LỜI MỞ ĐÀU
Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông  u tan rã, trật tự thế
giới thời kỳ chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có nhiều biến động lớn. Vấn
đề hoà bình hợp tác hữu nghị để phát triển kinh tế ngày càng trở nên đòi hỏi bức xúc
của mỗi quốc gia trên thế giới. Các quốc gia lớn nhỏ tham gia ngày càng tích cực vào
quá trình hợp tac song phương cũng như đa phương ở khắp các khu vực với nhiều
tầng nấc khác nhau. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam- Liên Bang Nga là một tong
những quan hệ đó.
Việt Nam đang triển khai chính sách mở cửa theo định hướng " Việt Nam muốn
là bạn với tất cả các nước trên cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát
triển" và đã thu được những thắng lợi quan trọng góp phàn nâng cao vị thế đất nước
trên toàn thế giới. Hiện Việt Nam đã quan hệ với 165 nước trên thế giới trong đó Liên
Bang Nga kế thừa Liên Xô cũ là một đối tác truyền thống quan ừọng.
Mặc dù Liên Xô XHCN sụp đổ, CNXH lâm vào thoái trào. Nước Nga kế thừa
Liên Xô cũ nhưng đi theo quỹ đạo TBCN, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất
quan hệ họp tác giữa hai nước Việt - Nga mà dánh dấu một bước ngoặt mới tong quan
hệ giữa hai nước. Tuy mối quan hệ giữa Việt Nam - Liên Bang Nga được xây dựng
trên cơ sở kế thừa của mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống Việt xô trước đây.
Nhưng việc đẩy mạnh mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước lên tàn cao mới được
coi là bộ phận quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của cả hai nước.
Nếu như mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô trước đây tài qua bao năm tháng chứng tỏ
sự thuỷ chung và sức sống bền vững thiêng liêng cao đẹp của nó thì nay quan hệ giữa
Việt Nam và Liên Bang Nga đang giữ tiền đề đó cho quan hệ hai nước bước sang
trang mới.
Nghiên cứu quan hệ Việt - Nga từ năm 1991 đến nay mới thấy được bước phát
triển tích cực trên các lĩnh vực qua các giai đoạn và ngày nay đang mở ra nhiều triển
vọng tốt đẹp. Tăng cường quan hệ với Liên Bang Nga giúp góp phàn rút ra những bài
học quý báu nhằm tiếp tục đôỉ mới chính sách đối ngoại của
Đảng và nhà nước ta. Do thời gian còn hạn chế, đề tài lại dài và phức tạp nên khó
1
Ảnh hưởng của an ninh kinh tế, lợi ích kinh tế làm cho quan hệ giữa các nước
ừở nên phức tạp, có lúc căng thẳng, quan hệ Mỹ - Nhật không thay đổi nhưng quan hệ
2
Mỹ - Tây Âu rất phức tạp, sự chạy đua về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự làm cho
những bất đồng ngày càng tăng trong các khối đồng minh.
Tình hình quốc tế trên đã tác động trực tiếp đến quan hệ Việt - Nga trên nhiều
tuyến. Nó đưa lại những nét mới, những cơ hội và những khó khăn vì Việt Nam - Liên
Bang Nga là những nước khủng hoảng sau chiến tranh lạnh.
Tình hình khu vực :
Đối với khu vực Đông Nam Á, sự tan rã của Liên Xô khiến cục diện quan hệ
quốc tế khu vực thay đổi, trong thời kỳ chiến tranh lạnh quan hệ giữa các nước Đông
Nam Á bị phân thành hai trận tuyến đối lập nhau (một bên theo CNXH, một bên theo
CNTB) tình trạng khu vực luôn bị đe doạ.
