1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CHỮ VIẾT TẮT
CÓ NỘI DUNG
BGH ................................................Ban Giám Hiệu
CB, GV, CNV .................................Cán bộ, Giáo Viên, Công nhân viên
CBQL ..............................................Cán bộ quản lý
CNH - HĐH ....................................Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
CT HSSV .........................................Công tác Học sinh - sinh viên
CSVC ...............................................Cơ sở vật chất
ĐH, CĐ ............................................Đại học, Cao Đẳng
GĐ ...................................................Giám đốc
GD&ĐT ...........................................Giáo dục và Đào tạo
GDCN ..............................................Giáo dục chuyên nghiệp
GV ...................................................Giáo viên
HSSV ...............................................Học sinh - sinh viên
KT – XH .........................................Kinh tế – Xã hội
MPC .................................................Trường Trung cấp Mai Linh
NN-TH .............................................Ngoại ngữ – Tin học
PPDH ...............................................Phương pháp dạy học
QL ....................................................Quản lý
QLHĐDH ........................................Quản lý hoạt động dạy học
THCS ...............................................Trung Học Cơ Sở
THPT ...............................................Trung Học Phổ Thông
TNCS-HCM ...................................Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
TPHCM ...........................................Thành phố Hồ Chí Minh
UBND ..............................................Uỷ Ban Nhân Dân
VLVH .............................................Vừa làm vừa học
Mai Linh ................................................................................................................ 56
Bảng 2.18. Đánh giá của 50 doanh nghiệp về chương trình đào tạo ................. 59
Bảng 2.19. Thực trạng việc sử dụng phương pháp giảng dạy của giáo viên .... 60
Bảng 2.20. Thực hiện chính sách của nhà trường đối với giáo viên .................. 63
3
Bảng 2.21. Khảo sát tình hình sử dụng trang thiết bị dạy học ........................... 64
Bảng 3.1. Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất ................................ 86
Bảng 3.2. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất ................................ 88
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội nhằm đưa nước ta trở thành một nước công
nghiệp vào năm 2020 vì vậy đòi hỏi giáo dục phải phát triển mạnh mẽ để góp phần
đẩy nhanh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá (CNH - HĐH). Việc chuyển sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và
công nghệ; xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; nhu cầu học tập ngày càng
tăng của nhân dân vừa là thời cơ, vừa tạo ra thách thức to lớn đối với giáo dục Việt
Nam.
Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 được Thủ tướng phê duyệt ngày
29 tháng 5 năm 2012, xác định mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng
được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu nghề và
trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển
trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ
Trường trung cấp chuyên nghiệp thuộc bộ, ngành tuy không còn nhiều, nhưng
cho thấy sự phân tán, chồng chéo quản lý.
Đối với trường trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc UBND tỉnh, thành phố, việc
quản lý nhà nước bị buông lỏng, do UBND tỉnh, thành phố không có bộ phận nghiệp
vụ để quản lý trường.
Quản lý chồng chéo giữa đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề đang là
vấn đề nổi cộm hiện nay.
Tuy nhiên, bậc trung cấp chuyên nghiệp, là bậc học quan trọng, đào tạo ra công
nhân cho xã hội, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu so với mặt bằng chung của
khu vực, chứ chưa nói đến thế giới. Nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, là lực lượng có tay nghề, trong đó giáo dục trung cấp
chuyên nghiệp cung cấp một lượng khá lớn nhân lực cho xã hội.
Bên cạnh đó, có nhiều cơ hội cho đào tạo trung cấp chuyên nghiệp như:
6
Kinh tế phát triển, nhu cầu học tập tăng cao, tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục
nghề nghiệp thu hút người học, mở rộng quy mô.
Hội nhập tạo cơ hội việc làm và sức cạnh tranh mới như: nhập khẩu các chương
trình tiên tiến ở nước ngoài, nâng cao hiệu quả.
Tính tích cực của thị trường cạnh tranh như: chất lượng, học phí, thù lao giáo
viên..
Đa số dân VN trong độ tuổi lý tưởng để đào tạo trở thành lao động có tay nghề.
Chất lượng THPT có cải tiến góp điều kiện nâng cao chất lượng đầu vào cho
trung cấp chuyên nghiệp .
