Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp I
phạm phi long
đánh giá Một số chỉ tiêu về khả năng sinh trởng,
sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hớng sữa
và bò Holstein Friesian thuần nuôi tại Lâm Đồng
luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành : chăn nuôi
Mã số : 60.62.40
Ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts. nguyễn xuân trạch
Hà NộI - 2007
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và cha hề đợc sử dụng để công bố.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ đợc
cám ơn và các thông tin trích dẫn đ đợc chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày
tháng
năm 2007
Tác giả luận văn
thu thập số liệu làm cơ sỡ cho bản luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các bạn đồng nghiệp
đ động viên khích lệ và đóng góp những ý kiến giá trị giúp tôi hoàn thành
bản luận văn này.
Hà nội, ngày
tháng năm 2007
Tác giả luận văn
Phạm Phi Long
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip ii
MụC LụC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
2.1.
Sinh trởng, sinh sản và sản xuất sữa của bò sữa
3
2.2.
Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên thế giới
20
2.3.
Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
24
Phần III. Nội dung và phơng pháp nghiên cứu
33
3.1.
Địa điểm, thời gian và đối tợng nghiên cứu
33
3.2.
39
4.2.
42
Tình hình chăn nuôi bò sữa ở Lâm Đồng
4.2.1. Diễn biến đàn bò sữa qua các năm
42
4.2.2. Phơng thức chăn nuôi
43
4.2.3. Thức ăn
45
4.2.4. Quy mô chăn nuôi
48
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip iii
4.2.5. Chuồng trại trong nông hộ
49
4.4.
58
Khả năng sinh sản của bò
4.4.1. Tuổi có chửa lần đầu
58
4.4.2. Hệ số phối giống
60
4.4.3. Thời gian chửa lại sau khi đẻ
61
4.4.4. Khoảng cách lứa đẻ
63
4.5.
65
Khả năng sản xuất sữa của đàn bò
4.5.1. Sản lợng sữa qua các lứa đẻ
DANH MôC C¸C CH÷ VIÕT T¾T Vµ Ký HIÖU
CP:
ChÝnh phñ
CS:
Céng sù
Cv(%):
Coefficient of variation - HÖ sè biÕn ®éng
F1:
Con lai cã 50% m¸u bß Holstein Friesian, 50% m¸u bß lai Sind
F2:
Con lai cã 75% m¸u bß Holstein Friesian, 25% m¸u bß lai Sind
F3:
Con lai cã 87,5% m¸u bß Holstein Friesian, 12,5% m¸u bß lai Sind
HF:
Holstein Friesian
Standard Error - Sai sè tiªu chuÈn
TNHH:
Tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n
T.tr:
TËp trung
VCK:
VËt chÊt kh«
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………v
DANH MụC BảNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1.
Một số chỉ tiêu về chất lợng sữa
14
4.2.
Diễn biến đàn bò sữa Lâm Đồng qua các năm
42
4.3.
Khẩu phần ăn bò đang vắt sữa ở nông hộ
47
4.4.
Khẩu phần ăn bò đang vắt sữa nuôi tập trung
47
4.5.
Quy mô chăn nuôi nông hộ
48
4.6.
Chuồng trại trong nông hộ
49
4.12.
Hệ số phối giống
60
4.13.
Thời gian chửa lại sau đẻ
62
4.14.
Khoảng cách lứa đẻ
64
4.15.
Sản lợng sữa qua các lứa đẻ (kg/305 ngày)
66
4.16.
Thành phần chất lợng sữa các nhóm bò nuôi tại Lâm Đồng
70
Tuổi phối giống lần đầu có chửa
59
4.5.
Thời gian chửa lại sau đẻ
62
4.6.
Sản lợng sữa trung bình qua các lứa đẻ
68
4.7.
Một số thành phần trong sữa của đàn bò nuôi tại Lâm Đồng
70
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip vii
Phần I. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chăn nuôi bò sữa ở nớc ta phát triển mạnh
ở một số tỉnh, thành phố nh: Sơn La, Lâm Đồng, Hà Tây, Đồng Nai, Bình
năng sinh trởng, sinh sản, sản lợng và chất lợng sữa của đàn bò sữa nuôi
trong điều kiện của tỉnh. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành
đề tài nghiên cứu:
Đánh giá một số chỉ tiêu về sinh trởng, sinh sản, sản xuất sữa của
bò lai hớng sữa và bò Holstein Friesian thuần nuôi tại Lâm Đồng.
