Một số giải pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THCS thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THANH SĨ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC
TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2013


GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THANH SĨ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC
TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60. 14. 05

Người HDKH: GVC. TS. PHAN QUỐC LÂM



DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BCH:
CNH-HĐH:
CB GV:
CBQL:
CNXH:
CCGD:
CNTT
CSVC - TBDH
DDDH
GD-ĐT:
GV:
HS
HĐND:
KH-CN:
KHTN:
KHXH:
KNLNN
QLGD:
NXB:
NQ:
SKKN:
TW:
TH:
THCS:
THPT:
THCN:
UBND:
XHHT:


MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu khoa học
7. Đóng góp của luận văn
8. Cấu trúc luận văn: Luận văn gồm có ba phần lớn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG

01
01
05
05
05
05
06
07
08
09

ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG THCS THÀNH
PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề


Thành phố Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp
2.4. Thực trạng quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường

45

THCS thành phố Cao Lãnh
2.5. Đánh giá chung về thực trạng và nguyên nhân chất lượng ngũ giáo viên

48

tiếng Anh ở các trường THCS thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Kết luận chương 2
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ

54
55

GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ CAO
LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP.


3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp
3.2. Những giải pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các
trường THCS thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
3.3. Quản lý việc tổ chức và thực hiện các giải pháp
3.4. Khái quát về khảo sát tính cần thiết và khả thi của giải pháp
Kết luận chương 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận

hiện đại có thể làm việc trong môi trường quốc tế.
Ban bí thư trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị 40 - CT/TW ngày 15 tháng
06 năm 2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục. Chỉ thị nêu rõ: "Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng
nòng cốt có vai trò quan trọng". Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát
triển, chỉ thị cũng chỉ ra: “Chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo
còn có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội”,
“Một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong nhân cách và đạo đức lối sống, chưa
làm gương tốt cho học sinh, sinh viên. Năng lực của đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục chưa ngang tầm với nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục”.
Cùng với sự đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, việc đổi mới phương
pháp dạy học và giáo dục của đội ngũ nhà giáo là một yêu cầu bức thiết, nhằm
hướng đến xây dựng chuẩn giáo viên theo quy định của Bộ giáo dục và mục tiêu
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, trực tiếp góp phần cải thiện chất lượng
nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sống của con người, khắc phục tình trạng sản
phẩm của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu bến đổi nhanh và đa dạng của sự
phát triển xã hội trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, ngành giáo dục và đào tạo
nước ta nói chung đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Nhiệm vụ trước mắt
của ngành giáo dục và đào tạo là phải nâng cao chất lượng giáo dục, nhằm đáp ứng


yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Bên cạnh
đó nhiệm vụ của các trường phổ thông nói riêng là phải nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội.
Giáo viên là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục và
đào tạo. Trước xu thế, nhiệm vụ, yêu cầu nêu trên đòi hỏi người giáo viên cần phải
có đầy đủ các phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và hiệu quả
giảng dạy. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở (THCS) nói
chung và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh THCS nói riêng là yêu

Đội ngũ giáo viên bộ môn tiếng Anh THCS trên địa bàn thành phố Cao
lãnh, tỉnh Đồng Tháp hiện nay qua báo cáo số liệu cho thấy đã vượt chỉ tiêu về
số lượng (thừa giáo viên tiếng Anh THCS) theo nhu cầu. Nhưng qua thực tế sau
khi được Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Tháp, tổ chức thi khảo sát, đánh giá
năng lực chuyên môn (theo khung tham chiếu châu Âu) cho đội ngũ giáo viên
tiếng Anh THCS ở tỉnh Đồng Tháp nói chung. Kết quả cho thấy giáo viên tiếng
Anh THCS ở thành phố Cao Lãnh, còn có những bất cập nhất định về trình độ
chuyên môn như (Đa số giáo viên đạt chuẩn về bằng cấp nhưng chưa đạt chuẩn
về các kỹ năng và năng lực tiếng Anh), làm hạn chế đến hiệu quả giảng dạy của
giáo viên, cũng như khả năng truyền thụ tri thức cho học sinh. Hầu hết giáo viên
dạy tiếng Anh THCS ở Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp chỉ đạt chuẩn về
bằng cấp, nhưng không đạt mức chuẩn (khung tham chiếu châu Âu) theo Đề án
“Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”
của Bộ Giáo dục – Đào tạo; Kế hoạch của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc nâng
cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2012
– 2020; Kế hoạch của UBND thành phố Cao Lãnh về việc nâng cao chất lượng
dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn thành phố Cao Lãnh giai đoạn 2012 – 2020 và
Kế hoạch của phòng giáo dục thành phố Cao Lãnh về việc “Nâng cao chất lượng
dạy và học ngoại ngữ trên địa bàn thành phố Cao Lãnh năm học 2012 – 2013 đã
quy định. Chính vì những lý do trên, mà chúng tôi chọn đề tài: “ Một số giải
pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THCS thành
phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp”.
2. Mục đích nghiên cứu


Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất “Một số giải pháp quản
lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THCS thành phố Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp”.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu

những biểu hiện, đặc trưng, định tính của các sự vật, hiện tượng nghiên cứu nhất định.
Qua đó tìm hiểu tác động của các biện pháp quản lý đến chất lượng đội ngũ giáo viên
tiếng Anh.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi, trò chuyện với các giáo viên
dạy tiếng Anh có kinh nghiệm, hỏi ý kiến của chuyên viên môn ttiếng Anh của
Phòng GD-ĐT, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn trong các trường THCS về
những vấn đề liên quan đến quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh.
- Phương pháp điều tra: bằng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên
giảng dạy tiếng Anh, tổ trưởng hoặc nhóm trưởng bộ môn, giáo viên giảng dạy
tiếng Anh, CBQL (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) các trường, chuyên viên phụ trách
môn tiếng Anh của Phòng GD-ĐT... nhằm làm rõ thực trạng công tác quản lý chất
lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THCS thành phố Cao Lãnh, thăm
dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên
tiếng Anh mà chúng tôi đưa ra.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục: đi sâu tìm hiểu quá
trình quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THCS thành phố
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Trên cơ sở nắm bắt được chất lượng đội ngũ giáo viên
tiếng Anh ở các trường THCS thành phố Cao Lãnh, nhằm phát huy những mặt
mạnh và khắc phục những tồn tại, hạn chế. Qua đó có thêm cứ liệu đối chiếu với
kết quả điều tra và có những kết luận khoa học đúng đắn.
6.3. Nhóm các phương pháp bổ trợ
Chúng tôi sử dụng phương pháp toán thống kê sử dụng trong nghiên cứu
khoa học quản lý giáo dục để xử lý các số liệu nghiên cứu thu được.
7. Đóng góp của luận văn
- Góp phần bổ sung cơ sở lý luận của một số giải pháp quản lý chất lượng
đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THCS thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng
Tháp. Đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo của ngành giáo dục
nói chung và đáp ứng yêu cầu thực hiện Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” do Bộ giáo dục nói riêng đã đề ra.


NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG THCS THÀNH PHỐ CAO
LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thực tiễn giáo dục ở các nước trên thế giới nói chung, cũng như ở nước ta
nói riêng đã khẳng định điều kiện quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục là
chất lượng và động lực dạy học của đội ngũ giáo viên. Trên thế giới cũng như ở
Việt Nam, vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đã sớm được đề cập
trong các nghiên cứu lý luận nhằm chỉ đạo thực tiễn hoạt động giáo dục. Các kết
quả nghiên cứu ngày càng làm phong phú thêm kho tàng lý luận về Quản lý và phát
triển đội ngũ giáo viên. Đặc biệt, từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX,
khi các khái niệm “vốn con người” và “nguồn lực con người” xuất hiện và thịnh
hành trên toàn thế giới (xuất hiện cuối thập niên 60 bởi nhà kinh tế học người Mỹ
Theodor Schoulz, sau đó thịnh hành vào những năm 70, 80 với sự phát triển tiếp nối
của nhà kinh tế người Mỹ nhận giải Nobel kinh tế năm 1992 Gary Backer [3, tr.4]),
dường như mọi nghiên cứu đều hướng vào vấn đề “phát triển nguồn nhân lực”. Con
người và nguồn lực con người được khẳng định là vốn quý của quốc gia: “ Của cải
đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát
triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc
sống dài lâu, mạnh khoẻ và sáng tạo. Chân lý đơn giản nhưng đầy sức mạnh này rất
hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính” [9]. Từ
đó, vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên được giải quyết với tư cách là
phát triển nguồn nhân lực của một ngành, một lĩnh vực.
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên được thể chế
hoá từ rất sớm (năm 1946 - một năm sau ngày ra đời của Nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà) bằng Sắc lệnh số 194 - SL ngày 8/10/1946 của Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà về việc thành lập ngành Sư phạm. Những tư tưởng và quan điểm của
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên thể hiện trong Sắc lệnh nêu trên đến nay vẫn còn nguyên giá trị.





