Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Lời mở đầu
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài :
Nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước và chịu sự tác động của các quy luật như: quy luật cạnh tranh quy luật
cung cầu, quy luật giá trị... Trong đó quy luật cạnh tranh có tác động chi phối. Sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp buộc doanh nghiệp phải luôn phấn đấu để có thể
tồn tại và phát triển. Chính sự năng động .bắt kịp với sự thay đổi khắc nghiệt của
môi trường kinh tế cạnh tranh đã tạo ra lợi nhuận tại mỗi doanh nghiệp,tạo tiền đề
cho sự phát triển và thể hiện vị trí của nước ta trên trường quốc tế.
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế quan trọng nhất của các hoạt động kinh doanh
trong doanh nghiệp.Nó là chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của mỗi doanh
nghiệp,đồng thời là thước đo tiềm năng cho mỗi doanh nghiệp.Lợi nhuận là mục
tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp nhất là khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền
kinh tế bao cấp sang nền kinh tế có sự quản lí của Nhà nước và đang trên đà hội
nhập với nền kinh tế thế giới.
2.Mục đích nghiên cứu :
Quá trình xem xét, phân tích, đánh giá tình hình biến động của lợi nhuận sau
mỗi kỳ kinh doanh giúp doanh nghiệp phát hiện ra những điều bất cập, những điều
bất hợp lý từ đó đề ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp em đã chọn đề tài nghiên cứu: "Thực trạng và giải pháp nâng
cao lợi nhuận tại công ty TNHH thương mại - dịch vụ sửa chữa ô tô Tấn Hưng"
3. Giới hạn, thời gian và địa điểm nghiên cứu :
3.1.Giới hạn:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào lợi nhuận và hoạt động
chữa ô tô Tấn Hưng .
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận tại công ty TNHH
thương mại – dịch vụ sửa chữa ô tô Tấn Hưng.
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 1: Lý luận chung…
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN PHÁP
NÂNG CAO LỢI NHUẬN.
1.1. Cơ sở lí luận:
1.1.1. Khái niệm lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường,lợi nhuận là mục tiêu rất quan trọng, là mục tiêu
cuối cùng mà mỗi doanh nghiệp đều phải hướng tới. Mỗi doanh nghiệp có thể có
nhiều mục tiêu: đảm bảo hoạt động bền vững, tìm kiếm lợi nhuận, phục vụ khách
hàng, nhưng mục tiêu cối cùng của những hoạt động này là vì lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Lợi nhuận không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển mà còn là tiền
đề cho các hoạt động vì xã hội. Vì vậy mà khi tiến hành bất cứ một hoạt động kinh
doanh nào người ta đều phải tính toán đến lợi nhuận mà dự án kinh doanh đó đem
lại. Các doanh nghiệp đòi hỏi phải phát huy tối đa khả năng và tinh thần tự chủ của
mình để tạo lập thu nhập và thu lợi nhuận để thúc đẩy sự phát triển cho doanh
nghiệp mình. Chính tính cạnh tranh gay gắt của thị trường đòi hỏi doanh nghiệp
phải hoạt động có hiệu quả, đạt mục tiêu lợi nhuận làm cơ sở nội lực cho doanh
hoàn toàn dựa vào giá trị lao động để phân tích và chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của
lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định lao động là
nguồn gốc của giá trị và giá trị sản phẩm hàng hoá được phân thành nguồn thu nhập
tiền lương, địa tô và lợi nhuận. Giống A. Smith ông cho rằng giá trị do công nhân
tạo ra lớn hơn nhiều số tiền công mà họ đáng được hưỏng, tức là trong giá trị mới
sáng tạo ra nhờ lao động có giá trị thặng dư do công nhân làm ra nhưng không được
trả công. Từ đó ông đi đến kết luận: "Lợi nhuận chính là phần lao động dư thừa
ngoài tiền lương, lợi nhuận chính là lao động không được trả công của người công
nhân". Về quan hệ giữa tiền công và lợi nhuận ông cho rằng lợi nhuận phụ thuộc
vào mức tăng năng suất của lao động đôí nghịch với tiền công. Khi năng suất lao
động tăng lên thì tiền công của công nhân giảm xuống và lợi nhuận của nhà tư bản
tăng lên.