Sau chiến tranh lạnh, tình hình quốc tế đã tác động đến và làm thay đổi sâu sắc
các mối quan hệ trong khu vực. Đông Nam Á từng bước trở thành khu vực hoà bình,
ổn định ,hợp tác và phát triển. Vị thế của các nước Đông Nam Á tong đó có Việt Nam
không ngừng được tăng lên và là nơi hấp dẫn để các nước lớn muốn có vị trí và ảnh
hưởng lớn trong khu vực. Việc Liên Xô tan rã tạo khoảng trống quyền lực ở khu vực
này. Các nước lớn muốn mở rộng ảnh hưởng lợi ích kinh tế ở đây. Trong các nước đó
có thể kể đến Mỹ, Nhật Bản và các nước Tây Âu...
Các nước ở Đông Nam Á (Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia...) cũng đã
khẳng định mình đã chính thức là thành viên của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN). Vị thế của ASEAN không những được nâng cao trên trường quốc tế mà
còn là sự thu hút, sự quan tâm của các nước ngoài khu vực trong đó có Liên Bang
Nga. Mặt khác, khu vực này là ấn tượng trong đời sống quan hệ quốc tế được ghi nhận
và là động lực thúc đẩy quá trình hợp tác liên kết nội bộ và khu vực các nước bên
ngoài. Giữa 1997 nền kinh tế ở khu vực này lâm vào suy thoái nặng nề, nhiều vấn đề
về có lợi cho chủ nghĩa Tư Bản, lợi dụng điều đó Mỹ ra sức tấn công chống phá cách
mạng thế giới. Trong khi đó Liên Xô trở thành trụ cột cho xu hướng hoà bình ổn định
của các nước xã hội lại lâm vào khủng hoảng kinh tế, chính trị tràm trọng, ở Việt Nam
đại hội Đại biểu toàn quốc làn thứ VI được triển khai, có thể coi đại hội này là điều
khởi nguồn cho công cuộc đổi mới của Việt Nam. Điều đó được thể hiện ở nghị quyết
13 của Bộ chính trị khoá 6 (tháng 5 năm 1988) Nghị quyết Bộ chính trị chỉ ra rằng
quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta là “thêm bạn, bớt thù” vì Đảng ta cho rằng,
nhiệm vụ chủ yếu của ngoại giao tong thời kỳ này là ra sức phá thế bao vây, cấm vận
4
và cô lập nước ta, tranh thủ càng nhiều bạn càng tốt, giảm bớt kẻ thù càng nhiều càng
hay, tranh thủ sự ủng hộ của các nước anh em bầu bạn, dư luận quốc tế phân hoá và
làm thất bại âm mưu của địch, góp phàn đưa nước ta nhanh chóng thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế xã hội. Đảng ta đưa ra một số quan niệm nhằm tạo khả năng đẩy mạnh
hơn nữa quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng, các nước trên thế giới trong đó có
Liên Bang Nga. Đảng và nhà nước ta ra sức tranh thủ đường lối đổi mới nhằm đưa
cách mạng thoát khỏi khủng hoảng kinh tế chính trị, xã hội đưa đất nước từ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Tháng 6 - 1991 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt
Nam được tổ chức . Đại hội này đựơc đánh giá là một đại hội trí tuệ, dân chủ, đổi mới
kỷ cương và đoàn kết. Tiếp thu Đại hội VI, Đại hội Đại biểu toàn quốc làn thứ VII của
Đảng cộng sản Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ trư ong đối ngoại của mình là :
“Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trên cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà
bình độc lập phát trìểrC\ Tuy thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng nhưng Đảng ta
vẫn coi trọng mối đoàn kết hữu nghị hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè
truyền thống.
* Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc làn thứ VII của Đảng cộng sản
Việt Nam, Đảng ta đưa ra 4 phương châm như sau:
Nga. Trong chính sách đối ngoại của mình, Việt Nam vẫn coi trọng Nga là nhân tố, là
bạn hàng truyền thống. Hơn nữa quan hệ Việt - Nga có chiều hướng đi lên nên Đảng
và Nhà nước ta xác định một số định hướng chủ yếu trong việc giải quyết mối quan hệ
Việt - Nga hiện nay là:
- Tăng cường hợp tác hữu nghị nhiều mặt giữa Việt Nam và Liên Bang Nga.