1.2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá đợc tiềm năng chăn nuôi bò sữa tại Lâm Đồng
- Đánh giá khả năng sinh trởng, sinh sản và sức sản xuất sữa của các
nhóm bò hớng sữa nuôi ở nộng hộ và trang trại tại Lâm Đồng để đề xuất một
số con giống để phát triển chăn nuôi bò sữa tại Lâm Đồng
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 2
Phần II. Tổng quan tài liệu
2.1. Sinh trởng, sinh sản và sản xuất sữa của bò sữa
2.1.1. Đặc điểm sinh trởng
Khả năng sản xuất và những giá trị kinh tế của vật nuôi đợc hình thành
do các yếu tố di truyền, dinh dỡng, nuôi dỡng, chăm sóc và tập luyện trong
quá trình phát triển cá thể của chúng. Do đó, hiểu biết về qui luật sinh trởng
phát triển theo giai đoạn và lứa tuổi của con vật hết sức quan trọng. Sinh
trởng và phát triển cơ thể bò đợc đợc chia làm hai giai đoạn, giai đoạn
trong bào thai và giai đoạn sau bào thai.
* Sinh trởng trong bào thai
Đợc xác định từ khi bò thụ tinh hình thành hợp tử và kết thúc khi bê
đợc sinh ra. Sau khi hợp tử đợc hình thành, phát triển và phân chia ngay tạo
ra phôi. Giai đoạn đầu, phôi không lớn lên về mặt kích thớc vì chúng còn nằm
trong màng trong suốt. Khi màng này vỡ ra, phôi chui ra ngoài lúc đó tế bào
phôi mới phân chia và lớn lên. Thời gian di chuyển của phôi trong ống dẫn
trứng là 4-7 ngày, sau đó phôi di chuyển vào tử cung. Sau thời kỳ hợp tử là thời
lợng luôn thay đổi và ảnh hởng đến tăng giảm khối lợng cơ thể và năng
suất gia súc.
ở bò sữa cũng nh bò thịt, hai thời kỳ sinh trởng phát triển đầu tiên là
quan trọng nhất. Nuôi dỡng tốt bò, bê sẽ tăng trọng cao, sinh sản sớm, cho
nhiều sữa ở giai đoạn sữa và nhiều thịt ở giai đoạn nuôi thịt và vỗ béo.
Thời kỳ bú sữa, sữa mẹ là nguồn thức ăn có giá trị dinh dỡng tốt, ảnh
hởng lớn đến tăng trọng bê. Sau cai sữa bê rất dễ bị khủng hoảng sinh trởng do
tách mẹ, bị cắt mất nguồn sữa và ăn không đợc nhiều thức ăn thô xanh. Nếu
không chú ý đến chế độ nuôi dỡng ở thời kỳ này, bê sẽ chậm phát triển và rất dễ
bị còi cọc, ảnh hởng lớn đến sản lợng sau này. Do đó, ngời chăn nuôi thờng
tập cho bê ăn sớm và ăn cỏ sớm để dạ dày phát triển thành dạ dày 4 túi và bê sẽ ăn
đợc nhiều thức ăn thô ở thời kỳ sau cai sữa.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 4
2.1.2. Đặc điểm sinh sản
Trong quá trình nuôi dỡng, bê đực bắt đầu có tinh trùng ở 9-10 tháng
tuổi, bê cái rụng trứng và có thể thụ thai lúc 10-12 tháng tuổi. Tuy nhiên,
Không nên đa bò tơ vào sinh sản quá sớm, vì gây ảnh hởng không tốt đến
phát triển cơ thể của chúng. Chỉ nên tiến hành phối giống sau khi xuất hiện
2-3 chu kỳ động dục đầu tiên và khi khối lợng cơ thể bằng 3/4 khối lợng
cơ thể của gia súc trởng thành. Cụ thể, ở bò tơ hớng sữa nên đa vào phối
giống khi khối lợng cơ thể đạt 300-320 kg (Phùng Quốc Quảng và cs,
2003)[26]. Nuôi dỡng tốt để bò cái hậu bị 18-20 tháng tuổi đạt khối lợng
phối giống có chửa lứa đầu là kinh tế nhất. Nh vậy, dới 30 tháng tuổi bò
đ đẻ lứa đầu và cho sữa. Những nớc có nền công nghiệp sản xuất sữa tiên
tiến, bò cái hậu bị khi đợc 14-16 tháng tuổi đ cho phối giống có chửa lứa
đầu. Bê đực dùng cho phối giống ở lứa tuổi này, mặc dù đ có tinh trùng lúc
9-10 tháng tuổi. (Nguyễn Văn Thởng, 1995) [35].
