PHÒNG GD&ĐT
THÁI THỤY
ĐỀ KHẢO SÁT HỌC SINH GIỎI HUYỆN
Năm học 2010 - 2011
Môn : NGỮ VĂN 8
(Thời gian làm bài 120 phỳt)
Câu 1. (8 điểm)
VẾT NỨT VÀ CON KIẾN
Khi ngồi ở bậc thềm trước nhà, tôi nhìn thấy một con kiến đang tha chiếc lá trên
lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần.
Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi-măng. Nó
dừng lại giây lát. Tôi nghĩ con kiến hoặc là quay lại, hoặc là nó sẽ một mình bò qua
vết nứt đó. Nhưng không. Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đến
lượt nó vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình...
(Hạt giống tâm hồn - NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh)
Em cú suy nghĩ gỡ về bài học được rút ra từ câu chuyện trên.
Câu 2 (12điểm)
Nhận xét về thơ Vũ Đình Liên, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết:
Hai nguồn thi cảm chính của Vũ Đình Liên là lòng thương người và tình hoài
cổ. Có một lần hai nguồn cảm hứng ấy đã gặp nhau và để lại cho chúng ta một
bài thơ kiệt tác: “Ông đồ”.
Bằng cảm nhận của em về bài thơ “Ông đồ ” của Vũ Đình Liên, em hãy làm sáng
tỏ nhận xét trên.
___________________________
Họ và tên thí sinh ...................................................... Số báo danh:...............
vươn lên trong cuộc sống chính là bài học mà ta nhận được từ câu chuyện “Vết nứt và
con kiến”.
b. Bàn luận vấn đề
- Khẳng định câu chuyện đã cho ta một bài học vô cùng đúng đắn và sâu sắc. Vì:
+ Trong cuộc sống không phải lúc nào chúng ta cũng gặp thuận lợi. Con đường đến
với thành công phải trải qua nhiều ngã rẽ quanh co, khúc khuỷu, gập ghềnh... Vì vậy
muốn đạt được thành công như mình mong muốn không có cách nào khác là phải có
tinh thần vượt khó, có ý chí nghị lực vươn lên mọi hoàn cảnh, biết biến khó khăn thành
thuận lợi.
+ Ngược lại nếu sợ khó, sợ khổ thì không bao giờ ta đạt được mong muốn và chỉ
biết nhìn thành công của người khác trong sự nuối tiếc.
+ Gian nan thử thách sẽ là môi trường tôi luyện con người. Vượt qua khó khăn,
chính ta sẽ tự tin hơn, dày dặn hơn với sóng gió cuộc đời, ta sẽ đứng vững trước những
thử thách sau đó.
c. Mở rông vấn đề bàn luận
- Thực tế cuộc sống đã cho ta biết có biết bao câu chuyện đạt được những thành công
nhờ có tinh thần vượt khó: (HS kể một số dẫn chứng).
Đó là những tấm gương mỗi chúng ta cần học tập.
- Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không ít người gục ngã trước số phận, nản chí khi
đứng trước khó khăn: (Học sinh nêu một số biểu hiện) .
Thái độ sống ấy chúng ta cần phê phán.
- Hãy biết rèn luyện tính kiên trì, tinh thần vượt khó, ý chí nghị lực vươn lên trong
cuộc sống như con kiến bé nhỏ trong câu chuyện “Vết nứt và con kiến” ngay từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường và từ những công việc nhỏ nhất.
2.Về hình thức:
- Văn viết trôi chảy, bố cục rõ ràng, hợp lý, liên kết chặt chẽ.
- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, chữ viết đẹp.
2
* Luận điểm 1: Lòng thương người trong bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Lên thể
hiện qua nỗi lòng thương cảm của nhà thơ với ông đồ – một lớp nhà nho cuối mùa.
HS tập trung phân tích hai bức tranh đối lập về hình ảnh ông đồ ở khổ 1+2 và khổ
3+4 để thấy được nỗi xót xa, lòng thương cảm của nhà thơ.
+ Khổ 1+2:
- Dù các khoa thi Hán học đã chấm dứt nhưng chữ Hán vẫn được coi là một nét đẹp
văn hoá tinh thần nên mỗi dịp tết đến, xuân về người ta vẫn trọng thú chơi chữ. Vì thế
mà như đã hẹn với mùa xuân, khi nụ đào trên cành hé nở cũng là lúc ông đồ bày mực
tàu, giấy đỏ ngồi bên hè phố viết chữ thuê cho mọi người.
- Nhiều người tìm đến ông giành cho ông những lời ngợi khen tỏ sự thán phục khi
chứng kiến tài năng viết chữ của ông.
Hai khổ thơ là hình ảnh ông đồ khi còn công chúng nhưng lời thơ vẫn cho ta cảm
nhận được lòng buồn thương, nỗi xót xa của nhà thơ gửi gắm trong từng câu chữ bởi
ông đồ không còn ngồi ở trường học dạy chữ thánh hiền mà phải chấp nhận ngồi bên
hè phố nhọc nhằn mưu sinh. Là người gắn bó với chữ Nho giờ phải đem bán chữ giữa
chợ đời, trước cảnh tượng ấy lòng nào lòng chẳng xót xa?
+ Khổ 3+4
- Lớp người hiện đại không hiểu chữ thánh hiền nên người mua vắng dần theo thời
gian, để rồi đến lúc không còn ai mua nữa. Ông đồ còm cõi rũ vai gầy mỏi mòn chờ
3
khách đến mà càng chờ càng vô vọng. Ông buồn nên mọi sự vật gắn liền với ông lâu
nay cũng rất buồn: giấy như bầm lại không tươi rói màu son, nghiên mực không còn
sóng sánh, đen đặc. Sự thờ ơ của người đời đã trở thành tấm bi kịch cho ông đồ nhưng
ông vẫn ngồi đấy như cố níu giữ một nét văn hoá cổ truyền của dân tộc mà đâu có
người đồng cảm, sẻ chia. Quanh ông lá vàng hờ hững rơi, trời lất phất làn mưa lạnh
lẽo, cái gì cũng tàn tạ, thê lương. Lúc này ông đồ đã trở thành “cái di tích tiều tụy, đáng
thương của một thời tàn” (Vũ Đình Liên).
Hai khổ thơ không chỉ gợi lên tình cảnh đáng thương của ông đồ mà còn thể hiện
CHO ĐIỂM
Trên cơ sở xem xét việc đáp ứng các yêu cầu về nội dung và hình thức, có thể cho
điểm theo khung điểm sau
Điểm 11-12: Đáp ứng tất cả các yêu cầu trên.
Điểm 9- 10: Đáp ứng 3/4 yêu cầu trên, không mắc lỗi
Điểm 7-8: Đáp ứng 3/4 yêu cầu trên, mắc một số lỗi
Điểm 5-6: Đáp ứng 2/4 yêu cầu trên
Điểm 3-4: Đáp ứng 1/4 yêu cầu trên, mắc một số lỗi
Điểm 1-2: Sơ sài, không liên kết, mắc nhiều chính tả.
Điểm 0: Bài không viết gì.
4