Trên cơ sở của chính sách đối ngoại mở rộng góp phàn bảo vệ hoà bình an ninh ổn
định khu vực Đông Nam á, Châu á - Thái Bình Dương và thế giới.
- Liên Bang Nga là thị trường rộng lớn và quen thuộc với hàng hoá của Việt
Nam nên ta càn khai thác triệt để những điều kiện thuận lợi, những thế mạnh trong
việc buôn bán hai chiều và phát triển kinh tế.
- Trong quá trình hợp tác ta càn lựa chọn những nội dung kinh tế, văn hóa,
khoa học kỹ thuật nào có hiệu quả để hợp tác .
- Trên cơ sở kinh tế đầu tư của Nga tại Việt Nam thì Việt Nam cần có những
chính sách tạo điều kiện thuận lợi để Liên Bang Nga buôn bán với Việt Nam.
6
- Việt Nam cần triển khai kế hoạch để trả nợ trên tinh thần bình đẳng cùng
có lợi:
- Ngoài ra Việt Nam cần nâng cao vai trò ảnh hưởng về hoạt động tổ chức có
nhiệm vụ thực hiện đoàn kết tham gia hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam và Liên Bang
Nga.
3.
Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Liên Bang Nga
Sau chiến tranh lạnh mặc dầu là “quốc gia kế thừa Liên Xô” nhưng Liên Bang
Nga không phải là Liên Xô. Đặc điểm nổi bật của chính sách đối ngoại của Liên Bang
Nga là lấy việc bảo đảm lợi ích quốc gia làm mục tiêu bao trùm, là chìa khoá để hoạch
b. Giai đoạn 1994 đến nay
Trong giai đoạn này chính sách "cân bằng Đông - Tây" đã được điều chỉnh, chủ
trương nhượng bộ trong quan hệ với Mỹ và các nước Phương Tây của Liên Bang Nga
được thay thế bằng nguyên tắc đối ngoại “ưu tiên trước hểt cho lợi ích quỗc gia dân
tộc ” điều này đã được thể hiện đày đủ ở nguyên tắc đối ngoại trong chính sách đối
ngoại của Liên Bang Nga do Tổng thống B. Yelsin phê chuẩn tháng 1 năm 1994.
Để nâng cao vị thế trên trường quốc tế, mấy năm gần đây Nga đã tham gia vào
các hoạt động của diễn đàn an ninh khu vực ASEAN,ARF . Nga đẩy mạnh quan hệ
với các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam...
Việc Nga tăng cường sự hiện diện ở Đông Nam á mở rộng quan hệ với các
nước ASEAN tạo điều kiện phát triển quan hệ giữa Liên Bang Nga với các nước trong
khu vực Châu á- Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam á nói riêng là tiền đề quá
trình cho khu vực tăng cường thúc đẩy quan hệ Việt - Nga lên một bước cao hơn, có
hiệu quả hơn là bạn hàng truyền thống và quen thuộc với mặt hàng Việt Nam. Đây là
cơ hội thúc lợi để hai bên tăng cường mạnh mẽ hơn ừên mọi lĩnh vực kinh tế.
II - QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUAN HỆ VỆT NAM - LIÊN BANG
NGA
Quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga được thiết lập trên cơ sở kế thừa phần lớn
của quan hệ hữu nghị Việt - Xô truyền thống. Tuy nhiên từ khi Liên Xô và các nước
Đông Âu tan rã đến nay mối quan hệ giữa hai nước được ghi nhận bằng những chuyển
biến tích cực. Xuất phát từ lợi ích kinh tế- chính tn và nhu càu riêng của mỗi nước nên
tính chất quan hệ của hai nước thay đổi một cách căn bản. Nó được thể hiện trên nhiều
8
lĩnh vực sau :
1. Quan hệ chính trị - đối ngoại
Do tác động của tình hĩnh quốc tế sau chiến tmah lạnh và những vấn đề đặt ra
trong nội bộ của mỗi nước. Từ khi Liên Xô tan rã quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga
nước.Việc này đã phản ánh quyết tâm của mỗi nước nhằm tạo cơ sở nền tảng cho định
hướng phát triển hai nước tong tình hình mới.
