QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ TRONG NHỮNG NĂM 1954 - 1975 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ LÝ

QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ
TRONG NHỮNG NĂM 1954 - 1975
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được
sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn để khóa luận này được
hoàn chỉnh hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Tác giả

Đinh Thị Lý MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
3.2. Nhiệm vụ của đề tài 2
3.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1. Nguồn tài liệu 3
4.2. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Bố cục của khóa luận 3
Chương 1: KHÁI QUÁT QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ TRƯỚC
NĂM 1954 4
1.1. Khái quát quan hệ Việt Nam - Liên Xô trước năm 1950 4
1.2. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1950 - 1954 11
Chương 2: QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ TRONG NHỮNG NĂM
1954 - 1975 16
2.1. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1954 - 1960 16

chủ nghĩa trên bán đảo Đông Dương, đồng thời đó là một đóng góp tích cực vào
việc củng cố và tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa, tăng cường cuộc đấu
tranh vì hoà bình và dân chủ thế giới " [18;3]. Tư tưởng đó trong bất cứ hoàn
cảnh nào vẫn luôn tỏ ra đúng đắn, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
xâm lược của nhân dân ta. Nhân dân Việt Nam cho tới nay vẫn chưa quên sự
giúp đỡ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, đặc biệt trong những lúc
khó khăn nhất. Tình cảm của nhân dân Liên Xô về tinh thần cũng như về vật
chất thật sâu đậm, to lớn và mang ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh
giành độc lập thống nhất của Việt Nam.
Thực tế đã cho thấy, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, quan
hệ Việt Nam - Liên Xô luôn ấm nồng, tin cậy và vượt qua mọi thử thách của
thời gian cũng như biến động lịch sử.
Xuất phát từ thực tế trên, với mong muốn tìm hiểu mối quan hệ Việt Nam -
Liên Xô, đặc biệt là tình hữu nghị, hợp tác, sự tương trợ, giúp đỡ của nhân dân
Liên Xô đối với nhân dân Việt Nam trong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, tôi mạnh dạn chọn đề đài: "Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những
năm 1954 - 1975" làm khoá luận tốt nghiệp. Thông qua đề tài này, tôi hi vọng
rèn luyện cho mình những phương pháp, kỹ năng nghiên cứu một vấn đề lịch sử
cụ thể nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập sau này.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm kháng chiến chống
Mỹ đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá
nhân ở trong cũng như ngoài nước.
Năm 1980, cuốn "Việt Nam - Liên Xô 30 năm quan hệ (1950 - 1980)" do
Nhà xuất bản Ngoại giao Hà Nội và Nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva đã sưu tầm
những văn kiện quan trọng, tiêu biểu nhất mà hai nước đã kí kết trong 30 năm kể

- Tìm hiểu mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1954 - 1975
- Tìm hiểu những nhân tố chi phối đến quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong
giai đoạn này và tác dụng của của mối quan hệ đó.
3.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Liên Xô, đặc biệt đi sâu
nghiên cứu viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong những năm 1954 - 1975.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tham khảo các văn kiện của Đảng, các
bài viết của của các nhà lãnh đạo cách mạng và các cơ quan chuyên môn cùng
các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương
pháp logic.
Bên cạnh đó, tôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
phân tích để thấy được diễn biến, tác dụng và các nhân tố tác động đến quan
hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1954 - 1975.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, đề tài được bố
cục thành 3 chương:
Chương 1. Khái quát quan hệ Việt Nam - Liên Xô trước năm 1954
Chương 2. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1954 – 1975
Chương 3. Những nhân tố chi phối và tác dụng của quan hệ Việt Nam -
Liên Xô trong những năm 1954 - 1975