Thởng, 1995)[35] cho biết hệ số di truyền về sản lợng sữa biến động trong
phạm vi 0,27%-0,36%, tỷ lệ mỡ trong sữa là 0,31%-0,3%, tỷ lệ protein trong sữa
là 0,28%-0,36%. Võ Văn Sự (1991-1992)[30] tính đợc (h2) của sản lợng sữa
chu kỳ 1 của bò Holstein Friesian nuôi tại nông trờng Mộc Châu là 0,38, của
tuổi đẻ lứa đầu là 0,27. Nh vậy có thể thấy gần 40% sản lợng sữa đạt đợc của
bò cái chịu sự khống chế bởi khả năng di truyền của thế hệ trớc.
2.1.4. Một số yếu tố ảnh hởng tới sản lợng và chất lợng sữa
* Các yếu tố ảnh hởng tới sản lợng sữa
* Yếu tố di truyền
Sức sản xuất sữa của bò phụ thuộc vào khả năng di truyền, phẩm giống.
Có thể nói sự phát triển bất cứ đặc điểm nào của cơ thể đợc xác định bởi khả
năng di truyền (genotype) và điều kiện môi trờng. Các chỉ tiêu số lợng ở bò
sữa nh: Sản lợng sữa, hàm lợng mỡ, protein, trọng lợng sống của con vật
đợc xác định theo phenotype. Những dấu hiệu phenotype khác nhau, trong cơ
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 6
thể đợc xác định theo bởi mối ràng buộc lẫn nhau rất phức tạp của 2 yếu tố di
truyền và điều kiện sống. Để biểu thị khả năng di truyền trong ảnh hởng
chung của các yếu tố trên, ngời ta đa ra hệ số di truyền (h2). Giống là nhân
tố di truyền quyết định năng suất và sản lợng sữa của bò sữa. Ví dụ giống bò
HF có sản lợng sữa 5.500-6.000kg sữa, bò Lang trắng đen 4.200-4.500kg, bò
Nâu Thụy Sĩ 3.100-3.200kg và bò Sind, bò Sahiwal 1.200-2.700kg sữa/chu kỳ
(Nguyễn Văn Thởng, 1995)[35].
Những nớc có nền công nghiệp sản xuất sữa tiên tiến, ngời ta nuôi
chủ yếu những giống bò chuyên sữa, để có đợc sản lợng sữa cao nh giống
bò HF, sau đó mới đến các giống bò kiêm dụng sữa thịt nh bò Nâu Thụy Sĩ,
bò Đỏ Đan Mạch.
Đàn bò HF Cu Ba nuôi ở nớc ta từ năm 1970 đến 1980 ở Sao Đỏ, Mộc
tỷ lệ Ca/P, K/Na, S/N...đều làm giảm khả năng tạo sữa của bò cái.
Nguyễn Văn Thởng (1995)[35] cho biết bò lai F1, HF đợc ăn 6,5 đơn
vị thức ăn/ngày, sản lợng sữa đạt 1.800-2.000kg/chu kỳ nhng khi cho khẩu
phần có 9,5 đơn vị thức ăn/ngày, sản lợng sữa tăng lên 2.700-2.800 kg/chu
kỳ. Trong một thí nghiệm khác nếu bò ăn đầy đủ và nuôi dỡng tốt trong thời
gian hậu bị, có chửa và vắt sữa thì sản lợng sữa/chu kỳ tăng dần từ lứa thứ
nhất và đạt mức cao nhất vào các lứa đẻ thứ 4-6 sau đó mới giảm nhng giảm
từ từ. Do đó lợng sữa thu đợc cả 1 đời bò sữa cao hơn nhiều so với bò chăm
sóc kém. Nhiều thí nghiệm cho biết trong thời gian vắt sữa, từ cơ thể của bò
phải huy động một lợng chất khô đôi khi lớn hơn khối lợng cơ thể của
chúng, ví dụ một bò sữa có sản lợng sữa 3.000kg sữa/chu kỳ phải huy động
từ cơ thể khoảng 390 kg chất khô, sản lợng sữa 4.000kg phải huy động
500kg. Vì vậy trong khẩu phần chăn nuôi bò sữa, ngoài khẩu phần thức ăn
duy trì, đảm bảo cho bò sữa có đầy đủ thức ăn cho sản xuất là điều cần thiết.