Trên các diễn đàn an ninh Quốc tế và khu vực Đông Nam Á. Nga đánh giá rất
lớn vai trò của Việt Nam còn Việt Nam ủng hộ Nga tham gia vào công việc ở Đông
Nam Á.
Là thành viên của ARF và Liên Hiệp Quốc... Nga và Việt Nam đã tăng cường
hợp tác, phối hợp hoạt động ngoại giao cùng phát triển ở các tổ chức này.
Với vai trò án ngữ vị trí quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã góp
phần thúc đẩy quan hệ giữa ASEAN và Nga thuận lợi hơn trong việc Nga trở thành
thành viên đối thoại đày đủ của ASEAN.
c. Giaiế đoạn 1997 đến nay
Đặc điểm nổi bật ở giai đoạn này là quan hệ Việt - Nga bước sang giai đoạn
phát triển mới về chất, ừong đó chính trị ngoại giao giữ vị trí mở đường.
Tháng 2 năm 1997 chủ tịch Viện DUMA quốc gia Nga G.XeleJone sang thăm
hữu nghị chính thức Việt Nam nhằm xác lập quan hệ cơ quan lập pháp hai nước.
Tháng 3 năm 1997 làn đàu tiên trong thông điệp của mình Tổng thống Nga Boris
Yelsin đã nhấn mạnh tăng cường hợp tác quan hệ với Việt Nam
Đến tháng 1 năm 1997 Thủ tướng chính phủ Liên Bang Nga Checnomudin đã
đi thăm chính thức Việt Nam lần đàu tiên. Đây có thể coi là cột mốc quan ừọng mang
ý nghĩa đánh dấu bước chuyển biến về lập trường mỗi bên.
Trong khung cảnh mối quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga được cũng cố tích
cực thì sự kiện đánh dấu cho giai đoạn mới nỗ lực ở cấp cao nhất đưa mối quan hệ
phát triển của hai nước lên cao hơn đó là chuyến đi thăm hữu nghị chính thức đầu tiên
của Chủ tịch nước CHXHCH Việt Nam Trần Đức Lương sang Liên Bang Nga. Ở giai
đoạn này hai nước đều ưu tiên cho nhau đã phát triển tạo triển vọng cho sự hợp tác lâu
daì trong chính sách đối ngoại của mìnhễ Nga coi Việt Nam là một đối tác quan trọng
ở Đông Nam Á. Việt Nam xác định chính sách đối ngoại của Việt Nam là định hướng
lâu dài trong sự phát triển quan hệ với Nga.
10
Tình trạng đình đốn sản xuất hàng xuất, nhập khẩu làm ảnh hưởng đến việc làm
của hàng chục vạn người lao động trong các nghành sản xuất. Mặt khác tong nhập siêu
Việt Nam không được vay lãi mà còn phải trả nợ nên Việt Nam không còn có khả
năng để nhập khẩu như trước. Thêm vào đó trong quan hệ thanh toándo chưa có cơ
chế và thiếu ngoại tệ nên quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Liên Bang Nga chủ yếu
thông qua các hình thức hàng đổi hàngvà việc này đã gặp nhiều khó khăn. Một số đơn
vị kinh tế đã ký được một số hợp đồng hàng đổi hàng theo tính toán có lợi cho cả hai
11
bên nhưng lại không thực hiện được do vận chuyển hoặc do chính sách của Liên Bang
Nga thay đổi.
Trước tình hĩnh đó tháng 7 năm 1992 hai bên đã ký kết được biên bản kinh tế
thương mại
Hai bên đã ký kết các hợp đồng chuyển giao các loại hàng hoá đã xác định.