giáo viên bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng giáo viên của các
nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development), viết tắt là OECD. Tác giả đưa ra những
đặc điểm và năng lực đặc trưng của một giáo viên có năng lực qua sự phân tích 22
năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng
đề cập những chính sách cải thiện và duy trì chất lượng giáo viên ở cấp vĩ mô và vi
mô, từ đó tác giả nhấn mạnh đến ba vấn đề quyết định chất lượng giáo viên là: bản
thân người giáo viên, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài [59,tr.6-9].
Trần Như Tỉnh trong công trình “ Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và phổ cập giáo
dục THCS ” [91,tr349-361] đã phân tích về thực trạng của đội ngũ giáo viên
THCS trên cả nước, trình bày phương hướng đào tạo bồi dưỡng giáo viên
THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và PCGD
THCS. Mỗi công trình nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau,
nhưng đều hội tụ ở điểm là: khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong sự
phát triển kinh tế - xã hội; thống nhất cơ bản với những nghiên cứu của thế
giới về nội dung quản lý, về phát triển nguồn nhân lực và đề xuất sự vận
dụng, với những giải pháp rất sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
Nhà giáo là lực lượng quan trọng làm nên chất lượng giáo dục. Để nâng cao
chất lượng giáo dục nhất thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, trong đó
quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên hướng tới sự phát triển bền vững, đáp ứng tốt
những yêu cầu nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2020. Muốn vậy, phải
có những đổi mới thật sự trong đào tạo, bồi dưỡng và quản lý đội ngũ nhà giáo theo
định hướng chuẩn năng lực nghề nghiệp và đặc biệt là có những thay đổi, thực hiện
đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách tuyển dụng và đãi ngộ nhà giáo... Đội ngũ
nhà giáo (bao gồm các giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục) đóng vai trò quyết
định chất lượng giáo dục. Nhà giáo không chỉ đơn thuần là người chia sẻ kiến thức
và kỹ năng mà còn là người góp phần nuôi dưỡng, phát triển tâm hồn, hình thành

Tuy nhiên, ở nước ta bên cạnh danh từ “Giáo viên” đang tồn tại nhiều thuật
ngữ và danh hiệu khác được dùng để chỉ người làm công tác dạy học ở các cấp bậc
GD - ĐT khác nhau như cô nuôi dạy trẻ, giáo viên mẫu giáo, giáo viên phổ thông,
giảng viên, cán bộ giảng dạy, nhà giáo.


Nhà giáo theo luật giáo dục (2005) là: "người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo
dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác"[21,tr.19]. Nhà giáo phải có những tiêu
chuẩn sau đây:
+ Phẩm chất đạo đức tư tưởng tốt.
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.
+ Lý lịch bản thân rõ ràng.
Nhiệm vụ của nhà giáo:
+ Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ
và có chất lượng chương trình giáo dục.
+ Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và
điều lệ của nhà trường.
+ Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo. Tôn trọng nhân cách của
người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng
của người học.
+ Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt
cho người học.
+ Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.
1.2.2. Đội ngũ và đội ngũ giáo viên
- Đội ngũ là một tập thể người có cùng chức năng, cùng nghề nghiệp cấu
thành một tổ chức và là nguồn nhân lực được gắn kết với nhau bằng hệ thống mục
đích, có nhiệm vụ chung và chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính hành chính
của ngành, của Nhà nước.