Khoa học công nghệ phát triển góp phần đổi mới công tác quản lý , phương
pháp dạy học…
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý nâng
cao chất lượng đào tạo ở Trường Trung cấp Mai Linh thành phố Hồ Chí Minh”
Phương pháp khái quát hoá các nhận định độc lập.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ
sở thực tiễn của đề tài, gồm có các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp điều tra
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng bởi các công thức toán học như:
Trung bình cộng, Phương sai, Độ lệch chuẩn, Hệ số biến thiên…
8. Những đóng góp mới của luận văn
Với những nghiên cứu thông qua luận văn này, chúng tôi hy vọng đóng góp một
phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo ở trường Trung Cấp
Mai Linh đó là :
Hệ thống hóa lý luận về vấn đề quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ở trường
trung cấp chuyên nghiệp.
8
Về mặt thực tiễn, làm rõ thực trạng về quản lý chất lượng đào tạo ở trường
Trung Cấp Mai Linh, đồng thời đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng
đào tạo có cơ sở khoa học và có tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội tại Tp.HCM nói riêng và cả
nước nói chung.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến
đỉnh cao, thì các nền giáo dục phương Tây lại một lần nữa đề ra những yêu cầu mới
cho giáo dục. "Nền giáo dục mới", "nhà trường mới", "Giáo dục thực nghiệm" là
những thuật ngữ được nêu ra trong thời gian này.
Nếu giữa thế kỉ XX trở về trước, sự phát triển giáo dục gần như độc quyền của các
nước tư bản đế quốc, tỷ lệ học sinh, sinh viên chiếm trên 70% học sinh, sinh viên thế
giới, thì từ những năm 50 của thế kỷ này, số người đi học trên thế giới tăng hơn trước
nhiều, chiếm khoảng 20% dân số thế giới, mà 3/4 số học sinh - sinh viên thuộc về các
nước đang phát triển.
10
- Ở Thái Lan, vào cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, đã tiến hành một cuộc cải
cách giáo dục triệt để, ở các cấp học về nội dung chương trình và tổ chức theo đạo luật
giáo dục quốc gia tháng 8-1999.
- Ở Trung Quốc, việc cải cách giáo dục được tiến hành ở các cấp, song đặc biệt
chú ý đến giáo dục đại học theo hướng: điều chỉnh cơ cấu các trường đại học và cao
đẳng, cải cách chế độ thi cử và mở rộng quy mô tuyển sinh đại học, như mở rộng giới
hạn tuổi thí sinh, tăng số môn thi vào đại học.
- Ở Hàn Quốc, chú trọng mục tiêu giáo dục, cải cách giáo dục nhằm giảm nhẹ cho
học sinh việc học quá tải và không phải qua các kỳ thi, xây dựng “Cộng đồng nhà
trường tự chủ”, tăng ngân sách giáo dục .
- Ở Liên bang Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, chế độ chính trị - xã hội Nga cơ bản
thay đổi, kéo theo sự thay đổi về giáo dục. Luật giáo dục của Liên bang Nga bảo đảm
tính nhân văn trong giáo dục, dành sự ưu tiên cho các giá trị chung của con người, sự
phát triển tự do của cá nhân, bồi dưỡng tinh thần công dân, lòng yêu nước, giữ gìn
tính chất truyền thống của giáo dục, song vẫn bảo đảm sự tự do và đa nguyên trong
giáo dục, phát triển dân chủ và củng cố tinh thần dân tộc.
- Ở Hoa Kỳ, cải cách và chiến lược giáo dục khi bước vào thế kỷ XXI là cố gắng
nước .
- Vào năm 1972, Edgar Farue (Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Pháp thời kỳ
1968-1969) trong báo cáo với nhan đề “Học để tồn tại: thế giới giáo dục hôm nay và
ngày mai” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, với các khái niệm quan trọng là
“Học suốt đời” và “Tính phù hợp”. Với việc đặt giáo dục cho đối tượng người lớn tuổi
trong khuôn khổ của giáo dục suốt đời, khái niệm “xã hội học tập” được nhiều nhà
giáo dục lớn trên thế giới đưa ra bàn luận và kết quả tất yếu là quan niệm về giáo dục
đã được mở rộng hơn. Giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên, giáo dục không
chính quy phải được coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với nhà trường chính quy
cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi người.
12
- Một công trình được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục thế kỷ
XXI là báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, dưới sự chủ tọa của
Jacques Delors, nguyên Chủ tịch ủy ban châu Âu (EC) nhiệm kỳ 1985-1995 và được
UNESCO công bố tháng 4 năm 1996, với tên gọi “học tập, một kho báu tiềm ẩn”.