Đối lập với D.Ricardo một nhà kinh tế học khác là B.Say cho rằng có ba
nhân tố tham ra vào quá trình sản xuất là lao đọng, tư bản và ruộng đất. Mỗi nhân tố
đều có công phục vụ mà cái gì tạo ra phục vụ đều là sản xuất do đó không chỉ có
lao động mà cả tư bản, và tự nhiên đều tạo ra giá trị. Công phục vụ của ba nhân tố
trên đựoc thực hiện ở lao động tạo ra tiền lương, tư bản tạo ra lợi nhuận, ruộng đất
sáng tạo ra địa tô. Vì vậy có thu nhập tương ứng là: công nhân được tiền lương, nhà
tư bản được hưởng lợi nhuận, địa chủ được nhận địa tô. B.Say cho rằng lợi tức của
kẻ sở hữu tư bản là con đẻ của bản thân tư bản và lợi nhuận là phần thưởng đích
đáng của việc đầu tư tư bản để kinh doanh.
Kế thừa và phát huy các quan điểm đúng đắn, khoa học của những lí luận
tiền bối, K.Marx đã nghiên cứu một cách toàn diện, triệt để về bản chất, nguồn gốc
lợi nhuận kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định nguồn gốc của lợi nhuận là
do lao động làm thuê tạo ra, còn về bản chất thì lợi nhuận là hình thái biểu hiện giá
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
3
doanh nghiệp sử dụng ngân sách nhà nước cấp.
Về phía doanh nghiệp lợi nhuận là thước đo chỉ tiêu chất lượng tổng hợp
phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Nếu hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong kỳ mà thu được lợi nhuận càng cao thì việc tổ chức hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp càng tốt. Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế quan trọng tác động
đến việc hoàn thiện mọi mặt của doanh nghiệp. Để đạt được lợi nhuận cao nhất thì
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 1: Lý luận chung…
yêu cầu các mặt của doanh nghiệp cũng phải thực hiện tốt nhất. Với doanh nghiệp
lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng sản xuất kinh doanh, giúp doanh
nghiệp có điều kiện tích luỹ, mua sắm máy móc thiết bị, khuyến khích đổi mới và
tăng cường vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, củng cố thêm thế mạnh và uy
tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Về phía người lao động, khi lợi nhuận tăng thì tiền lương của nhân công
cũng tăng lên nó sẽ là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy việc tăng năng suất lao động ,
phát huy khả năng sáng tạo, nâng cao đời sống tinh thần vật chất cho họ.
Tóm lại lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, hơn thế lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế
nền kinh tế quốc dân, lợi nhuận làm cho doanh nghiệp, nhà nước, người lao động có
quan hệ gắn bó cùng phát triển.
1.1.3b. Các hình thức của lợi nhuận:
1.1.3.b.1 Lợi nhuận công nghiệp:
Lợi nhuận công nghiệp là phần giá trị thặng dư do công nhân làm ra.Thời gian
kinh doanh.
1.1.3.b.4 Lợi tức cho vay:
Lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà doanh nghiệp đi vay phải trả cho
doanh nghiệp cho vay.Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư mà công
nhân sản xuất ra.
1.1.4. Kết cấu lợi nhuận trong doanh nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định tổng hợp từ ba hoạt động: kinh
doanh, hoạt động tài chính và hoạt động bất thường.
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là bộ phận chiếm tỉ trọng lớn nhất trong
tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được, nó có ý nghĩa quyết định đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch
giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ với tổng giá thành hàng hoá sản phẩm
các khoản chi phí phân bổ cho số sản phẩm được tiêu thụ và các khoản thuế phải
nộp trong kỳ.
