp độ của tiêu chuẩn có: Tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn
quốc gia, tiêu chuẩn vùng, tiêu chuẩn ngành…
- Căn cứ vào mục đích đặt ra các tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn để quản lý
chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn quản lý môi trường nhằm đảm bảo sản xuất
hài hòa với môi trường sống. Một số bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng sản
phẩm được áp dụng cho từng nhóm sản phẩm có tính chuyên ngành như: SA

tuân thủ các yêu cầu này không phải là bắt buộc nhưng ai không tuân thủ thì
thị trường tẩy chay. Nên rào cản kỹ thuật là động lực giúp các nhà xuất khẩu
tìm mọi cách để vượt qua, đáp ứng những yêu cầu dù khắt khe tới đâu. Do đó,
họ phải chủ động cải tiến, trang bị máy móc thiết bị hiện đại, nâng cao chất
lượng sản phẩm, đồng thời áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế
vào sản xuất, quy trình chế biến của doanh nghiệp, bồi dưỡng năng lực
chuyên môn của đội ngũ cán bộ. Kết quả là năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm, của doanh nghiệp tại nước nhập khẩu ngày càng được nâng cao và
khẳng định trên thị trường thế giới.
- Bảo vệ môi trường sống
Khi đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của nước nhập khẩu thì
hoạt động sản xuất đó mặc nhiên cũng tuân thủ quy định bảo vệ môi trường.
Do đó sẽ hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên của nước xuất khẩu. Có thể nói, rào cản kỹ thuật đã có những
7
đóng góp đáng kể vào công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo cân bằng sinh
thái và góp phần phát triển bền vững.
- Các bên đối tác dễ dàng hiểu nhau khi đàm phán về một mặt hàng
Nhờ những yêu cầu kỹ thuật đã được công bố rộng rãi bằng văn bản và
các phương tiện thông tin chung nên nhà xuất khẩu dễ dàng tiếp cận và thực
thi. Khi có vướng mắc phát sinh về hàng hóa cả hai bên chỉ cần đối chiếu với
các quy định, văn bản có sẵn về chuẩn hàng hóa. Đàm phán dễ dàng và nhanh
chóng hơn.
1.1.2.2. Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, rào cản kỹ thuật cũng tạo
cho nhà xuất khẩu không ít những khó khăn. Với tư cách là công cụ bảo hộ
trực tiếp được thừa nhận, rào cản kỹ thuật gây sự cản trở hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa, quan hệ thương mại giữa các bên. Để phù hợp với các tiêu
chuẩn này vừa khó khăn vừa tốn kém. Ngoài các tiêu chuẩn quy định do các
tổ chức quốc tế đưa ra, các rào cản này còn do các nước tự đặt. Có khi các

tại Hoa Kỳ. CPSC thực hiện vai trò này thông qua việc ban hành những tiêu
chuẩn về an toàn sản phẩm có tính bắt buộc, cũng như thông qua sự hợp tác
với khu vực công nghiệp để xây dựng những tiêu chuẩn an toàn dựa trên sự
đồng thuận (cũng gọi là những tiêu chuẩn an toàn tự nguyện. Ngoài ra ủy ban
theo dõi những thương tật và tử vong có liên quan đến sản phẩm và cùng làm
việc với công ty để thu hồi những sản phẩm có khuyết điểm ra khỏi thị
trường. Dưới đây là một số luật liên bang thuộc thẩm quyền của CPSC .
Bất cứ hàng tiêu dùng nào muốn nhập khẩu vào Mỹ cũng đều bị từ chối
nếu sản phẩm đó không tuân thủ một tiêu chuẩn an toàn sản phẩm hiện hành,
9
hoặc yêu cầu về nhãn hiệu được quy định, được chứng nhận hoặc được xác
định là có hại. Nguyên tắc chung là nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng phải
phát hành giấy chứng nhận khẳng định hàng phù hợp với các tiêu chuẩn qui
định và phải dán nhãn trên sản phẩm ghi rõ ngày và nơi sản xuất sản phẩm,
tên và địa chỉ của nhà sản xuất, chứng nhận tuân thủ các luật lệ áp dụng và
mô tả ngắn gọn các luật lệ đó.
Theo định nghĩa trong CPSA, các sản phẩm tiêu dùng là những sản
phẩm hay những bộ phận của sản phẩm đó được sản xuất, phân phối hoặc có
công dụng để sử dụng lâu dài hoặc tạm thời trong và xung quanh hộ gia đình,
khu cư xá…Những sản phẩm không nằm trong phạm vi điều chỉnh của CPSA
bao gồm máy bay, động cơ và thiết bị máy bay, mỹ phẩm, dược phẩm, súng
đan thực phẩm, một số loại tàu thuyền, thiết bị xe động cơ, thuốc lá và các
loại thuốc trừ sâu.
Để trừng phạt việc không tuân thủ các quy định của CPSA hình thức
chủ yếu là từ chối không cho nhập hàng vào Hoa Kỳ. Ngoài ra, có thể tiến
hành các thủ tục bắt giữ, cảnh báo sản phẩm nếu sản phẩm đó được coi là có
thể gây nguy hiểm. Khi CPSC xác định một sản phẩm nguy hiểm, CPSC yêu
cầu nhà sản xuất thông báo cho công chúng biết khuyết tật hoặc sự không phù
hợp của sản phẩm và yêu cầu nhà sản xuất phải sửa chữa, thay thế sản phẩm
hoặc trả lại tiền cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nhà sản xuất vi phạm luật lệ và

