LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và quý Thầy Cô Phòng Đào tạo
sau đại học, Khoa Giáo dục (Trường Đại học Vinh), Phòng Tổ chức – Cán bộ
(Trường Đại học Sài Gòn) đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Văn Tứ, người thầy
đã dành nhiều thời gian hướng dẫn khoa học, chỉ bảo, giúp đỡ để tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi cũng chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí
Minh, Ban Giám hiệu và quý thầy cô giáo các trường tiểu học trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh cũng như các tổ chức đoàn thể xã hội, các bậc phụ huynh đã
giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin cảm tạ Sư Ông Thích Như Niệm đã động viên, cổ vũ bản thân học tập,
nghiên cứu để nâng cao trình độ, đặng phụng sự cuộc sống hòa bình, an lạc!
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do bản thân còn những hạn chế
nhất định trong bước đầu nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản
lý để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2013
Tác giả
Man Thanh Hiền
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.
2.
giới
1.1.2. Giáo dục trẻ khuyết tật và nghiên cứu về giáo dục TKT Ở Việt
Nam
6
6
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.2.4.
Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về quản lý
Khái niệm về quản lý giáo dục
Trẻ khuyết tật
Giáo dục hòa nhập TKT
1.2.5. Giải pháp và giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập TKT ở bậc
8
11
11
14
19
21
27
Thực trạng công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc
tiểu học TP. Hồ Chí Minh
2.2.1. Thực trạng số lượng và mạng lưới các cơ sở giáo dục hòa nhập
trẻ khuyệt tật ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay
2.2.2. Thực trạng tổ chức bộ máy chỉ đạo và đội ngũ cán bộ, giáo viên
tham gia giáo dục hòa nhập
2.2.3. Thực trạng việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình,
phương pháp, trang thiết bị, hình thức tổ chức giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
2.2.4. Kết quả giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học
2.3.
Thực trạng công tác quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết
tật ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh
2.3.1. Thực trạng quản lý việc quán triệt chủ trương, chính sách của
chính quyền địa phương và ngành giáo dục - đào tạo về GDHN
TKT bậc tiểu học
2.3.2. Thực trạng việc tổ chức bộ máy quản lý GDHN TKT ở bậc
3
28
30
31
34
35
37
40
40
40
41
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA
NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở BẬC TIỂU HỌC TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1.
Các nguyên tắc đề xuất giải pháp
3.2.
Một số giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh
3.2.1. Hoàn thiện chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương
và ngành giáo dục – đào tạo
74
3.2.2. Tổ chức tuyên truyền, quán triệt nhằm nâng cao nhận thức về
công tác giáo dục trẻ khuyết tật tại địa phương
3.2.3. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kế hoạch, tổ chức chỉ
đạo và giám sát công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
3.2.4. Hoàn thiện nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, đầu
tư cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật phục vụ quá trình dạy
– học , giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
3.2.5. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên và đội ngũ
cán bộ quản lý làm công tác giáo dục trẻ khuyết tật
3.2.6. Huy động và quản lý các nguồn lực tham gia công tác giáo dục
trẻ khuyết tật
3.3.
Mối quan hệ giữa các giải pháp
3.4.
Thăm dò tính khả thi của các giải pháp quản lý giáo dục
hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Bộ GD&ĐT
CBQL
GDKT
TTNCGDTKT
GD – ĐT
GDHNTKT
TPTĐBNĐC
KT
KT’
CPTTT
UBCSBVTE
HĐCTS
TTCTS
KT-XH
VĐ
TKT
UBMTTQ
QLGD
UBND
TP.HCM
CB, GV, CNV
Từ ngữ đầy đủ
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Cán bộ quản lý
Giáo dục khuyết tật
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia trên thế giới ngày càng quan tâm đặc
biệt đến nền giáo dục quốc dân, bởi lẽ rất đơn giản “Trẻ em hôm nay là thế giới
của ngày mai”. Hiện nay trên thế giới có khoảng 150 triệu trẻ em tàn tật, ít nhất cứ
10 trẻ thí có một em bị khuyết tật nghiêm trọng (bị tật bẩm sinh hoặc sau khi ra
đời). Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục trẻ em có nhu cầu
đặc biệt được hội nghị thế giới về giáo dục trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt (tổ
chức tại Salamanca, Tây Ban Nha thông qua năm 1994) đã kêu gọi cộng đồng thế
giới, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước cần quan tâm hơn nữa đối với công
tác giáo dục cho những người khuyết tật, nhất là trẻ em khuyết tật và có nhu cầu
đặc biệt. Công ước Quốc tế về “Quyền trẻ em”, điều 23 quy định: “Trẻ em tàn tật
có quyền chăm sóc, giáo dục và đào tạo đặc biệt để giúp các em có cuộc sống trọn
vẹn, đầy đủ trong phẩm giá nhằm đạt được một mức độ tự lập và hòa nhập vào xã
hội ở mức lớn nhất có thể được”.