thực dân Pháp đã nhanh chóng tiếp thu con đường đó.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người đã đặt những viên gạch đầu tiên xây
dựng nền móng cho quan hệ Việt Nam - Liên Xô. Trên hành trình gian khổ đi
tìm đường cứu nước, khi nghe tin Cách mạng tháng Mười Nga thành công,
Người đã có cảm nhận về một đất nước mà nắm quyền là những người lao động:
"Khi mặt trời Nga mọc ở phương Đông
Cây cay đắng cũng ra những quả ngọt
Người cay đắng cũng phải chia phần hạnh phúc
Sao vàng bay theo liềm búa công nông”
(Chế Lan Viên) 5
Những ngày cuối năm 1919, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã có những hoạt
động đầu tiên ủng hộ cách mạng tháng Mười trong bối cảnh nước Nga đang bị
các thế lực thù địch tấn công dữ dội trên mọi lĩnh vực. Người đã tích cực hoạt
động trong Uỷ ban Quốc tế III của Đảng xã hội Pháp như đi quyên góp tiền
trong các phố Pari để giúp Cách mạng Nga vượt qua nạn đói. Người còn tham
gia phát truyền đơn của Đảng xã hội Pháp kêu gọi nhân dân Pháp lên án sự can
thiệp vũ trang của Chính phủ vào nước Nga, hoan nghênh cách mạng Nga.
Tháng 2/1920, Nguyễn Ái Quốc nói về chủ nghĩa Bônsêvich Châu Á tại Hội
nghị những người thanh niên cộng sản Quận 2 Pari. Tháng 3, Người nói về chủ
nghĩa xã hội với thanh niên Quận 3. Xuyên suốt cả cuộc đời mình, Người luôn
khẳng định: "Cách mạng tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân
tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử giải phóng các dân
tộc và cả loài người thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
trên toàn thế giới” [12;38].
Vào giữa năm 1920, Nuyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên
báo Nhân đạo. Người đã vô cùng xúc động và muốn nói cùng dân tộc: “ Hỡi

Cách mạng tháng Mười Nga thành công có ảnh hưởng rất to lớn đối với
cách mạng Việt Nam nói riêng và cách mạng thế giới nói chung. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã có những nhận xét sâu sắc, toàn diện về Cách mạng tháng Mười
Nga. Từ đó, Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi theo cách mạng vô sản
bằng cách vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của nước Nga Xô viết,
và thực tế lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn trong nhận xét và vận dụng
những bài học Cách mạng tháng Mười Nga vào cách mạng Việt Nam. Sau khi
đã tin và lựa chọn theo con đường của Lênin, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt
động, trau dồi kiến thức và truyền bá chủ nghĩa cộng sản và Cách mạng tháng
Mười về nước qua nhiều sách báo, đặc biệt là hai tác phẩm "Chế độ thực dân
Pháp” và "Đường Kách Mệnh”. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách
mạng trong nước đã dẫn đến yêu cầu cần phải có một tổ chức cách mạng tổ chức
và lãnh đạo quần chúng nhân dân. Nhận thức được yêu cầu đó, tháng 6/1925,
Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên gồm những
thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động lại
phân hoá thành các tổ chức cộng sản khác nhau: Ngày 17/6/1929, đại biểu các tổ
chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản
đảng. Tháng 8/1929, các cán bộ lãnh đạo tiên tiến trong Tổng bộ và Kì bộ Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kì cũng quyết định lập An Nam Cộng
sản đảng. Tháng 9/1929, một số đảng viên tiến tiến trong Đảng Tân Việt tuyên
bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
Trong vòng nửa năm, 3 tổ chức cộng sản đã liên tiếp ra đời và tranh giành
phạm vi ảnh hưởng ở trong nước làm ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào cách
mạng. Nhận được tin có ba tổ chức cộng sản cùng hoạt động ở Việt Nam, Quốc
tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các nhóm cộng sản thống nhất lại và cử đồng chí
Nguyễn Ái Quốc với tư cách là Uỷ viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục
phương Nam, phái viên của Quốc tế Cộng sản tổ chức cuộc họp để hợp nhất các
tổ chức thành một Đảng duy nhất. Ngày 6/1/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng,
Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được triệu tập. Sau khi
thảo luận, các đại biểu nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng

dài học tập và làm việc tại Liên Xô, tháng 11/1931, Lê Hồng Phong được cử
về nước tham gia công tác của Ban Chấp hành Trung ương Đảng với nhiệm
vụ định hướng cho phong trào hoạt động cách mạng trong nước. Lê Hồng
Phong đã tham gia soạn thảo chương trình hoạt động của Đảng và được Quốc tế
Cộng sản thông qua.
Trong thời gian này, do tình hình trong nước không thuận lợi nên Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc chưa thể về nước được. Năm 1933 Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
theo học Trường Lênin. Đây là trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ nước ngoài,
trường này có hai ban: ban dài hạn 3 năm và ban ngắn hạn 6 tháng. Lãnh tụ 8
Nguyễn Ái Quốc học ban ngắn hạn. Trong thời gian học ở trường, Người liên hệ
với nhóm cộng sản Việt Nam rất chặt chẽ. Học xong Trường Lênin, Người
chuyển hẳn sang Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời
làm việc ở Quốc tế Cộng sản. Tại đây, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng tranh
thủ dạy nhóm học sinh của Việt Nam về tổ chức và lịch sử Đảng nhằm bồi
dưỡng lòng trung kiên của các đồng chí. Vào mùa thu năm 1934, đồng chí Lê
Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai và một đồng chí người Nùng quê ở Cao
Bằng tiếp tục sang Liên Xô theo học lớp đặc biệt của Viện Nghiên cứu các
vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Năm 1936, tình hình thế giới có nhiều biến động to lớn, "Trục phát xít
Beclin - Tôkyô - Rôma” được thiết lập với chính sách đối nội, đối ngoại cực kì
phản động. Sự ra đời của trục phát xít đã đặt nhân loại trước nguy cơ một cuộc
chiến tranh thế giới. Đứng trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản đã họp lần thứ
VII vào tháng 7/1935 để xác định kẻ thù và nhiệm vụ trước mắt là chống chủ
nghĩa phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hoà bình, thành lập mặt trận
rộng rãi của nhân dân thế giới chống phát xít, chống chiến tranh. Sự chuyển
hướng chỉ đạo kịp thời của Quốc tế cộng sản mà đứng đầu là Đảng Cộng sản
Liên Xô có ý nghĩa hết sức to lớn. Các lực lượng dân chủ trên toàn thế giới đã