Ngoại thương Việt Nam - Nga năm1992 đạt 191 triệu USD trong đó xuất khẩu chiếm
749 triệu USD, nhập khẩu chiếm 112 triệu USD.
Lưu thông hàng hoá giữa hai nước theo các kênh khác nhau đến 1993 Việt
Nam trả nợ được 300 triệu USD.
Mặc dầu nỗ lực như vậy, nhưng trên thực tế quan hệ hai nước gặp rất nhiều khó
khăn. Việc giá cả không hợp lý dẫn đến hàng hóa Việt Nam ở thị trường Nga tăng gấp
5-6 lần so với giá các mặt hàng cùng loại,
về phía Nga cũng gặp nhiều trở ngại trong
vấn đề thanh toán song phương.
Những năm gần đây, nhất là từ những năm 1994 đến nay quan hệ kinh tế
- thương mại Việt Nam - Liên Bang Nga có một số khởi sắc hơn. Băng sự nổ lực của
hai bên, hai nước đã ký thoả thuận nhiều chương trình về nông sản, chè, cao su...
đầu tư vào Việt Nam. Trong lĩnh vực đầu tư, một gương mặt ta cần phải kể đến đó là
liên doanh dầu khí Việt - Xô Petro. Tổng số 7 triệu tấn dầu mà Việt Nam khai thác
năm 1995 và hơn 8,3 triệu tấn năm 1996 thì phần áp đảo thuộc về liên doanh này. Tính
đến tháng 11/1997 liên doanh đã khai thác được 50 triệu tấn dầu thô. Riêng tính giai
đoạn từ 1994 đến 1997 xí nghiệp liên doanh Việt - Xô Petro đã nộp ngân sách Nhà
nước Việt Nam 3,4 tỷ USD bằng từ doanh thu dầu thô.
Một điều đáng chú ý trong quan hệ kinh tế Việt-Nga là các công ty tư nhân của
người Việt Nam tại Nga đã góp phàn không nhỏ vào sự phát triển kinh tế ở Nga và
thúc đẩy sự hợp tác Việt Nga như công ty :Guarton, công ty
rCrixtan, công ty : Sovico...
Số lượng doanh vốn nghiệp của người việt có khoảng 300 triệu USD. Tuy vậy
quan hệ kinh tế - thương mại Việt - Nga vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng mỗi
bên . Hơn nữa quan hệ hai bên còn tồn tại những vấn đề hạn chế trước hết là bất hợp
lý, mất cân đối giữa đàu tư sản xuất và trao đổi thương mại. Những khó khăn trong
khâu thanh toán cũng hạn chế đáng kể quan hệ kinh tế giữa hai nước.
3Ề Quan hệ Văn hoá Giáo dục,Khoa học - Kỹ thuật ,Quân sự
a. về văn hoá, khoa học - kỹ thuật và giáo dục .
Trước khi bị giải thể, Liên Xô đã dành cho Việt Nam nhiều ưu tiên về sự giúp
13
đỡ trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục đào tạo và khoa học kỹ thuật rất lớn!. Nhiều
công trình hợp tác giữa hai nước đến nay vẫn còn có nhiều giá trị •Từ cuối thập kỷ 80,
sự khủng khoảng của Liên Xô làm giảm sút toàn diện các quan hệ hợp tác tong đó có
quan hệ hợp tác văn hoá giáo dục khoa học kỹ thuật Nga -Việt. Mặc dù cả Việt Nam
và Liên Bang Nga đều rât cố gắng để khắc phục tình trạng này .Mãi đến tháng
12/1993 hiệp định hợp tác khoa học xã hội Nga -Việt mới được ký kết, song quá trình
thực thi sau đó không đưa lại kết quả mong được. Xuất phát từ chủ trương khôi phục
lại cảng Cam Ranh. Tuy qua nhiều vòng dầm phán nhưng hai bên chưa đi đến thoả
thuận cuối cùng. Trong những năm gàn đây hai nước bắt đàu nối lại quan hệ quân sự
trên mức độ nhất định phù hợp với mỗi bên. Nga đã cung cấp cho Việt Nam một số
trang thiết bị, vũ khí thay thế trang thiết bị có nguồn gốc của Liên Xô cũ.