Ngày 8 tháng 8 năm 1998, Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam Trần Đức Lương đã kí lệnh số 06-L/CTN, công bố pháp lệnh về người tàn tật.
Trong đó, điều 15, 16, 17 (của chương III – Học văn hóa đối với người tàn tật) đã
ghi rõ: “Việc học tập của trẻ em tàn tật được tổ chức thực hiện bằng các hình thức
học hòa nhập trong các trường chuyên biệt dành cho người tàn tật, cơ sở nuôi
dưỡng người tàn tật và tại gia đình. Học sinh tàn tật có năng khiếu được ưu tiên
tiếp nhận vào học tại các trường năng khiếu tương ứng. Học sinh là người tàn tật
trong các cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng nội trú được hưởng các chế độ, chính sách
theo quy định của Chính Phủ. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá
nhân mở trường, lớp dành riêng cho người tàn tật…”
Theo số liệu thống kê năm 1997 của Uỷ Ban bảo vệ Chăm sóc Trẻ em Việt
Nam (UBBVCSTEVN), ở nước ta hiện có 1,5 triệu trẻ em bị khuyết tật. Riêng
7
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có khoảng 6.000 trẻ khuyết tật các loại; chiếm tỉ
lệ gần 10% số trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của thành phố. Công tác giáo dục
dục đối với trẻ khuyết tật; đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác giáo dục trẻ
khuyết tật; kinh phí tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ khuyết tật;…
Đây là những vấn đề mà các cấp lãnh đạo chính quyền và ngành giáo dục và
đào tạo TP. Hồ Chí Minh đang quan tâm. Xác định được tầm quan trọng của công
tác giáo dục trẻ khuyết tật trong giai đoạn hiện nay của đất nước nói chung và TP.
Hồ Chí Minh nói riêng, sau khi nghiên cứu lí luận về công tác giáo dục trẻ khuyết
tật và thực tiễn công tác giáo dục trẻ khuyết tật tại một số địa phương trong cả
nước, trên cơ sở tình hình kinh tế - chính trị - xã hội tại TP. Hồ Chí Minh, bản thân
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lí giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật ở bậc tiểu học tại TP. Hồ Chí Minh” nhằm góp phần nhỏ bé vào việc
giải quyết những vấn đề nói trên.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục và thực trạng công tác giáo
dục và quản lý giáo dục trẻ khuyết tật, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý giáo
dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh, nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc tiểu học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật bậc tiểu học
tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật
bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý giáo dục trẻ khuyết tật bậc tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh
trong những năm qua vẫn còn một số vấn đề bất cập trong việc tổ chức thực hiện
và quản lý, số trẻ khuyết tật được đến lớp còn quá ít, hiệu quả đạt được chưa cao.
Vì thế, nếu đề xuất được các giải pháp quản lý giáo dục phù hợp sẽ huy động
được số trẻ khuyết tật đến lớp, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục hòa nhập
ở bậc tiểu học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của xã hội.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia: nhằm lấy ý
kiến tư vấn của các nhà quản lý, các chuyên gia giáo dục, các cán bộ và giáo viên
trong và ngoài ngành giáo dục,... về việc quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở
bậc tiểu học.
10
6.3. Phương pháp thống kê: nhằm thống kê, đo đạc, xử lý các kết quả, số
liệu liên quan đến thực trạng và tính cần thiết, tính khả thi của các giải pháp.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở
bậc tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở bậc
tiểu học tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
11
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Giáo dục trẻ khuyết tật và nghiên cứu về giáo dục trẻ khuyết tật ở
thế giới
Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, do nhiều nguyên
nhân khác nhau nên ở bất cứ quốc gia nào trong mọi giai đoạn cũng đều tồn tại một
bộ phận trẻ khuyết tật. Nếu trong xã hội văn minh giảm đi những nguyên nhân về
hành và phải tạo cơ hội để đạt được và duy trì trình độ học ở mức có thể chấp nhận
[30]. “Tất cả mọi trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt phải đến trường học chính
quy và những trường này có trách nhiệm phải trang bị kiến thức cho các em thông
qua phương pháp sư phạm lấy trẻ em làm trung tâm …..” [30]. Hội nghị đã cung
cấp cơ hội cho những người tham gia hội nghị xem xét làm thế nào để bảo vệ tốt
nhất Quyền của trẻ em khuyết tật trong bối cảnh chương trình “ Giáo dục cho tất cả
mọi người”. Tuyên bố này được nhìn nhận như là nền tảng của giáo dục hòa nhập
hiện đại.