Theo Đoàn Đức Vũ (2001)[42] khi nghiên cứu ảnh hởng của bánh
dinh dỡng đến một số chỉ tiêu dạ cỏ, khả năng phân giải thức ăn và sản lợng
sữa của bò sữa cho biết sử dụng bánh dinh dỡng trong khẩu phần bò sữa đ
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 8
cải thiện đợc hai chỉ tiêu pH và NH3 dịch dạ cỏ làm cho sự hoạt động của hệ
vi sinh vật hiệu quả hơn, từ đó gia tăng khả năng tiêu hoá thức ăn, đặc biệt là
thức ăn thô. Vì vậy sử dụng bánh dinh dỡng trong khẩu phần đ gia tăng sản
lợng sữa, mỡ sữa và hiệu quả chăn nuôi cho ngời nông dân.
Đối với bò sữa việc cung cấp thức ăn xanh không đầy đủ, không cân
bằng giữa các thời gian khác nhau sẽ ảnh hởng trực tiếp đến sản lợng sữa
của chúng (Vũ Duy Giảng, 1993)[14]. Khi nghiên cứu một số yếu tố dinh
dỡng, đặc biệt là khoáng trong sự liên quan giữa đất, cây thức ăn và bò
Holstein ở Mộc Châu đ rút ra kết luận: khi ở đất giảm một số yếu tố vi lợng
1975, trích theo Lơng Văn L ng, 1983) [21].
* Tuổi
Sản lợng sữa ở bò sữa thay đổi đáng kể tùy theo lứa tuổi của bò. Theo
(Nguyễn Văn Thởng, 1995)[35] bò sữa cho sản lợng sữa cao nhất từ chu kỳ
thứ 4 đến chu kỳ thứ 6. Sản lợng sữa ở những chu kỳ này tăng khoảng 40 50% so với sản lợng sữa ở chu kỳ 1, sau đó sản lợng sữa giảm dần và sẽ
giảm rất nhanh nếu bò sữa không đợc ăn và chăm sóc đầy đủ.
Ngợc lại nếu bò sữa đợc nuôi dỡng và chăm sóc tốt, bò sữa sẽ tiếp tục
cho sữa đến lứa đẻ thứ 8-10, có trờng hợp nhng rất hiếm đến lứa đẻ thứ 1012. Trong trờng hợp này sản lợng sữa cao nhất đợc duy trì đến chu kỳ thứ 7.
Lợng sữa tăng lên cùng với tuổi khi đẻ đến một mức nhất định. Muốn
đạt sản lợng sữa cao nhất trong điều kiện nuôi dỡng thực tế thì không những
bò phải đạt lứa tuổi nhất định mà cũng đ đẻ ít nhất đợc 3 lứa.
ảnh hởng đến sản lợng không chỉ là do tuổi tác mà còn do số lợng chu
kỳ. Nhìn chung có sự sai khác đáng kể về các chỉ tiêu chất lợng sữa giữa các chu
kỳ sữa, chất lợng sữa có xu hớng đạt cao nhất ở chu kỳ 4, điều này có nghĩa là
chu kỳ sữa có ảnh hởng đến chất lợng sữa (Đặng Thị Dung và cs, 2000)[10], có
cơ sở để nói rằng các giống sớm thành thục đạt lợng sữa tối đa sớm hơn là các
phẩm giống muộn thành thục. ở các đàn cao sản, những con bò non sản lợng sữa
tăng theo tuổi của lứa đẻ lần đầu nhanh hơn những con sản lợng thấp.
Tuổi của lứa đẻ lần đầu tiên là một yếu tố biến dị rất quan trọng cho
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 10
nên không thể tính nó đợc khi xác định thành phần tỷ lệ di truyền trong biến
dị chung cũng nh khi đánh giá con vật. Có thể loại ảnh hởng của lứa tuổi
nếu tính sản lợng của bò cùng tuổi hoặc cùng hệ số điều chỉnh về tuổi.