Thông điệp: “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” là nhan đề báo cáo của Hội đồng Giáo
dục thuộc UNESCO nói về “Giáo dục thế kỷ XXI” đề ra từ năm 1997. Báo cáo này đã
khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá
nhân. Nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với
những thách thức của thế kỷ XXI.
Báo cáo đề xuất đến Bốn trụ cột của giáo dục mà việc học là hạt nhân với sự xác
định: “Giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản mà trong một
cuộc đời mỗi con người, chúng sẽ là những trụ cột của kiến thức:
- Học để biết là nắm những công cụ, để hiểu.
- Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác động vào môi
trường sống của mình.
- Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những người khác trong mọi
Việt nam” đã khẳng định tính chất đặc thù của thị trường giáo dục và các sản phẩm,
dịch vụ cung ứng cho giáo dục .
Đặng Ứng Vận (2007 ) trong “ Phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị
trường” đã có những đóng góp quan trọng trong xây dựng cơ sở lý luận phát triển
giáo dục đại học.
Trần Khánh Đức (1998) với “Sự phát triển caa chính sách giáo dục Việt nam
trong quá trình chuyển đổi” đã phân tích mối quan hệ và tác động qua lại giữa giáo
dục và đường lối chính trị, phát triển kinh tế của đất nước. Cũng tác giả này (2010),
trong công trình nghiên cứu về “ Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và phát triển nguồn
nhân lực” và “ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” đã nêu rõ
những đặc trưng và xu hướng phát triển của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trong xã
hội hiện đại, phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa giáo dục và phát triển nguồn nhân
lực, và trên cơ sở đó, đề xuất nhiều kiến nghị, và giải pháp về giáo dục, phát triển
nhân lực, quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực.
14
Giáo sư Hoàng Tụy trong bản Kiến nghị nổi tiếng tại Hội thảo về chấn hưng, cải
cách và hiện đại hoá giáo dục do ông chủ trì trong năm 2004, cho rằng giáo dục của ta
đã tụt hậu ở mức không bình thường và trong thời gian quá dài, do đó, muốn khắc
phục nhanh sự lạc hậu, giáo dục phải được cải cách, xây dựng lại từ gốc, tức là từ
nhận thức, quan niệm, tư duy cơ bản về mục tiêu, phương hướng, nội dung, phương
pháp, tổ chức, quản lý. Giáo sư cho rằng có 4 vấn đề lớn của giáo dục Việt Nam cần
cấp bách giải quyết theo định hướng hội nhập tích cực vào trào lưu chung của thế giới
văn minh.
a) Cải thiện cơ bản chính sách đối với người thầy, giải tỏa nghịch lý lương, để nhà
giáo ở mọi cấp an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với trách nhiệm cao cả của
mình.
b) Cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục phổ thông và dạy nghề.
dục (nghĩa rộng) nhằm chuyển giao kinh nghiệm hoạt động từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Quá trình đào tạo có thể diễn ra trong nhà trường hoặc ngoài cơ sở sản xuất kinh
doanh theo một ngành cụ thể, nhằm giúp cho người học đạt được một trình độ nhất
định trong lao động nghề nghiệp.
1.2.1.2.
Chất lượng và Chất lượng Đào tạo
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng và khó định nghĩa, thậm chí khó nắm
bắt. Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) nhằm tổng kết
những quan niệm chung của các nhà giáo dục, chất lượng được định nghĩa như tập
hợp các thuộc tính khác nhau:
1) Chất lượng là sự xuất sắc (quality as excellence)
2) Chất lượng là sự hoàn hảo (quality as perfection)
3) Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (quality as fitness for purpose)
4) Chất lượng là sự đáng giá với đồng tiền [bỏ ra] (quality as value for money)
5) Chất lượng là sự chuyển đổi về chất (quality as transformation)
Các nhà giáo dục VN cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau, nhưng các định
nghĩa này thường trùng với các định nghĩa của nước ngoài. Có nhiều quan niệm khác
nhau về chất lượng. Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác
nhau cũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng. Như vậy, chất lượng
được xem như là đích tới luôn thay đổi và luôn có tính lịch sử cụ thể. Vì vậy xin nêu
một số khái niệm tiêu biểu về chất lượng như sau:
16
Theo từ điển Tiếng Việt: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc
tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, có tính ổn định tương đối của sự vật, phân
biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật”.
khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường…và tuỳ cách tiếp cận, có các
tiêu chuẩn khác nhau, như là:
Đối với nhà quản lý, trước hết, họ nhìn vào tỷ lệ tốt nghiệp, số người bỏ học, thời
gian, chương trình đào tạo, mức độ hài lòng của doanh nghiệp.