Vào những năm 70 đến nửa sau thập kỷ 80 của thế kỷ XX, quan điểm mới về
trường lớp xuất hiện ở châu Âu có tên là “sáng kiến giáo dục phổ thông” đã mang
lại một chiến dịch quyền học tập cho học sinh khuyết tật và đòi hỏi giáo dục phải
có trách nhiệm hơn trong việc tạo ra những hoạt động phù hợp hơn theo khả năng
của người học , từ đây bắt đầu xuất hiện xu hướng giáo dục hòa nhập. Hòa nhập là
một phong trào đổi mới trong giáo dục chuyên biệt, xu hướng này đòi hỏi nhiều sự
thay đổi trong nhà trường. Các vấn đề trong giáo dục như: nội dung, phương pháp,
thể chế, hệ thống ngân sách, tái xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡng
giáo viên, cải tổ chương trình… đang dần thay đổi. Các quốc gia đều xây dựng và
phát triển chính sách của Nhà nước quy định về nội dung, phương án cụ thể nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục hòa nhập. Việc áp dụng quy định đó là rất
phức tạp và phải tiến hành theo nhiều bước. Một số nước đang nỗ lực và bắt đầu
chấp nhận giáo dục hòa nhập theo các phương thức khác nhau và cũng thu được
những kết quả khác nhau.
Khi phân tích định hướng trong giáo dục đặc biệt của mỗi nước người ta chia
nó ra làm 3 nhóm:
13
Nhóm thứ nhất là giáo dục hòa nhập, hình thức này nhấn mạnh đến xu hướng
không tách biệt và chỉ còn duy nhất một hình thức giáo dục chính quy bình thường
sinh câm là Nguyễn Văn Trường sang Pháp học tại Roder. Sau 5 năm, Nguyễn Văn
Trường trở về dạy theo phương pháp kí hiệu cử chỉ điệu bộ, đến năm 1902 thì
trường đã có đến 20 học sinh. Từ năm 1903 trường được đặt dưới sự quản lý của
nữ tu dòng thánh PhaoLo. Nhiệm vụ chủ yếu của trường cũng chỉ chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ như ở gia đình. Đến năm 1934 nữ tu người Pháp Simon PhiLíp và
Monica được cử sang Pháp học ở Nogentel – Rotrou. Đến năm 1937 họ trở về
nước và bắt đầu tổ chức hoạt động sư phạm của nhà trường. Cho học sinh học văn
hóa và học nghề, trong giai đoạn này số lượng đã lên đến 20 học sinh. Mãi đến
năm 1972 trường đã đổi tên thành Viện điếc câm Lái Thiêu với ban điều hành mới.
Viện đã có những định hướng mới trong công tác phục hồi chức năng nghe, nói,
giao tiếp, dạy văn hóa đồng thời tiến hành hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ với số
lượng học sinh lên đến 600 em.
Ở Hà Nội sau năm 1954 tại phố Hàng Lượt cũng có một cơ sở dạy cho một số
ít trẻ điếc. Vào cuối năm 60 đầu thập niên 70 Viện Tai – Mũi – Họng trung ương
Bạch Mai đã mở các lớp thí điểm dạy trẻ điếc, do Giáo sư Bác sĩ Trần Hữu Tước
chủ trì.
Vào năm 1970, Bộ Giáo dục cũng đã cử các giáo viên đi đào tạo dài hạn ở
nước ngoài. Đây cũng là những cán bộ nòng cốt đầu tiên của ngành tật học nước ta
nhằm giúp cho các địa phương mở rộng các trường dạy trẻ khuyết tật trong cả
nước sau này.