Tuổi có thai lần đầu cũng ảnh hởng đáng kể đến sản lợng sữa. Sự còi
cọc về thể vóc thờng kèm theo chậm thành thục về tính, bầu vú phát triển
kém, sản lợng sữa thấp. Nuôi dỡng tốt bê cái hậu bị để đạt tiêu chuẩn phối
giống lần đầu vào 16-8 tháng tuổi sẽ có lợi cho chức năng sản xuất sữa của
bầu vú bò cái. Lợng sữa khi vắt sữa đ hình thành và tích luỹ trong vú trớc
là dùng hệ số hiệu chỉnh. Khi kéo dài khoảng cách giữa các lứa đẻ ra một
ngày thì thời gian nghỉ đẻ kéo dài ra trung bình 0,4 ngày (Phan Cự Nhân,
1972)[24]. Thời gian nghỉ đẻ kéo dài hơn làm cho bò có chửa trong điều kiện
tốt hơn và sản lợng của bò trong chu kỳ tiếp theo cao hơn so với thời gian
nghỉ đẻ ngắn. Mặt khác thời gian nghỉ đẻ càng dài, sản lợng trong chu kỳ
hiện tại càng thấp (hệ số tơng quan giữa các nhóm bò là 0,43).
* Thời gian nghỉ đẻ kéo dài
Thời gian nghỉ đẻ kéo dài phần lớn là do nguyên nhân di truyền. Hệ số lặp
lại trong một đàn khoảng 0,3 và hệ số di truyền - 0,2. Có sự liên quan giữa thời
gian nghỉ đẻ kéo dài và sản lợng của chu kỳ sữa tiếp theo, thời gian nghỉ đẻ thích
hợp nhất là vào khoảng 35-40 ngày, thời gian nghỉ đẻ kéo dài hơn nữa thì sản
lợng sữa sẽ giảm (Phan Cự Nhân, 1972)[24].
* Khoảng cách giữa các lần vắt sữa
Khoảng cách giữa các lần vắt, số lần vắt sữa trong ngày có ảnh hởng
đến lợng sữa cũng nh chất lợng sữa. Thí nghiệm kiểm tra đời con do Vụ
Công nghiệp sữa thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ tiến hành cho thấy vắt sữa ba
hoặc bốn lần tăng lợng sữa lên 20-30% so với hai lần. Muốn tăng lợng sữa
bằng cách tăng số lần vắt thì khoảng cách giữa các lần vắt phải gần bằng nhau
(Phan Cự Nhân, 1972)[24].
* Tháng đẻ
Tháng đẻ có ảnh hởng rõ rệt đến sản lợng của chu kỳ tiếp theo. Trong
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 12
điều kiện nông nghiệp của Tây-Bắc Âu, bò đẻ cuối mùa thu hay vào mùa đông
cho sữa tăng 5-10% so với bò đẻ mùa khô. Mùa đông chọn lọc thức ăn nên có thể
thỏa m n nhu cầu của bò về mặt dinh dỡng hơn là trên đồng cỏ.
* Tình trạng sức khoẻ
Bò cái có thể mắc các loại bệnh khác nhau trong thời gian tiết sữa. Sẩy
giống Iaroslabski, mỗi lứa đẻ tỷ lệ mỡ giảm đi 0,01%, bò cái Kolmolrski
giảm đi 0,017% (Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, 1996) [36].
Các nhóm giống khác nhau thông thờng chất lợng sữa khác nhau,
(Đặng Thị Dung và cs, 2002)[10] khi nghiên các yếu tố ảnh hởng đến chất
lợng sữa ở các nhóm giống bò sữa nuôi ở Việt Nam cho biết các nhóm giống
khác nhau có chất lơng sữa khác nhau, nhìn chung chất lợng sữa giảm dần
khi sản lợng sữa tăng. Có sự sai khác đáng kể về chất lợng sữa bò HF thuấn
với các giống bò lai 1/2HF, 3/4HF và 7/8HF, tơng quan chất lợng sữa giữa
bò có nhóm máu lai HF hoc máu Sind là tơng quan âm (r= -0,338). Tỷ lệ
mỡ sữa có xu hớng giảm khi tỷ lệ máu HF tăng hoặc máu bò Sind giảm. Tỷ
lệ mỡ sữa biến động trong khoảng từ 3,32-3,89%, protein sữa 3,22-3,33%,
đờng lactoza 4,65-4,80% và VCK không mỡ 8,56-8,83%.