Lợi nhuận hoạt động tài chính là khoản chênh lệch giưa thu nhập từ hoạt
động tài chính và chi phí bỏ ra cho hoạt động đó. Các hoạt động tài chính bao gồm
các hoạt động liên doanh liên kết, hoạt động đầu tư chứng khoán, hoạt động cho
thuê tài sản, gửi tiền ngân hàng, các hoạt động cho vay thuộc nguồn vốn và quỹ của
doanh nghiệp hoà nhập số dư khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
Lợi nhuận hoạt động bất thường là khoản chênh lệch giữa thu nhập bất
thường phát sinh trong kỳ. Các hoạt động bất thường diễn ra trong kỳ bao gồm
nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, kiểm kê vật tư thừa, nợ khó đòi, nợ phải trả
không xác định được chủ. Đây là các khoản xảy ra không thường xuyên trong
doanh nghiệp mà doanh nghiệp không dự tính trước.
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
6
- Tỷ suất lợi nhuận chi phí: là quan hệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so với chi phí
kinh doanh trong kỳ:
Tỷ suất lợi nhuận chi phí
=
Lợi nhuận trong kỳ
Chi phí kinh doanh trong kỳ
x 100%
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí của doanh nghiệp bỏ ra sẽ mang
lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao càng tốt.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn: là quan hệ giữa số lợi nhuận đạt được với số vốn sử
dụng bình quân trong kỳ.
Lợi nhuận trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận vốn
=
Tổng số vốn bình quân sử
x 100%
dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn của doanh nghiệp bỏ ra sẽ mang lại
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao càng tốt. Đồng thời phản ánh hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Tỷ suất lợi nhuận doanh thu: Tỷ lệ giữa lợi nhuận và doanh thu đạt được
trong kỳ.
Doanh thu
thuần
Chi phí kinh
doanh hợp lệ
-
Thuế nộp ở
khâu tiêu thụ
-
Trong đó để xác định các thành phần ta có:
Xác định doanh thu thuần
Doanh thu
thuần
=
Doanh thu tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá
dịch vụ
Xác định chi phí kinh doanh hợp lệ
Chi phí kinh
= Trị giá vốn hàng
doanh hợp lệ
bán
Trị giá vốn hàng
=
bán
Giá mua hàng
đã bán
+
Đối với doanh nghiệp sản xuất
Giá thành sản
phẩm
=
Chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp
+
Chi phí nhân
công trực
tiếp
+
Chi phí sản
suất chung
=
Thu nhập
hoạt động tài
chính
-
Chi phí hoạt
động tài
chính
-
Thuế hoạt động
tài chính
(nếu có)
Trong đó:
Thu nhập hoạt động tài chính:
-
Thu từ hoạt động liên doanh , góp vốn, góp cổ phần
-
Thu từ hoạt động cho thuê tài sản
-
Chi phí cho thuê tài sản
-
Chi phí dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán
-
Chi phí liên quan đến cho vay vốn
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 1: Lý luận chung…
Thuế hoạt động tài chính được tính như một khoản khấu trừ thu nhập hoạt
động tài chính, tuy nhiên chỉ có một số hoạt động tài chính bị đánh thuế.
1.1.5.2.a. Xác định lợi nhuận hoạt động bất thường
Lợi nhuận hoạt
động bất thường
=
Thu nhập hoạt động
bất thường
Chi phí hoạt động bất thường:
-
Chi phí thanh lý nhượng bán TSCĐ
-
Giá trị còn lại của TSCĐ nhượng bán, thanh lý
-
Tiền phạt do vi phạm hợp đồng
-
Các khoản chi phí bỏ sót những năm trước nay phát hiện ra
-
Trị giá tài sản, vật tư thiếu hụt được ghi vào chi phí bất thường
-
.........
1.1.6. Các biện pháp nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.6.1 Sự cần thiết phải nâng cao lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp
phải thu được lợi nhuận. Lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy quan
tục, nâng cao khả năng cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Đối với nhà nước, có lợi nhuận sẽ đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách
nhà nước, nâng cao phúc lợi xã hội để từ đó nhà nước có điều kiện để đầu tư, tạo sự
phát triển cho nền kinh tế quốc dân thực bằng xã hội, xây dựng cơ sở vật chất hạ
tầng, nâng cao dân trí, xây dựng xã hội văn minh giàu đẹp.