Đối với trẻ khiếm thị ở nước ta cũng đã có trường chuyên biệt giảng dạy từ
đầu thế kỷ XX. Vào năm 1903 ông Nguyễn Văn Chí (người mù ở Pháp về) là
người đã có công thay chữ Braille từ Pháp di nhập vào nước ta. Ông thành lập
trường mù đặt trong bệnh viện Chợ Rẫy – Sài gòn. Sau đó trường bị đóng cửa bởi
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển
đến năm 1973 trường được chuyển về 184 đường Nguyễn Chí Thanh và hoạt động
dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bên cạnh đó, ở Sài Gòn năm 1963 còn mở một trường dạy trẻ khiếm thị đó là
hình giáo dục trẻ khuyết tật phù hợp và có hiệu quả. Trẻ khuyết tật đi học ngày
càng nhiều, chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao. Nếu như trong 25 năm thực
hiện giáo dục chuyên biệt, đến nay các trường chuyên biệt cũng chỉ thu hút được
hơn 7 nghìn trẻ khuyết tật đi học thì chỉ sau 10 năm tiến hành giáo dục hòa nhập đã
thu hút được hơn 70 nghìn trẻ đến trường (theo số liệu thống kê trung tâm tật học
trường ĐHSP Hà Nội), đây là con số đáng so sánh trong quá trình tìm hướng đi và
giải pháp đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ khuyết tật hiện nay.
16
Định hướng chiến lược để giải quyết vần đề trẻ khuyết tật ở Việt Nam có thể
được khẳng định là giáo dục hòa nhập. Đây là xu thế chung của thế giới, đồng thời
là mô hình giáo dục tiến bộ để trẻ khuyết tật được bình đẳng, hòa nhập cộng đồng
một cách tốt nhất, là động lực để trẻ khuyết tật vươn lên phát triển tối đa tiềm năng
của mình. Điều đó đã được thể nghiệm khẳng định trong điều kiện Việt Nam. Hiệu
quả giáo dục hòa nhập xét về cả số lượng cũng như chất lượng giáo dục đã cho
thấy đây thực sự là một giải pháp cho vấn đề trẻ khuyết tật ở Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu về quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung
cũng như quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật bậc tiểu học TP. Hồ Chí Minh
đang còn có nhiều vấn đề vẫn phải tiếp tục triển khai. Thành phố Hồ Chí Minh là
một trung tâm chính trị, văn hóa – kinh tế lớn của cả nước. Sự phát triển nhanh về
kinh tế cần phải được gắn liền với những điều kiện về xã hội, về an sinh, về việc
giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người. Sự hoan hỉ của
cuộc sống trong xã hội hôm nay phải có sự công bằng hợp lý, chính đáng cho tất cả
mọi người, trong đó có người khuyết tật và trẻ em khuyết tật. Cho nên, sự phát
triển kinh tế - xã hội một cách nhanh và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh phụ
thuộc vào việc giải quyết những vấn đề xã hội, an sinh hiện nay. Vấn đề đó chưa
được nghiên cứu nhiều và chưa được nhìn nhận ở tất cả các phương diện, góc độ
khác nhau, từ quan điểm của nhà nước, của các mạnh thường quân, của các tổ chức
tôn giáo… Hơn nữa, nhìn nhận vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật phải được nhìn nhận
Nhà lý luận quản lý kinh tế nước Pháp A. Fayl, khi áp dụng lý thuyết vào
thực tiễn quản lý một xí nghiệp hoàn chỉnh cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới
đích, cố gắng sử dụng tốt nhất các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) của nó.
[Harold Koontz, Cyrit Odonnell, Heinz Wethirith, Những vấn đề cốt yếu của quản
lý, NXB KHKT Hà Nội năm 1993].
Quan điểm của tác giả trong nước về quản lý.
“Quản lý” là một từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và từ “lý”. “Quản”
là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang,
sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang,
làm cho sự vật ổn định và phát triển.
Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất
bản Giáo dục xuất bản năm 1994: Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu
nhất định, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định.
[29].
18
Giáo trình “Quản lý hành chính Nhà nước” của Học viện hành chính quốc
gia nêu khái niệm quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các
quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp
với quy luật, đạt mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý. [ 12].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản
lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [19]. Tác giả Nguyễn Bá Dương
cho rằng: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể
và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển tâm lý và
hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những
mục tiêu nhất định của tập thể xã hội” [17]. Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự
tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá
1.2.2. Quản lý giáo dục
1.2.2.1. Khái niệm
Xét về góc độ lịch sử thì khoa học quản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản
lý kinh tế. Do đó trong các nước tư bản, người ta thường vận dụng lý luận quản lý
xí nghiệp vào quản lý giáo dục và coi quản lý giáo dục như quản lý một loại xí
nghiệp đặc biệt. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội.