Hà Tiên là những địa phương giành chính quyền muộn nhất trong cả nước. Ngày
2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới: nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành lập. Cách mạng tháng Tám đã mở ra một
bước ngoặt trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chấm dứt ách thống trị của thực dân
Pháp hơn 80 năm, ách phát xít Nhật gần 5 năm, đánh sụp chế độ phong kiến,
chủ động góp phần vào sự hình thành, mở rộng và tăng cường hệ thống xã hội
chủ nghĩa thế giới.
Tuy nhiên, ngay trong năm 1945, các đế quốc Anh, Mỹ, Trung Hoa Dân
quốc lấy danh nghĩa quân "đồng minh" vào giải giáp quân đội Nhật Bản kéo vào
nước ta định "bóp chết" nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà còn trong trứng
nước. Với những hành động phá hoại, khiêu khích, gián điệp, lật đổ, bằng sức ép
tổng hợp, chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, chúng định diễn lại ở Việt Nam
cuộc can thiệp trắng trợn, bẩn thỉu như đối với Cách mạng tháng Mười và nước
Cộng hoà Xô viết Nga trước kia. Trong khi đó, chính quyền vừa thành lập còn
non trẻ, lực lượng vũ trang còn yếu. Chính sách cai trị của thực dân Pháp đã để
lại hậu quả nặng nề cho đất nước ta: ngân khố quốc gia hầu như trống rỗng, kho
bạc Nhà nước chỉ có hơn 1,2 triệu đồng, trên 90% dân số mù chữ, nạn đói cuối
năm 1944 đầu 1945 chưa được khắc phục, các cơ sở công nghiệp chưa phục hồi
sản xuất Trong báo cáo của Pigon gửi Cao uỷ Pháp D.Agenliêu ngày
28/10/1945 nhận xét: "Chính quyền cách mạng Việt Nam ra đời không đồng
minh, không tiền, hầu như không vũ khí” [2;47]. Hoàn cảnh nước ta bấy giờ có
nhiều điểm tương đồng với nước Nga Xô viết khi Cách mạng tháng Mười vừa
thành công. Nhân dân Xô viết vừa phải đối mặt với các thế lực thù địch đe dọa
tấn công nhằm "bóp chết” chính quyền non trẻ lại vừa phải tập trung xây dựng
lại đất nước do bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Lấy nước Nga Xô viết làm một
bài học quý báu, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo nhân dân ta tiến
hành xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền, tiến hành tổng tuyển cử trong cả
Xô muốn nhân cơ hội này củng cố sự có mặt ngoại giao của mình ở châu Á.
Thông qua cửa ngõ Băng Cốc, trong hai năm 1947 - 1948, đã diễn ra một loạt
các các cuộc tiếp xúc và hội đàm giữa các đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà với các đại diện của Liên Xô nhằm mở đường cho sự ủng hộ và công nhận
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Cuộc tiếp xúc đầu tiên với Liên Xô diễn ra ở Băng Cốc vào tháng 2/1947
do Trần Văn Giàu thực hiện. Tiếp đó, tại Hội nghị Liên Á họp ở Niu Đêli (Ấn 11
Độ) tháng 4/1947, hai bên tiếp tục thảo luận và quyết định sẽ bố trí một cuộc
họp kín giữa phái viên chính phủ Việt Nam và phái viên Chính phủ Xô viết ở
châu Âu vào mùa thu năm đó. Cuộc họp đã được tiến hành tại Thụy Sĩ vào tháng
9/1947. Tại cuộc gặp này, phái viên đặc biệt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà Phạm Ngọc Thạch đã chính thức đề nghị Chính phủ Liên Xô viện trợ
về tài chính và quân sự cho Việt Nam. Phạm Ngọc Thạch cũng chuyển cho đại
diện Liên Xô thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi J. Xtalin yêu cầu Liên Xô đưa
vấn đề xung đột Pháp - Việt ra trước Liên hợp quốc.
Với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đây là cuộc gặp có tính chất quan trọng,
có thể mở ra quan hệ có bước đột phá trong quan hệ Việt - Xô. Qua cuộc gặp
này, Liên Xô cũng dần bày tỏ một thái độ "ủng hộ phần nào” với cuộc chiến
tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, những đề nghị viện trợ của
Chính phủ Việt Nam đã không được chính phủ Liên Xô đáp ứng. Tại Đại hội
thanh niên Đông Nam Á họp ở Cancútta (Ấn Độ), tháng 2/1948, sự có mặt của
đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm Trần Văn Giàu, Mai Thế Châu, Trần
Văn Luân đã được hoan nghênh. Đại diện của tổ chức thanh niên thế giới và
Liên hiệp Công đoàn thế giới đã mời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cử đại diện
sang trụ sở của tổ chức ở Praha (Tiệp Khắc). Lần đầu tiên Liên Xô và các nước
dân chủ nhân dân biểu lộ thái độ ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau Đại
hội, hai đại diện của tổ chức công đoàn và phong trào thanh niên Việt Nam là

tuổi, nhân danh nhân dân Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và nhân danh cá nhân,
tôi kính chúc Thống chế hạnh phúc và trường thọ" [15;6]. Ngày 25/1/1950 sau
khi nhận được điện chúc mừng sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thống chế
Xtalin gửi điện cảm ơn: "Nhân lễ sinh nhật của tôi, được điện chúc mừng của
Chủ tịch, tôi kính gửi lời cảm tạ" [9;228].
Ngày 18/1/1950, Trung Quốc là quốc gia đầu tiên công nhận và thiết lập
quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Sau khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc chính thức được
thiết lập, ngày 23/1/1950 Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám đã gửi công
hàm cho Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô đề nghị hai nước kiến lập quan hệ ngoại
giao chính thức và trao đổi đại sứ.
Đáp lại công hàm của Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày
30/1/1950, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô A.Vưinxki đã gửi công hàm cho
Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám, khẳng định: “Sau khi xem xét lời đề
nghị của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhận thấy Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà đại diện cho đa số nhân dân Việt Nam, Chính phủ Liên
Xô quyết định kiến lập bang giao giữa Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô
Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trao đổi đại sứ” [9;229].
Việc Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là một sự kiện quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Liên Xô.
Qua sự kiện này, Chính phủ Liên Xô không chỉ tạo ra những tiền đề về pháp lí
quốc tế cho sự hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc Việt Nam - Liên Xô, kéo theo
sự công nhận và đặt quan hệ ngoại giao của các nước trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa với Chính phủ Hồ Chí Minh, mà còn góp phần quyết định vào việc cô lập
Chính phủ bù nhìn Bảo Đại, nâng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lên vị 13
thế mới trên trường quốc tế. Từ nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chính
thức được thừa nhận là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thành viên của hệ