về đào tạo
quân sự, hai bên cũng đã tìioả được một số vấn đề quan trọng.
m. TRIỂN VỌNG CỦA QUAN HỆ VỆT NAM- LIÊN BANG NGA lế
Thuân loi
• •
+ Quan hệ giữa hai nước là quan hệ hữu nghị truyền thống được thử thách qua
nhiều thập kỷ và hiện vẫn có lợi ích, song trùng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Trên lĩnh vực kinh tể, Nga đã tham gia tích cực vào việc hội nhập vào nền kinh
tế Châu á- Thái Bình Dương bằng nhiều biện pháp cụ thể như Nga mở cửa vùng Viễn
Đông với nhiều chính sách ưu đãi mở rộng quan hệ buôn bán thu hút vốn đàu tư nước
ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước ASEAN... Đến nay tổng kim ngạch ngoại
thương của các nước Châu Á- Thái Bình Dương chiếm 40% tổng kim ngạch ngoại
thương của Nga. Riêng với các nước ASEAN năm 1995 tổng kim ngạch buôn bán của
các nước này với Nga là 4,5 tỷ USD Nga tiếp tục mở rộng thị trường buôn bán vũ khí
sang các nước Châu A-Thái Bình Dương để tăng thêm nguồn ngoại tệ.
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, Nga chú trọng cải thiện phát triển quan hệ
song phương và đa phương với các nước Châu Á- Thái Bình Dương với các nước
ASEAN, vị thế ASEAN ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế kể từ sau chiến
tranh lạnh. Chính vì thế Nga càng chú trọng nhiều đến quan hệ với các nước ASEAN
trong đó đặc biệt là Việt Nam .
về quân sự, Liên Bang Nga đã duy trì lợi ích an ninh quân sự ở khu vực Châu á
- Thái Binh Dương đồng thời xây dựng cơ chế an ninh mới ở khu vực này. Đây là dấu
10% vào năm 2004 so với 18 đến 20% hiện nay. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 104,2
tỷ USD vào năm 2010 so với 84,6 tỷ USD của năm 1999. Việt Nam thì có một số
thành công đáng kể trong công cuộc đổi mới. Trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 tăng
trưởng trung bình hàng năm của Việt Nam đã đạt mức 8,2% trong đó riêng năm 1995
là 9,5%, nhiều tổ chức Quốc tế dự báo mức tăng trưởng năm 1998 sẽ là 10%. Các tính
toán cũng cho thấy tính khả thi của chi tiêu GDP tăng bình quân 9 đến 10%/năm trong
kế hoạch 5 năm 1996-2000.
+ Việt Nam - Liên Bang Nga đang là thị trường quen thuộc của nhau. Đến nay
16
quan hệ kinh tế này đã gần 50 năm. Mặc dù trong hợp tác kinh tế ở thời kỳ này Việt
Nam không được Liên Bang Nga giúp đỡ và dành ưu tiên như thời kỳ Liên Xô. Nhưng
hai nước quen biết thị trường của nhau và là bạn hàng truyền thống nên đã tạo cho hai
nước có nhiều thuận lợi hơn trong việc buôn bán trên cơ sở tập quán truyền thống hai
nước sẽ giúp tạo điều kiện cho nhau kinh doanh. Việt Nam sẽ xuất khẩu sang Nga
những mặt hàng nông sản nhiệt đới, còn Nga sẽ xuất khẩu sang Việt Nam những mặt
hàng có ý nghĩa như xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn để đáp ứng nhu càu của hai
nước.Có thể nói, nếu như đối với Nga, Việt Namcó thể là chiếc cầu nối với Đông Nam
Á thì ngược lại các nước ở khu vực này coi Việt Nam là một kênh để qua đó để thâm
nhập vào thị trường Nga và các nước SNG.