người sản xuất sử dụng khi chăn nuôi.
HACCP được vận dụng kiểm tra trong thực phẩm đóng hộp, trong dược phẩm
hóa mỹ phẩm.
11
• Luật liên bang về các chất nguy hiểm
Luật liên bang về các chất nguy hiểm quy định về việc dán nhãn những
sản phẩm độc hại dùng trong gia đình có thể gây thương tích hoặc bệnh tật
đáng kể cho người sử dụng khi sử dụng chúng một cách bình thường. Các
chất đó bao gồm các chất độc, chất ăn mòn, chất dễ cháy hoặc nổ, chất gây
khó chịu cho người, hoặc chất gây nhậy cảm mạnh… Ngoài các thông tin
hướng dẫn cách bảo quản và sử dụng, nhãn hàng còn phải hướng dẫn các biện
pháp sơ cứu nếu xẩy ra tai nạn. Đồng thời cũng cấm những sản phẩm quá
nguy hiểm hoặc độc hại đến mức mà việc thực hiện đầy đủ những qui định về
nhãn hàng cũng không bảo vệ được thích đáng người tiêu dùng, đặc biệt là
các đồ dùng trẻ em.
Để xác minh việc tuân thủ các quy định của Luật liên bang về các chất
nguy hiểm, CPSC có thể điều tra các địa điểm sản xuất, chế biến, đóng gói,
kho phân phối hoặc chứa hàng nhập khẩu, phương tiện dùng để vận chuyển
hoặc cất giữ các chất nguy hiểm. Mỹ cấm tất cả các sản phẩm nhập khẩu
không tuân thủ các yêu cầu về nhãn hàng của Luật liên bang về các chất nguy
hiểm. Khi phát hiện sản phẩm vi phạm hải quan Mỹ yêu cầu dán lai nhãn đối
với các sản phẩm đó. Nếu sau khi dán lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu,
hàng sẽ phải tái xuất nếu không sẽ bị tiêu hủy.
1.2.1.2. Xuất xứ và thương hiệu hàng hóa
• Quy tắc xuất xứ
Xuất xứ của hàng hóa được nhập khẩu vào lãnh thổ hải quan của Mỹ có thể
tác động đến mức thuế suất áp dụng, quyền được hưởng lợi từ các chương
trình đặc biệt, khả năng được phép nhập khẩu, hạn ngạch thuế chống bán phá
giá, hoặc thuế chống bán hạ giá (do được chính phủ hỗ trợ), mua sắm chính
phủ và yêu cầu ký mã hiệu. Có hai loại quy tắc xuất xứ cơ bản: không ưu đãi