Đối với nhà tuyển dụng, khi nói về chất lượng đào tạo là nói đến kiến thức, kỹ
năng và thái độ của các sản phẩm đào tạo, có khả năng thích ứng với công việc hay
không ?.
Đối với nhà giáo, thì chất lượng đào tạo là sự chuyển giao kiến thức tốt, môi
trường học tập tốt, và quan hệ giữa giảng dạy và nghiên cứu tốt.
Đối với HS-SV thì chất lượng đào tạo được thể hiện ở việc đóng góp vào sự phát
triển cá nhân, và việc chuẩn bị cho một vị trí xã hội.
Định nghĩa chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng luôn được thay
đổi theo thời gian. Hiện nay, khái niệm về chất lượng đào tạo còn nhiều điểm khác
nhau, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm: chất lượng tuyệt đối
và chất lượng tương đối.
Ở mỗi cơ sở đào tạo, luôn có các yêu cầu do các chủ sở hữu quy định, điều này chi
phối mọi hoạt động của nhà trường. Từ nhiệm vụ được ủy thác này, nhà trường xác
định các mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội
để đạt được “chất lượng bên ngoài”, và các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng
vào nhằm đạt mục tiêu đào tạo đó, đạt chất lượng bên trong.
Do đó, hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo:
Theo cách tiếp cận quản lý chất lượng thì: chất lượng đào tạo được coi là sự
phù hợp và đáp ứng yêu cầu, chất lượng đào tạo có hai phần: phần cứng gồm kiến
thức, kỹ năng, thái độ người học tiếp thu trong quá trình đào tạo ; phần mềm là năng
18
lực sáng tạo và thích ứng, chất lượng đào tạo phụ thuộc vào ba yếu tố: hoạch định
(thiết kế và xây dựng mục tiêu); tổ chức đào tạo; sử dụng. Miền chất lượng là vùng
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên.
- Động cơ, năng lực học tập của người học
- Cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và môi trường giáo dục
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của các cơ sở đào tạo và là mục
tiêu mà tất cả các nhà trường cần phải hướng tới.
Tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau nhưng có thể khái quát
chất lượng đào tạo như sau: “Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu đề ra
qua sự đánh giá của người học, người dạy, người quản lý và người sử dụng sản
phẩm đào tạo”.
1.2.2.
Quản lý và Quản lý nâng cao Chất lượng đào tạo
1.2.2.1.
Quản lý
Nhà triết học cổ đại Xôcrat (460-399 T.C.N) đã chỉ ra rằng trong hoạt động
quản lý, nếu biết sử dụng con người thì sẽ thành công, trái lại nếu không làm được
điều đó sẽ sớm sai lầm và thất bại.
Theo F. Taylor (1856 – 1915) là người đầu tiên biến các tư tưởng quản lý thành
các nguyên tắc và kỹ thuật lao động cụ thể cho rằng “Quản lý là biết được chính xác
điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc
một cách tốt nhất, rẻ nhất”.
Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và
phối hợp hoạt động của họ, động viên khuyến khích họ trong quá trình lao động. Hoạt
động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp
tác lao động nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy,
phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý, … và phải có người đứng đầu như Các-Mác
đã nói.
Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của
một chức năng nào trong chuỗi các chức năng đều ảnh hưởng xấu tới kết quả quản lý.
Các chức năng tạo thành một chu trình quản lý của một hệ thống.
21
Từ định nghĩa và những lý luận trên chúng ta có thể rút ra một số điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng
quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật
khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại.
1.2.2.2. Quản lý đào tạo
Xét về mặt bản chất, quản lý đào tạo cũng phải đáp ứng những nội dung, yêu cầu
của quản lý nói chung, bên cạnh đó, còn phải đáp ứng những yêu cầu riêng trong lĩnh
vực đào tạo. Theo đó, quản lý đào tạo là một quá trình có mục đích, có kế hoạch,
được tổ chức và quản lý để đảm bảo cho quá trình đào tạo vận hành đúng mục tiêu
đào tạo đã định. Quản lý hoạt động đào tạo nghĩa là thông qua các chức năng quản lý
mà tác động vào các thành tố của quá trình đào tạo.
Như vậy, quản lý đào tạo là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của
chủ thể quản lý ở các cấp quản lý khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm
đảm bảo sự vận hành ổn định của các trường học và cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo
dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục .
Chức năng của quản lý đào tạo
Sau đây chúng ta sẽ xem xét lần lượt các chức năng trong quản lý đào tạo.