+ Việt Nam có đội ngũ cán bộ đông đảo, các chuyên gia trên nhiều lĩnh vực
được đào tạo từ Liên Bang Nga và các nước thành viên SNG. Từ khi có quan hệ chính
thức, Liên Xô đã đào tạo giúp Việt Nam hơn 30 nghìn chuyên gia ở nhiều lĩnh vực
khác nhau, số cán bộ được đào tạo này có trình độ chuyên môn cao, thông thạo tiếng
Nga và phong tục tập quán nước Nga. Một số lượng lớn trở về nước hiện đang nắm
trong tay chức vụ chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể. số còn lại sau
khi tan rã đã ở lại hoạt động buôn bán và thành lập các công ty tư nhân của người Việt
Nam tại Nga. Các công ty này kinh doanh khá đa dạng và làm ăn có hiệu quả.
giai đoạn này
3Ệ Triển vọng của quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga
a. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao
Có thể nói quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga sắp tới sẽ đứng trước triển vọng
khả quan. Thông qua các cuộc tiếp xúc cấp cao và các cuộc trao đổi, quan hệ hợp tác
song phương giữa hai nước đã tạo không khí chính trị ổn định phát triển lâu dài.
Trên diễn đàn quốc tế hai bên đưa ra những quan điểm song trùng vể lợi ích.
Tuy mỗi bên có chế độ xã hội khác nhau, nhưng Việt Nam và Liên Bang Nga có mong
muốn là hoà bình, ổn định ở Châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên thế giới. Tại
Liên Hiệp Quốc và các diễn đàn quốc tế khác ARF, ASEAN... hai nước đều quan tâm
lẫn nhau. Đặc biệt là về Châu á - Thái Bình Dương nơi hai nước đang là thành viên
của (APEC). Nga là nước đối thoại của ASEAN Việt Nam là thành viên của ASEAN
18
nên hai nước đã tiến hành thực hiện phối hợp thường xuyên các cuộc tham khảo ý kiến
giữa hai bộ ngoại giao.
b. Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại Ngày 16/6/1994 nước CHXHCN
Việt Nam và Liên Bang Nga ký kết hiệp ước những nguyên tắc cơ bản và tuyên bố
chung giữa hai chính phủ về việc hợp tác kinh tế thương mại và khoa học. Đây là
những văn kiện quan trọng để ổn định và phát triển quan hệ giữa hai nước, đánh dấu
bước phát triển mới, mở ra những triển vọng khả quan thúc đẩy quan hệ truyền thống
và có quy mô lớn. Điều này đã thể hiện cụ thể nhân chuyến đi thăm chính thức Liên
Bang Nga của chủ tịch Tràn Đức Lương tháng 8 năm 1999. Hai nước đã mở rộng một
số hướng tăng khối lượng kim ngạch ngoại thương tăng cao hiệu quả hợp tác kinh tế ở
các mặt như sau :
+ Trong lĩnh vực hợp tác dầu khí được dựa trên các kết quả của xí nghiệp liên
doanh Việt - Xô Petro đạt được. Việt Xô Petro là đơn vị liên doanh giữa Việt Nam và
Liên Bang Nga khai thác dầu khí lớn nhất ở Việt Nam đang hoạt động ừên 3 mỏ Bạch
học kỹ thuật có trình độ cao. Nếu tính cả nhân viên hỗ trợ toàn bộ là 1,94 triệu người.
Nhưng do những khó khăn về kinh tế về ngân sách nên mấy năm gần đây việc chi
ngân sách có giảm: năm 1996 giảm 16 lần so với năm
1990, 1997 giảm 550 đơn vị và 1200 cơ quan Khoa học kỹ thuật được tư nhân hóa.