chuyến đi là để giúp các nhà lãnh đạo hai nước, đặc biệt là Liên Xô hiểu thực trạng
tình hình, cũng như đường lối của nhà nước Việt Nam, từ đó tiến tới giúp đỡ và hợp
tác toàn diện với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong cuộc kháng chiến 14
chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Ngày 2/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời
châu Tự Do (Tuyên Quang) lên đường, đây là chuyến đi bí mật, quân Pháp vẫn đóng
dọc biên giới, tàn quân Tưởng vẫn đầy rẫy ở Hoa Nam, phái đoàn lúc đi bộ, lúc đi
ngựa. Sau khi làm việc ở Trung Quốc, ngày 3/2/1950, đoàn rời Bắc Kinh tiếp tục
cuộc hành trình bí mật sang Mátxcơva. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và làm việc
trực tiếp với các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Liên Xô lúc đó như
Xtalin, Khơrupsốp, Môlôtốp, Kazanôvích
Trong lịch sử quan hệ ngoại giao hai nước, chuyến đi thăm không chính
thức của Hồ Chí Minh có vai trò và ý nghĩa cực kì quan trọng. Đây là một cơ hội
thuận lợi để Hồ Chí Minh trực tiếp trình bày với các nhà lãnh đạo Liên Xô về
tình hình cách mạng Việt Nam, về những chủ trương, biện pháp mà Đảng Cộng
sản Đông Dương và Chính phủ Việt Nam đã tiến hành từ khi nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà được thành lập, nhằm mục đích giải toả những hiểu lầm và
ngộ nhận do thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ từ phía những nhà lãnh
đạo Liên Xô với đường lối chiến lược và sách lược của những người cộng sản
Việt Nam, từ đó tiến tới hoàn toàn ủng hộ và trực tiếp viện trợ vật chất cho cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Ngày 11/3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh
lên đường về nước kết thúc chuyến thăm bí mật Trung Quốc và Liên Xô.
Sau chuyến đi của Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo Liên Xô hiểu rõ hơn về
tình hình cách mạng Việt Nam. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô nhờ đó được thúc
đẩy lên một giai đoạn mới, toàn diện, vững chắc và hiệu quả hơn. Tháng 4/1950,
Đại sứ quán Việt Nam ở Mátxcơva được thành lập, Nguyễn Lương Bằng là Đại
sứ đặc mệnh toàn quyền đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Liên
bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết. Đặc biệt, sau chuyến thăm, các nhà

công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam buộc
thực dân Pháp phải chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Theo sáng kiến của Liên
Xô, Hội nghị Giơnevơ được tổ chức năm 1954, theo đó thực dân Pháp phải
chấm dứt chiến tranh và công nhận nền độc lập của 3 nước Đông Dương.
Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình
ở Việt Nam và Đông Dương được kí kết (21/7/1954), ngày 22/7/1954, Đoàn
Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã có điện gửi
Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hồ Chí
Minh nhân dịp kí Hiệp định Giơnevơ, trong điện có đoạn: “Nhân dân Liên Xô
và Chính phủ Liên Xô chào mừng nhân dân Việt Nam anh dũng và Chính phủ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhiệt liệt kính chúc nhân dân Việt Nam
mau chóng phục hưng đất nước, thu được nhiều thắng lợi trong công cuộc phát
triển kinh tế và văn hoá trong hoàn cảnh mới” [3;14].
Đáp lại tình cảm đó, ngày 10/8/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện
cảm ơn đến đồng chí C.Ê. Vôrôsilốp, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao
Liên Xô về lời chúc mừng khôi phục lại hoà bình ở Đông Dương.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam
kết thúc thắng lợi đã chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một
thế kỉ trên đất nước ta. Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách
mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để nhân dân ta giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc.
16
Chương 2
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN XÔ TRONG NHỮNG NĂM 1954 - 1975
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã giải phóng hoàn
toàn miền Bắc, mở đường đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó,