1) Chức năng kế hoạch
Kế hoạch là một quá trình gồm các bước: dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng kế
hoạch thực hiện mục tiêu.
chất lượng, nội dung, về tổ chức, về phương pháp các hoạt động đào tạo. Đó là một hệ
thống thao tác quan sát và so sánh, đánh giá xem lao động sư phạm thực tế có phù hợp
với kế hoạch, tính chất, qui tắc đã dự kiến trước hay không?. Đó là sự vạch rõ kết quả
tác động của chủ thể đến khách thể, vạch rõ những lệch lạc đã phạm phải so với các
23
yêu cầu sư phạm và nguyên tắc tổ chức.
Kiểm tra trong hoạt động đào tạo có các chức năng sau:
* Chức năng thông tin:
- Thông tin xuôi: sự truyền đạt các chuẩn mực, phổ biến các sáng kiến, kinh
nghiệm của chủ thể quản lý, của đoàn kiểm tra, cho đối tượng quản lý, đối tượng kiểm
tra. Thông tin xuôi có ý nghĩa hướng dẫn hoạt động cho đối tượng quản lý nên cần
truyền đạt trước khi kiểm tra.
- Thông tin phản hồi (ngược) là những tin tức phản hồi về thực trạng của đối
tượng quản lý, môi trường hoạt động đến cơ quan quản lý. Đây là chức năng thông tin
quan trọng nhất của kiểm tra đòi hỏi phải chính xác, kịp thời, chức năng này được
thực hiện qua lãnh đạo và trách nhiệm của lực lượng kiểm tra đối với đối tượng kiểm
tra.
* Chức năng đánh giá:
Đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đã đo lường được qua sự
theo dõi thường xuyên, qua các cuộc kiểm tra và kết thúc bằng cách đối chiếu so sánh
với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trong mục tiêu quản lý.
Đánh giá là một khoa học và là nghệ thuật quản lý. Đánh giá trong giáo dục là
hoạt động mang tính pháp chế, được qui định trong các văn bản pháp qui của nhà
nước như Luật Giáo dục, điều lệ nhà trường, các qui chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
1.2.3.
Giải pháp và giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo
cho người học để đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra.
Về phương diện quản lý thì giải pháp được các chủ thể đề ra có tính bắt buộc đối
với đối tượng quản lý, đồng thời giải pháp đó luôn được chủ động thi hành. Từ đó đề
xuất các giải pháp quản lý thực chất là đưa ra các cách thức tổ chức, điều khiển có
hiệu quả hoạt động của một nhóm (hệ thống, quá trình) nào đó. Tuy nhiên, các tổ
chức, điều khiển này phải dựa trên bản chất, chức năng và yêu cầu hoạt động quản lý,
Trong lĩnh vực đào tạo, giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo là cách thức tác
động một cách có hệ thống, định hướng và có chủ đích đến sự phát triển toàn diện của
25
người học nhằm làm cho họ có được những phẩm chất và năng lực theo mục tiêu đề
ra.
Sản phẩm đào tạo được xem là chất lượng cao khi nó đáp ứng tốt mục tiêu đào tạo
mà xã hội đặt ra với mỗi ngành học. Yêu cầu của đất nước trong giai đoạn phát triển
ngày càng cao, do đó chất lượng đào tạo ở giai đoạn trước không còn phù hợp với giai
đoạn sau. Vì vậy, chất lượng đào tạo phải không ngừng được nâng cao nhằm thu được
hiệu quả cao nhất.
Nâng cao chất lượng đào tạo là cải tiến liên tục ở mọi khâu, mọi công đoạn, mọi
thời gian đào tạo có liên quan tới người dạy, người học, người quản lý, người phục vụ.
Có thể nói cách khác, nâng cao chất lượng đào tạo chính là cải tiến hệ thống tổ hợp
các biện pháp để tăng hiệu quả, hiệu suất của mọi khâu trong quá trình đào tạo nhằm
đạt kết quả đào tạo cao nhất, có lợi cho người học và cho xã hội.
Vậy quản lý để nâng cao chất lượng đào tạo là sự tác động và điều chỉnh bằng một
hệ thống các biện pháp, phương pháp và các công cụ của chủ thể quản lý tới các đối
tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
để tạo ra những biến đổi về chất của người học về phẩm chất, nhân cách và giá trị sức
lao động, hay năng lực làm việc của người tốt nghiệp, đạt được mục tiêu đặt ra trong
công tác đào tạo .