hóa.
Ngoại lệ khác các cấp loại hàng hóa cũng được miễn ghi ký mã hiệu cho biết
tên nước xuất xứ hàng hóa.
Yêu cầu ký mã hiệu đặc biệt, yêu cầu ký mã hiệu nước xuất xứ không
liên quan đến những yêu cầu ký mã hiệu hoặc nhãn hiệu của các cơ quan
chính phủ khác đối với những sản phẩm cụ thể. Ví dụ một số hàng hóa nhất
định phải theo yêu cầu ký mã hiệu xuất xứ đặc biệt như: Ống sắt thép và các
bộ phận gá thép ống, vòng đệm nắp hố, khung và nắp đậy và các bình khí nén
phải được ký mã hiệu theo một trong bốn phương pháp sau: đóng dấu bằng
khuôn, đúc chữ nổi, mai mòn hoặc chạm khắc.
Những trường hợp gian lận xuất xứ hàng hóa được quy đinh tại phần
42 luật thương hiệu hàng hóa năm 1946 (15.U.S.1124) quy định rằng một
hàng hóa của nước ngoài có tên hoặc ký mã hiệu được cố ý gán cho để làm
cho người ta tin rằng hàng hóa đó được sản xuất tại Mỹ hoặc bất cứ nước
hoặc địa điểm nào ở ngoài nước Mỹ nhưng thực tế lại không phải là nơi hàng
hóa đó được sản xuất ra, sẽ không được nhập khấu qua bất cứ trạm hải quan
nào của Mỹ. Trong nhiều trường hợp các từ “United States”, chữ “U.S.A”,
hoặc tên của bất cứ địa điểm hay thành phố nào của Mỹ xuất hiện trên hàng
hóa của nước ngoài, hoặc trên bao bì của hàng hóa đó, bị coi là cố ý làm cho
người ta tin rằng hàng hóa đó được sản xuất ở Mỹ, trừ khi tên của nước xuất
xứ được ghi ở ngay sát tên của địa điểm xuất xứ nội địa.
Đối với tất cả hàng hóa vi phạm quy định về xuất xứ khi được nhập
khẩu vào Mỹ đều bị biện pháp trừng phạt là chịu mức thuế là 10% tổng giá trị
(không kể các loại chi phí khác). Đồng thời nhà nhập khẩu vẫn phải thực hiện
những quy định có liên quan khác. Ví dụ hầu hết hàng hóa trên bao bì không
ghi rõ xuất xứ sẽ bị giữ tại hải quan cho tới khi nhà nhập khẩu thu xếp tái
14
xuất, tiêu hủy/maketing lại cho đúng quy định dưới sự giám sát của hải quan
Mỹ. Nếu có một phần hàng hóa đã được thông quan sẽ phải được thu hồi về
kho ngoại quan của Mỹ cho tới khi nhà nhập khẩu thu xếp tái xuất, tiêu

Ngày nay ở nhiều nước nhất là ở Bắc Mỹ và Châu Âu xây dựng SA
8000 dựa trên tuyên bố toàn cầu về nhân quyền, công ước nhân quyền trẻ em,
công ước về phân biệt dối xử đối với phụ nữ của Liên Hợp Quốc, 12 công
ước của tổ chức Lao Động Quốc Tế (ILO) là những nguyên tắc cơ bản đối với
quyền con người tại nơi làm việc của từng nước không kể đến trình độ phát
triển của quốc gia đó. Các quốc gia này là tiên đề cho tất cả các công ước
khác mà họ đưa ra để có sự tiến bộ cá nhân và điều kiện nơi làm việc.
Cụ thể một số điểm vận dụng SA 8000
- Không được sử dụng lao động trẻ em (vị thành niên)
- Không được sử dụng người lao động khi không đảm bảo điều kiện
sức khỏe cho người lao động
- Tôn trọng quyền tự do hiệp hội và quyền thỏa ước tập thể
- Phải cam kết không phân biệt đối xử với người lao động về các mặt
tuyển dụng, lương bổng, đào tạo, đề bạt, nghỉ việc, hưu trí.
- Không áp dụng các hình phạt thể xác, tinh thần, các tiêu chuẩn làm
việc của ngành.
- Đảm bảo hệ thống “vì người lao động trong các doanh nghiệp”.
- Đảm bảo an toàn lao động, đền bù cho người lao động khi xảy ra tai
nạn.
- Cải thiện mối quan hệ với tổ chức công đoàn
16
Doanh nghiệp được chứng chỉ SA 8000 có thể chưng bày chứng chỉ đó trong
xí nghiệp, nhà máy, ở catalogue, trên các biển quảng cáo và trên các trang
Web nhưng không được ghi trên sản phẩm.
1.2.1.4. Các quy định bảo vệ môi trường
EPA chịu trách nhiệm đảm bảo các bang phải kiểm tra độ an toàn của
sản phẩm đối với môi trường, ví dụ trong luật kiểm soát thuốc trừ sâu môi
trường và luật kiểm soát chất độc các loại thuốc trừ sâu dự định được phép sử
dụng ở Mỹ bao gồm thuốc trừ sâu nhập khẩu phải được đăng ký với với EPA.
Ngoài ra việc nhập khẩu thuốc trừ sâu phải được thông báo cho EPA.