1.1.6.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận.
1.1.6.2.a Nhân tố khách quan.
- Thị trường và sự cạnh tranh: thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
của doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp cung cấp hàng hoá ra thị trường nhằm phục
vụ nhu cầu của người tiêu dùng để kiếm lời. Sự biến động cung và cầu trên thị
trường ảnh hưởng tới khối lượng bán ra của doanh nghiệp. Nếu cung lớn hơn cầu
giá cả hàng hoá sẽ bị đẩy xuống thấp để tăng sức cành trinh điều này ảnh hưởng
trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu, chứng tỏ
mặt hàng doanh nghiệp đang kinh doanh đang được người tiêu dùng ưa chuộng.
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 1: Lý luận chung…
Đây là lúc doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động bán ra của mình nhằm tăng doanh thu,
tăng lợi nhuận.
Nó đến thị trường không thể bỏ qua yếu tố cạnh tranh của thị trường. Cạnh
tranh lành mạnh có thể giúp doanh nghiệp phát triển nhưng cạnh tranh không lành
mạnh có thể kiến doanh nghiệp gặp khó khăn nếu doanh nghiệp không đủ sức
chống cự. Vì thế để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp của mình các doanh nghiệp
phải nghiên cứu kỹ đối thủ cạnh tranh của mình là ai, họ mạnh như thế nào và vị thế
Chương 1: Lý luận chung…
các chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp ví dụ như thuế nhập khẩu của một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kiến cho giá cả
của hàng hoá tăng lên điều đó có thể ảnh hưởng đén chính sách giá của doanh nghiệp
và có thể ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Sự biến động của tiền tệ và tỉ giá hối đoái: Khi giá trị đồng tiền trong nước
thay đổi thì tỉ giá hối đoái giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ cũng thay đổi. Đối với
những doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu thì điều này rất quan trọng nếu tỉ giá
giữa đồng nội tệ và ngoại tệ tăng thì có lợi cho các doanh nghiệp nhập khẩu vì khi
đó vì khi đó giá trị của tiền trong nước tăng kiênhất cho hàng hoá nhập khẩu được
rẻ đi sẽ giúp cho doanh nghiệp mua hàng đựoc với giá rẻ và tiết kiện được chi phí
mua hàng, còn ngược lại nó bất lợi với các doanh nghiệp nhập khẩu nhưng có lợi
cho các doanh nghiệp xuất khẩu vì khi đó doanh nghiệp xuât khẩu sẽ có lợi thế cạnh
tranh về giá hàng xuất khẩu của mình so với các nước xuất khẩu khá c và doanh thu
sẽ tăng lên. Mặt khác tỉ giá của đồng tiền cũng ảnh hưởng đến vốn đầu tư của doanh
nghiệp và có thể sẽ dẫn đến hiện tượng lãi giả lỗ thật cho doanh nghiệp.
- Nhân tố chất lượng hàng hoá: Chất lượng tạo nên giá trị sử dụng cho hàng
hoá nó thể hiện ở phẩm chất, kiểu mẫu và mức độ phù hợp của nó đối với người
tiêu dùng. Chất lượng hàng hoá là nhân tố quan trọng trong điều kiện nền kinh tế thị
trường cạnh tanh gay gắt hiện nay. Nó là nhân tố giúp doanh nghiệp nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình trên thị trường.
- Tỷ lệ phát triển kinh tế . Sự phát triển kinh tế có khuynh hướng làm dịu bớt áp
lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp vì nó làm tăng nhu cầu của
dân chúng và ngược lại, nền kinh tế suy thoái làm giảm nhu cầu về tiêu dùng.
- Lãi suất. Mức lãi suất cao có thể ảnh hưỏng đến sự tăng giảm nhu cầu sản
phẩm đối với công ty. Ví dụ với những ngành kinh doanh như địa óc, ôtô,... thưòng
dễ bán được hàng hơn khi lãi suất ở mức thấp và ngược lại.