Thời kỳ 1991 - 1997 Khoa học công nghệ chỉ đạt xấp xỉ 0,5 tổng GDP
trong khi GDP của Nga giảm ít nhất là 1,5 đến 2 lần .
Trong điều kiện khó khăn về ngân sách và Khoa học - kỹ thuật, năm 1992 Liên
Bang Nga đã thành lập quỹ hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và quỹ hỗ trợ Khoa học kỹ thuật
xã hội. Mặt khác Liên Bang Nga đã thành lập được 56 trung tâm khoa học quốc gia
trong 13 lĩnh vực khoa học kỹ thuật và được sự hỗ trợ ngân sách để đảm bảo nghiên
cứu triển khai.
Ngoài ra Liên Bang Nga còn cũng cố cơ sở pháp lý của khoa học công nghệ
bằng ban hành những văn bản pháp quy như học thuyết khoa học và chính sách phát
triển khoa học Nga, mà lĩnh vực khoa học Nga hợp tác chuyển giao công nghệ để
phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, phù hợp với Việt Nam thì trong
thời gian tới dự định chuyển giao công nghệ theo đề tài có tính khả thi cao. Chúng ta
hy vọng rằng ứong thời gian tới sự ổn định kinh tế xã hội được phát huy trong thiên
niên kỷ mới .Họp tác Việt Nam- Liên Bang Nga sẽ chịu trên nền tảng phát triển khoa
học - kỹ thuật Việt Nam- Liên Xô trước đây, cho dù hiện nay hai nước đang còn gặp
20
nhiều khó khăn.
d. Trên lĩnh vực văn hoá, giáo dục
Triển vọng hợp tác trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục có ý nghĩa quan ừọng đối
với việc làm sâu sắc thêm tình hữu nghị hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước.
về giáo í/wc,quan hệ giữa Việt Nam - Liên Bang Nga tong thời gian qua đã đạt
đuợc những thành tựu đáng kể. số học sinh của Việt Nam và nước ngoài đến Nga đào
tạo với số lượng khá đông vì nước Nga có nền giáo dục tiên tiến. Hy vọng trong tương
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Văn kiện Đại hội Đại hiểu Toàn Quốc lần thứ VI, VII, VIII, Hà Nội 1986 1991. Nhà xuât bản Chính trị Quốc gia.
2.Liên bang Nga quan hệ đổi ngoại trong những năm cải thị trường, Nguyễn
Quang Thuấn. Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1999.
3.Quan hệ kinh tể Việt Nam Liên bang Nga hiện trang và triển vọng, Bùi Huy
Khoát. Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1995.
4.về mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Hữu Cát. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
1997.
5.Hợp tác Khoa học Công nghệ Việt Nam Liên Bang nga - Vũ Đình Nguyên,
Thạch càn. Tài liệu hội thảo 50 năm quan hệ Việt - Nga
6.Các giai đoạn phát triển Việt Nam - Liên bang Nga - Nguyễn Hoàng Giáp Tạp chí nghiên cứu Quốc tế tháng 4/1999.
7.Nga đang bước sang Châu á - Thải Bình Dương - Hồ Châu. Tạp chí nghiên
cứu Châu Âu tháng 4/1998.
8.Tác động phối cảnh Quốc tế Đông Nam ả đến quan hệ Việt Nam - Liên bang
Nga hiện nay - Nguyễn Hoàng Giáp. Tạp chí nghiên cứu Châu Âu tháng 4/1997
9.Quan hệ của Liên bang Nga với các nước ASEAN hiện nay
Nguyễn Hoàng Giáp Tạp chí nghiên cứu Quốc tế tháng 4/1997.
10.
Báo: Tuần bảo Quốc tể sổ 10/1999, sỗ 1/2000, sổ 36- 37/2000.
Đặc san của báo Quốc tế 50 năm hữu nghị hợp tác Việt Nam - ASEAN.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐÀU
I. Những nhân tổ tác động đến quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga từ 1991 đến
22