container tên, địa chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu, mô tả chính
xác chủng loại gỗ.
Bảng 1.1. Những văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu
hàng hóa thuộc nhóm HTS44
Số văn bản Loại biện pháp áp dụng Cơ quan nhà nước điều
hành
15 USC 1263 Quy chế an toàn tiêu dùng APHIS PPQ, FWS, USCS
16 USC 1531 Cấm nhập khẩu thịt thú giữ APHIS PPQ, FWS, USCS
16 USC 3371 et seg. Cấm nhập khẩu động vật
quý mà nước khác cấm
APHIS PPQ, FWS, USCS
18 USC 42 et seg. Thủ tục khai báo hải quan APHIS PPQ, FWS, USCS
19 CFR 12. 10 et seg. Vệ sinh dịch tễ APHIS PPQ, FWS, USCS
7 CFR Part 351 CITES Cấm nhập khẩu động thực
vật quý hiếm
APHIS PPQ, FWS, USCS
(Nguồn: )
HTS 94 - Đồ nội thất: Bao gồm các loại ghế, đồ đạc dụng cụ trong bệnh viện;
các đồ đạc trong nhà, văn phòng, giường tủ, bàn ghế, đệm; đèn và các tám
ngăn xây dựng làm sẵn… Các đồ dùng này có thể làm hoàn toàn bằng kim
18
loại, gỗ, nhựa, hay làm khung có bọc da, vải hoặc các vật liệu khác.
Đối với danh mục hàng này, việc nhập khẩu phải:
1. Phù hợp với các tiêu chuẩn sản phẩm tiêu dùng của Uỷ ban an toàn tiêu
dùng (CPSC) về an toàn tiêu dùng.
2. Đối với đệm: phù hợp với các tiêu chuẩn Underwriter’s Laboratory
(UL), do CPSC quản lý.
3. Các đồ có thành phần là vải dệt phải ghi theo các quy định TFPLA về
xác định nguồn gốc vải.
Bảng 1.2. Những văn bản pháp luật điều tiết chế độ nhập khẩu hàng

toàn sản phẩm tiêu dùng.
Tù năm 2008 có thêm “Đạo luật về cải tiến an toàn sản phẩm tiêu
dùng” viết tắt là CPSIA đã được Quốc hội Mỹ thông qua và chính thức có
hiệu lực từ ngày 15/8/2008. Văn bản quy định những điều kiện liên quan đến
nhập khẩu một số mặt hàng chiếm thị phần xuất khẩu lớn của Việt Nam. Từ
ngày 15/8/2009, một số quy định mới trong Đạo luật về cải tiến an toàn sản
phẩm tiêu dùng sẽ tác động trực tiếp đến việc sản phẩm dệt may và đồ nội
thất của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ. Đây là một đạo luật rất phức tạp,
có tính bắt buộc chứng nhận tiêu chuẩn cao hơn so với luật cũ, nếu vi phạm
có thể dẫn đến các mức phạt dân sự và hình sự, đồng thời Chính phủ Mỹ có
thể ra lệnh tiêu hủy sản phẩm nếu vi phạm.
Việc kiểm định và cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn phải được thực hiện
bởi một cơ quan đánh giá độc lập do CPSC công nhận. Giấy chứng nhận này
phải kèm theo sản phẩm hay chuyến hàng xuất khẩu sản phẩm và phải có sẵn
để cho CPSC và Hải quan Mỹ kiểm tra khi có yêu cầu. Đối với sản phẩm đồ
gỗ nhập khẩu việc nhập vào Hoa Kỳ tương đối dễ, không cần xin giấy phép
nhập khẩu hay một một loại giấy tờ đặc biệt nào. Tuy nhiên, mặt hàng này
cũng có một số quy định khá chặt chẽ đối với các sản phẩm nội thất dành cho
trẻ em, đồ nội thất có thành phần dệt và đồ nội thất chiếu sáng.
Các loại đồ gỗ khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ cần đưa ra 2 loại chứng
nhận: Chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC – General Conformity
Certificate) và Kiểm nghiệm bắt buộc bởi tổ chức thứ ba (Third party testing).
20
Tất cả các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đều phải có giấy chứng nhận cho tất cả các
lô hàng nhập khẩu, theo đó:
• Đối với sản phẩm tiêu dùng -> cần GCC
• Đối với sản phẩm trẻ em -> cần cả GCC & Kiểm nghiệm từ tổ chức thứ
ba
1. Giấy chứng nhận hợp chuẩn tổng quát (GCC)
• Đây là một chứng nhận tự ban hành, hoặc là một tuyên bố đảm bảo sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status