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ, nhờ lợi dụng vị trí đặc
biệt và buôn bán vũ khí mà trở thành đế quốc giàu có và hùng mạnh nhất thế 17
giới tư bản, đứng ra đóng vai trò sen đầm quốc tế để bảo vệ và cứu nguy cho hệ
thống tư bản chủ nghĩa đã bị suy yếu do sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của
hệ thống xã hội chủ nghĩa, trước những đòn công kích quyết liệt của phong trào
giải phóng dân tộc và làn sóng đấu tranh dồn dập của phong trào công nhân ở
các nước tư bản chủ nghĩa. Để thực hiện "vai trò” của mình, Mỹ triển khai chiến
lược toàn cầu bằng việc khởi xướng cuộc Chiến tranh lạnh trên phạm vi toàn thế
giới, dẫn đến tình trạng đối đầu căng thẳng với Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa. Sang những năm 50, cùng với tình hình ngày càng căng thẳng của Chiến
tranh lạnh, Đông Dương cũng dần trở thành địa bàn xung đột giữa hai siêu
cường Mỹ, Xô và là nơi diễn ra những cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai hệ thống
trên thế giới. Theo đó, vị trí của Việt Nam trong chiến lược của Mỹ và Liên Xô
cũng bắt đầu có sự thay đổi. Theo quan điểm của Mỹ lúc đó, Việt Nam là điểm
nóng bỏng nhất và là một trong những vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặn chủ
nghĩa cộng sản. Vì vậy, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết, Mỹ liền
thay thế thực dân Pháp dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam, thực
hiện âm mưu chia cắt nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn
cứ quân sự ở Đông Nam Á. Một lần nữa, nhân dân Việt Nam phải đứng lên cầm
súng để đấu tranh bảo vệ nền độc lập của mình. Cũng từ đây, quan hệ Việt Nam
- Liên Xô có bước phát triển mới. Cùng với sự thay đổi chiến lược ở Việt Nam
của Mỹ, các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng dần nhận thức được tầm quan trọng của
Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng trong việc mở rộng phạm vi của
mình ở châu Á. Do vậy, Liên Xô đã từ chỗ không can dự vào cuộc xung đột ở
Việt Nam đến thể hiện sự ủng hộ của mình đối với Việt Nam đặc biệt từ khi Mỹ
tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Trong giai đoạn đầu, Liên Xô đã hình thành quan hệ chính trị toàn diện với

nghiệp công trình công nghiệp và cơ quan thuộc các ngành cơ khí, than, điện lực
và công nghiệp nhẹ. Tiếp đó, Liên Xô cho Việt Nam vay 100 triệu rúp để thực
hiện kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế nói trên. Ngoài ra Liên Xô còn giúp Việt
Nam xây dựng 21 đài khí tượng thuỷ văn, 156 trạm thuỷ văn các cấp, cho Việt
Nam vay 350 triệu rúp để mua trang thiết bị máy móc và xây dựng một số nông
trường. Bên cạnh đó, khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các
nước xã hội chủ nghĩa viện trợ từ năm 1955 - 1960 đạt 49,585 tấn gồm: 4,105
tấn hàng hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật trong đó Liên Xô viện trợ
29,996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19,589 tấn.
Cũng trong chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, Hiệp nghị về vấn đề học tập của những công dân nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà tại các trường trung và cao cấp ở Liên Xô cũng được kí
kết vào ngày 27/8/1955, trong đó nêu rõ: “Theo yêu cầu của Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô
viết đồng ý nhận những người công dân Việt Nam làm học sinh, sinh viên bổ túc
(aspirants) tại các trường trung và cao cấp ở Liên Xô” [3;21]. Theo đó, trong
thời gian từ 1955 đến 1960, Liên Xô đã cử 1.547 chuyên gia các ngành sang
công tác tại Việt Nam và nhận 420 thực tập sinh và 1.267 sinh viên Việt Nam
sang học tập tại Liên Xô.
Mặc dù vậy, quan hệ giữa Liên Xô và Việt Nam trong giai đoạn này lại
không "đậm” bằng các nước khác. Biểu hiện là ngày 3/2/1950 Liên Xô mới đặt 19
quan hệ ngoại giao với Inđônêxia, nghĩa là sau Việt Nam 3 ngày, nhưng tháng
1/1953, Liên Xô đã cử đại sứ đi Giacácta; trong khi đó, mãi đến gần 2 năm sau,
tức ngày 4/11/1954, Liên Xô mới cử Lavátchi - Đại sứ đầu tiên của Liên Xô đến
Hà Nội. Tổng Bí thư Khơrútsốp và Bungarin đã đi thăm Ấn Độ, Miến Điện và
Ápganitxtan vào tháng 12/1955 và đã 2 lần đi thăm Trung Quốc vào tháng
8/1958 và tháng 10/1959 song chưa đi thăm Việt Nam. Đoàn đại biểu Xô viết tối