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu về chất lợng sữa
Giống
Chỉ tiêu
Mỡ (%)
Protein (%) Đờng (%)
Tác giả, năm
HF
3,28 - 3,39
Đỗ Kim Tuyên, 2004[40]
HF
3,89
3,33
4,80
-nt-
* ảnh hởng của tháng và giai đoạn của chu kỳ sữa
Tỷ lệ mỡ sữa thờng thay đổi trong một chu kỳ vắt sữa ngay cả trong
một lần vắt sữa. Tỷ lệ mỡ cao ở đầu chu kỳ cho sữa sau đó giảm đi theo lợng
sữa tăng lên. Cuối chu kỳ cho sữa tỷ lệ mỡ sữa lại có xu hớng tăng lên. Trong
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 14
cũng một lần vắt sữa, những giọt cuối cùng thờng chứa nhiều mỡ hơn bởi vì
các hạt mỡ từ tuyến bào đi xuống do tác dụng co bóp của oxitoxin. Hàm lợng
protein cũng biến đổi tơng tự nh mỡ (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm,
2006)[37]. Ngoài ra có sự sai khác đáng kể về các chỉ tiêu chất lợng sữa giữa
các chu kỳ sữa, có sự sai khác rõ rệt ở chu kỳ đầu và chu kỳ cuối. Chất lợng
sữa có xu hớng đạt cao nhất ở chu kỳ 4. Điều này có nghĩa là chu kỳ sữa có
ảnh hởng đến chất lợng sữa.
Tháng cho sữa cũng có ảnh hởng đến chất lợng sữa. Nhìn chung các
chỉ tiêu chất lợng sữa có sự sai khác ở tháng đầu và cuối của chu kỳ sữa, có
chiều hớng tăng dần theo tháng cho sữa. Điều này là do tháng đầu và tháng
cuối chu kỳ sữa sản lợng sữa khác nhau do đó chất lợng sữa khác nhau.
* ảnh hởng của thức ăn
Thành phần của sữa phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ dinh dỡng của
khẩu phần thức ăn. Khi khẩu phần ăn không cân đối, đặc biệt là thiếu protein
khẩu phần khoảng 60%, vợt qua giới hạn đó có thể dẫn đến thay đổi thành
phần axit béo bay hơi trong dạ cỏ, từ đó làm thay đổi thành phần sữa.
* ảnh hởng của điều kiện môi trờng
Một vài thành phần của sữa có xu hớng tăng khi nhiệt độ và độ ẩm của
môi trờng tăng. Ví dụ: Nitơphiprotein, palmetic và stearic axit. Còn các thành
phần khác có xu hớng giảm thấp chẳng hạn nh mỡ sữa, chất khô đ tách mỡ,
nitrogen tổng số, lactose, axit béo mạch ngắn và oleic axit. Tỷ lệ % mỡ sữa
giảm trong điều kiện nhiệt độ môi trờng từ 21-270C, khi nhiệt độ tăng hơn
270C, tỷ lệ mỡ sữa có xu hớng tăng, trong khi đó chất khô trong sữa đ tách
mỡ luôn luôn giảm thấp. Nhiệt độ cao cũng làm giảm axit xitric và canxi trong
giai đoạn đầu của chu kỳ cho sữa. Điều kiện khí hậu khác nhau cũng có ảnh
hởng đến tỷ lệ mỡ trong sữa (Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, 1996)[36].
Các cơ sở chăn nuôi khác nhau cũng có sự sai khác đáng kể về các chỉ
tiêu chất lợng sữa. Sự ảnh hởng này phần lớn là do ảnh hởng của điều kiện
thời tiết và thức ăn từng cơ sở.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc Nụng nghip 16
* ảnh hởng của chất lợng sữa theo sản lợng sữa, chu kỳ sữa
Thông thờng sản lợng sữa càng tăng thì chất lợng sữa có xu hớng
giảm xuống. Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Dung và cs (2002)[10], cho
biết ở bò 1/2 HF (sản lợng sữa 5 kg/ngày) tỷ lệ mỡ sữa cao hơn bò 10-15
lít/ngày tơng ứng là 4,38% và 3,62%.
Nh vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hởng đế sản lợng và chất lợng sữa,
ngoài yếu tố di truyền thì các yếu tố khác phần lớn bị chi phối bởi điều kiện
ngoại cảnh. Vì vậy, các biện pháp chăm sóc nuôi dỡng cũng nh công tác
quản lý đàn bò sữa có ảnh hởng lớn đến sản lợng và phẩm chất sữa.
2.1.5. Khả năng thích nghi của bò sữa ôn đới trong điều kiện nhiệt đới
Thích nghi là quá trình thay đổi của cơ thể để phù hợp dần với môi