nghĩa đối với việc xác định chất lượng giáo dục và cả việc đánh giá nó, đó là: Chất
lượng là sự phù hợp với mục tiêu [1; tr. 6].
1.2.3.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên
Dựa vào các định nghĩa về chất lượng thì: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của một con người, một sự vật, sự việc”, “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”.
Theo chúng tôi, chất lượng đội ngũ giáo viên chính là phẩm chất, nhân cách và năng
lực nghề nghiệp của họ.
Chất lượng giáo viên là vấn đề khá phức tạp khi xem xét cả trình độ chuyên
môn, nhận thức chính trị, thái độ công dân, năng lực vi tính, năng lực ngoại ngữ, thể
lực, v.v... Cho nên Bộ giáo dục và đào tạo có ban hành các quyết định, thông tư


như: Quyết định số: 14/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 04/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo, ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học; Quyết
định số: 02/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 22/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo, ban hành Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non; Thông tư
số: 30/2009/TT-BGDĐT, ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,
ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên
trung học phổ thông. Các Quyết định, Thông tư trên, hướng dẫn đánh giá giáo viên
phổ thông theo các tiêu chuẩn như: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực
tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục;
năng lực hoạt động chính trị, xã hội; năng lực phát triển nghề nghiệp . . . Căn cứ vào
các tiêu chí cụ thể của từng tiêu chuẩn trên, để làm cơ sở cho việc đánh giá chất
lượng giáo viên.
1.2.4. Quản lý và quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên
1.2.4.1. Quản lý
Có nhiều khái niệm về quản lý, nhưng ở đây chỉ nêu một khái niệm
quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng
của chủ thể (người quản lý), tổ chức quản lý lên khách thể (đối tượng quản lý)
về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,...bằng một hệ thống các luật lệ,

thể nào đó”[36]. Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động
nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định,...
tựu trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích hợp, càng
tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên
để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn
đáng tin cậy.
1.2.5.2. Giải pháp quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên
Là những cách thức mà các nhà quản lý tác động hướng vào việc tạo ra
những biến đổi về chất lượng trong đội ngũ giáo viên ở các trường phổ thông.
1.3. Một số vấn đề về chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh
1.3.1. Tiêu chuẩn về chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh
Xuất phát từ những vấn đề về chất lượng như đã nêu ở trên ta có thể hiểu tiêu
chuẩn về chất lượng đội ngũ giáo viên là toàn bộ thuộc tính, những đặc điểm cấu trúc
của đội ngũ giáo viên. Những thuộc tính cấu trúc này gắn bó với nhau trong một tổng
thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ và làm cho đội ngũ giáo viên


khác với đội ngũ khác. Chất lượng đội ngũ giáo viên được thông qua các thuộc tính
bản chất sau:
- Số lượng thành viên trong đội ngũ
- Cơ cấu đội ngũ (độ tuổi, giới tính, nhiệm vụ . . .)
- Phẩm chất của đội ngũ
- Trình độ của đội ngũ (chuyên môn, nghiệp vụ...)
- Năng lực của đội ngũ
Trước những vấn đề liên quan sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội như
chất lượng giáo dục thì rất khó có thể theo đuổi một sự thống nhất tuyệt đối mà phải
chấp nhận trạng thái có được nhận thức giống nhau ở mức độ thích hợp trên những
vấn đề cơ bản.
Nâng cao chất lượng giáo dục là một quá trình, phải hoàn thiện từng bước.
Những phương án thay đổi, cải cách trong giáo dục phải được thực tiễn kiểm

Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác, có chuyên môn mà không có chính trị thì
chỉ là cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi mới có chuyên môn...Nói tóm lại
chính trị là đức, chuyên môn là tài, có tài không có đức là hỏng.” [6- 188].
Như vậy ta có thể khẳng định, phẩm chất của đội ngũ giáo viên là cái tạo ra
linh hồn của đội ngũ, cái làm cho sức mạnh đội ngũ được trường tồn và ngày càng
phát triển. Phẩm chất của đội ngũ giáo viên trước hết được biểu hiện ở sự thống
nhất, giác ngộ CNXH với lý tưởng nghề nghiệp. Đó là người giáo viên phải hiểu
biết hệ thống học thuyết Mac- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm
đường lối cách mạng và những quan điểm đường lối giáo dục của Đảng và nhà
nước ta. Phải gắn niềm tin cách mạng với niềm tin nghề nghiệp, nhờ nó người giáo
viên mới gắn bó cuộc đời mình với sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ, thế hệ
cách mạng cho đời sau. Bên cạnh việc giác ngộ CNXH với niềm tin yêu nghề
nghiệp, người giáo viên cần phải có tình cảm trong sáng, cao thượng, yêu nghề dạy
học, yêu con người, phải đạt được sự thống nhất hữu cơ của lòng yêu nghề và lòng
yêu người. Tình cảm trong sáng và cao thượng của người giáo viên sẽ tạo nên sức
mạnh làm bùng lên ngọn lửa nhiệt tình “tất cả vì học sinh thân yêu”. Cùng với
những phẩm chất nêu trên người giáo viên cần phải có một loạt phẩm chất khác đó
là sự thống nhất giữa tính mục đích và tính kế hoạch trong thiết kế và tổ chức hoạt
động sư phạm; giữa tính tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm với tính tự chủ,
nguyên tắc, sáng tạo, mềm dẻo, chín chắn, tính nghiêm khắc, lòng vị tha, yêu
thương nhẫn nại với đối tượng giáo dục...Qua đó ta thấy phẩm chất của đội ngũ giáo


viên là sự thống nhất tổng hợp hữu cơ của nhiều yếu tố như phẩm chất về chính trị,
xã hội (thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, thái độ nghề nghiệp...), phẩm chất về tư
cách đạo đức (lối sống, thói quen, tình cảm...), phẩm chất ý chí (tính kỷ luật, tự chủ,
sáng tạo, biết phê phán...) cùng với các yếu tố khác và trình độ năng lực, nó tạo nên
nhân cách và chất lượng của đội ngũ giáo viên nói chung.
- Trình độ của đội ngũ giáo viên: Trong từ điển Tiếng Việt, trình độ được
hiểu là “Mức độ về sự hiểu biết về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo một

giáo viên năng lực được hiểu là (trên cơ sở hệ thống những tri thức được trang bị,
người giáo viên phải hình thành và nắm vững hệ thống, các kỹ năng để tiến hành
hoạt động sư phạm có hiệu quả). Kỹ năng của người giáo viên được hiểu là “khả
năng vận dụng những kiến thức thu được vào trong hoạt động sư phạm và biến nó
thành kỹ xảo. Kỹ xảo là khả năng đạt tới mức thành thục”. [40,tr 544].
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên: Cơ cấu, như từ điển Tiếng Việt xác định: “Là
cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể” [40, tr. 234].
Cơ cấu đội ngũ giáo viên có thể hiểu đó là cấu trúc bên trong của đội ngũ, là một
thể hoàn chỉnh, thống nhất thể hiện ở các cơ cấu thành phần sau:
+ Cơ cấu chuyên môn: Là xác định tỷ lệ giáo viên hợp lý giữa các (ngành
chuyên môn, tổ chuyên môn . . .trong hội đồng bộ môn) chuyên môn với quy mô,
nhiệm vụ từng chuyên ngành đào tạo của trường.
+ Cơ cấu lứa tuổi: Là đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ giáo viên lớn tuổi
chuẩn bị về hưu và giáo viên trẻ mới ra trường, để có thể vừa phát huy được tính
năng động, sáng tạo, hăng say của đội ngũ giáo viên trẻ vừa khai thác được vốn
kinh nghiệm, bản lĩnh của đội ngũ giáo viên lớn tuổi.
+ Cơ cấu giới tính: Là đảm bảo tỷ lệ thích ứng giữa giáo viên nam và giáo
viên nữ phù hợp từng ngành nghề đào tạo.
Những cơ cấu trên chính là thể hiện cấu trúc bên trong của đội ngũ và giữa
chúng bao giờ cũng phải đảm bảo sự cân đối. Nếu phá vỡ sự cân đối này sẽ làm ảnh
hưởng đến chất lượng đội ngũ.
Tóm lại: Chất lượng đội ngũ giáo viên phải được hiểu bao gồm năm yếu tố
nêu trên. Mỗi yếu tố đều có vị trí tầm quan trọng đặc biệt và giữa chúng có mối quan
hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, nương tựa vào nhau hợp thành một hệ thống
hoàn chỉnh giúp, cho đội ngũ giáo viên tồn tại, phát triển và hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status