Giáo dục ngày nay là một bộ phận của kinh tế xã hội. Do vậy quản lý giáo dục
là quản lý một quá trình kinh tế xã hội đặc biệt nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự
phân hóa xã hội và xã hội hóa để tái sản xuất sức lao động, phục vụ nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội.
Một số tác giả đã đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục như sau:
Học giả nổi tiếng Kônđacốp. M.I: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở
rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. [14].
Khuđôminxky.P.V cho rằng “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau để tất cả các khâu của
hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ,
đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ” [13].
20
Đặng Quốc Bảo trong bài giảng những vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục có
nêu: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”.
Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục
không chỉ giới hạn cho thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục
pháp hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức. Đấy là chức
năng kế hoạch hóa của nhà quản lý. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục
tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện
cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý.
b) Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục.
Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả
mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò,
nhiệm vụ và vị trí công tác. Cho nên có thể nói việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ
là chức năng tổ chức trong quản lý.
Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho
phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Song, không phải chỉ có vậy, mà việc thực hiện
chức năng tổ chức trong quản lý còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến
quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt
chú ý đến việc bố trí cán bộ - người vận hành các bộ phận của tổ chức.
c) Chức năng điều khiển trong quản lý giáo dục.
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Sau khi hoạch định
kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển cho hệ thống
hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình sử dụng quyền lực
quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát
huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt được mục tiêu chung của hệ thống.
Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức và kỹ năng ra quyết định và tổ
chức thực hiện quyết định.
d) Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục.
Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý, vì tầm quan trọng và vai trò
của nó nên có thể khẳng định rằng chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và
là chức năng của mọi cấp quản lý, kể cả đối với nhà quản lý ở cơ sở giáo dục trong
trường học. Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của
cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Ngoài ra còn có thể
hiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình
hoạt động của đối tượng quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn.
củng cố thêm mục tiêu của tổ chức, giúp thu hút và động viên các thành viên làm
việc tốt hơn cho tổ chức.
23
Nhu cầu vật chất là điều kiện cơ bản về cuộc sống của mọi người, do đó con
người khi thực hiện công việc nào đó đều quan tâm đến lợi ích vật chất và thu
nhập. Vì vậy, người quản lý phải hết sức coi trọng vận dụng phương pháp kinh tế.
So với các phương pháp quản lý khác, phương pháp kinh tế có ưu điểm là đặt
mỗi người vào điều kiện tự mình quyết định làm việc như thế nào là có lợi nhất
cho mình và cho tổ chức.
Tuy vậy, phương pháp kinh tế cũng có những hạn chế vốn có của nó. Nếu lạm
dụng phương pháp kinh tế sẽ dẫn người ta tới chỗ chỉ nghĩ tới lợi ích vật chất, thậm
chí lệ thuộc vào vật chất, tiền của mà quên tinh thần, đạo lý, có thể dẫn tới những
hành vi phạm pháp.
b) Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của
chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền
lực nhà nước.
Các mối quan hệ tổ chức và quyền uy xuất hiện ở tất cả tổ chức giáo dục và
các cơ sở giáo dục. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự cưỡng bức đơn
phương của chủ thể quản lý. Quan hệ ở đây là quan hệ giữa quyền uy và phục tùng,
giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức. Cấp trên ra lệnh buộc cấp dưới
phải chấp hành.
Phương pháp hành chính được sử dụng nhằm mục đích tổ chức và điều hành.
Chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy quy định về tổ chức và hoạt động
của các tổ chức giáo dục, quy định quan hệ hoạt động trong nội bộ cũng như các
đối tượng quản lý với các chủ thể khác hoặc chủ thể quản lý thông qua các hình
thức như chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm
đồng, xã hội.
Theo ý kiến của các nhà khoa học hiện nay, khái niệm trẻ khuyết tật được hiểu
là những trẻ bị khiếm khuyết về cấu trúc hoặc các chức năng cơ thể hoạt động
không bình thường dẫn đến những khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tập
thể, xã hội và không thể học tập theo chương trình giáo dục phổ thông nếu không
có sự hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học và những
trang thiết bị đặc biệt.
Như vậy, trẻ khuyết tật có sự khiếm khuyết về giác quan (thể chất) hoặc chức
năng (tinh thần) biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt
động khiến trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi.
25