tàn phá trong những năm tháng chiến tranh. Sự giúp đỡ khẳng khái, vô tư đó đã 20
cổ vũ nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh kiên quyết thực hiện Hiệp định
Giơnevơ nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, độc lập và dân chủ
trong cả nước” [3;24]. Như vậy, mặc dù Liên Xô vẫn chỉ coi Việt Nam là vùng
"biên duyên chiến lược” so với những vùng trọng điểm khác, nhưng trong thời
gian này, Liên Xô đã dành những sự giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần cho
những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam Việt Nam. Những hiệp nghị được kí kết giữa hai
nước trong thời gian này nói lên những bước tiến quan trọng trong lịch sử quan
hệ hai nước.
2.2. Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong những năm 1960 - 1964
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 1960 đến năm 1964, quan hệ Việt - Xô
diễn ra trong bối cảnh mới. Đây là giai đoạn đường lối cách mạng Việt Nam có
sự thay đổi, Đảng ta chủ trương: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu
tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc,
đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực
hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực
góp phần tăng cường sức mạnh hệ thống xã hội chủ nghĩa. Do sự phát triển của
phong trào cách mạng Việt Nam cuối những năm 50, đế quốc Mỹ lo sợ chính
quyền Ngô Đình Diệm không tồn tại được lâu và chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng thế.
Hơn nữa, việc Liên Xô công khai ủng hộ Việt Nam đã khiến Mỹ càng quyết tâm
hơn trong việc biến miền Nam Việt Nam thành bàn đạp để tiêu diệt chủ nghĩa
cộng sản, nhằm ngăn chặn "Đông Nam Á hoá đỏ”. Do vậy, trong những năm
1960 - 1964, Mỹ tiến hành chiến lược ''chiến tranh đặc biệt”, không ngừng tăng
viện trợ về kinh tế, cố vấn quân sự, vũ khí hiện đại cho chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm, dùng chiến trường Việt Nam để thí nghiệm các loại vũ khí hiện đại
nhất. Hành động đó của Mỹ làm cho tính chất của cuộc chiến tranh Việt Nam trở

chuyên gia và cán bộ cần thiết, đồng thời cung cấp thuốc men, thuốc sát trùng
và thiết bị, phương tiện vận tải.

Điều 8: Chính phủ Liên Xô đảm bảo việc tổ chức Liên Xô sẽ giao cho các
tổ chức Việt Nam những tài liệu và thông tin kỹ thuật cần thiết cho việc tổ chức
lại sản xuất tại các xí nghiệp do Liên Xô giúp xây dựng theo Hiệp định này. Việc
trao các tài liệu đó sẽ thực hiện theo nguyên tắc không phải trả tiền ” [3;57].
Có thể nói rằng, nhờ có sự hỗ trợ đắc lực từ nguồn viện trợ to lớn và toàn
diện của Liên Xô, kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất của Việt Nam đã
căn bản hoàn thành, cải tạo và xây dựng được 90 công trình công nghiệp, đáng kể
là một số nhà máy thuỷ điện có tổng công suất là 71.300 kw, các công trình khai
khoáng như mỏ than Tĩnh Túc, mỏ Apatit Lào Cai, Nhà máy cơ khí Hà Nội, Nhà
máy supe phốt phát Lâm Thao, Trường Đại học Bách Khoa, Trường Đại học
Nông nghiệp I Hà Nội Trên cơ sở đó, miền Bắc đã chuẩn bị cả vật chất và tinh
thần trở thành hậu phương cách mạng của cả nước, sẵn sàng đối phó với hành
động leo thang chiến tranh và đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế
quốc Mỹ. Tổng kết lại quan hệ hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam trong những
năm đầu kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng
định rằng: "Trong 7 năm gần đây, với tư cách là Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status