1.1.6.2.b Nhân tố chủ quan
thiểu rủi ro trong kinh doanh, các doanh nghiệp thường kinh doanh nhiều loại hàng
hoá khác nhau. Tuy nhiên tốc độ tiêu thụ, mức độ phù hợp với thị hiếu tiêu dùng
các loại hàng hoá khác nhau. Tuy nhiên tốc độ tiêu thụ, mức độ phù hợp với thị hiếu
tiêu dùng các loại hàng hoá khác nhau. Từ đó cho thấy cơ cấu mặt hàng kinh
doanhcũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Một cơ cấu mặt hàng kinh
doanh hợp lý với chủng loại và tỷ trọng phù hợp tránh được tình trạng ứ đọng hàng
hoá khi lượng hàng hoá dự trữ quá lớn so với mức nhu cầu của thị trường hoặc có
thể bỏ lỡ cơ hội tốt trong kinh doanh khi nhu cầu của thị trường lớn nhưng dự trữ
của doanh nghiệp lại quá ít
d. Khả năng về vốn:
Vốn là tiền đề vật chất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy
nó là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh và
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 1: Lý luận chung…
lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong quá trình cạnh tranh trên thương trường, doanh
nghiệp nào "trường vốn", có lợi thế về vốn thì sẽ có lợi thế kinh doanh - khả năng
về vốn dồi dào sẽ giúp doanh nghiệp giành được thời cởtong kinh doanh, có điều
kiện mở rộng thị trường, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng doanh thu và
tăng lợi nhuận.
1.1.3. Các biện pháp nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp
1.1.3.a Tăng doanh thu tiêu thụ
Tăng khối lượng chất lượng hàng hoá tiêu thụ: việc tăng khối lượng hàng hoá
Chương 1: Lý luận chung…
hàng được thuận lợi đầy đủ và nhanh chóng, có như vậy doanh nghiệp mới quản lý
được doanh thu của mình.
1.1.3.b Nhóm biện pháp làm giảm chi phí
Phấn đấu hạ thấp chi phí kinh doanh là một vấn đề cần thiết quan trọng, có
thể sử dụng những biện pháp chủ yếu sau:
- Tổ chức cung ứng và dự trữ hàng hoá một cách hợp lý : cung ứng là khâu
đầu tiên bắt đầu quá trình lưu thông hàng hoá. Việc tổ chức và cung ứng hàng hoá
hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu cần thiết của khách hàng và tiết kiệm
được chi phí. Bởi vậy trong khâu mua đòi hỏi doanh nghiệp phải khôn khéo lựa
chọn nguồn hàng cung ứng có chất lượng tốt, uy tín, giá cả hợp lý và nguồn hàng ổn
định nhằm tránh rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp.
- Lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp vận dụng linh hoạt các hình
thức kinh doanh đồng thời giải quyết hài hoà giữa lợi ích của người tiêu dùng với
doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp nhằm tiết
kiệm chi phí nâng cao năng suất lao động hạ thấp chi phí kinh doanh tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
- Tăng cường công tác quản lý chi phí: quản lý chi phí gắn liền với kế hoạch,
lập kế hoạch quản lý tài chính giúp doanh nghiệp khai thác mọi tiềm năng tiềm
tàng, giảm chi phí từ đó hạ thấp chi phí kinh doanh. Doanh nghiệp cần phải phân
công phân cấp quản lý phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó doanh nghiệp phải thường xuyên hoặc định kỳ kiểm tra, kiểm soát quá
trình thực hiện chi phí kinh doanh, việc kiểm tra tiến hành một cách toàn diện cả
không gian và thời gian. Phải kiểm tra trước, trong và sau khi chi, nhằm phân tích
đánh giá tính cần thiết, tính hiệu quả và phù hợp với dự toán chi phí đã đề ra hay
không. Việc phân tích khi chi là để đánh giá hiệu quả, ưu và nhược điểm của các
khoản chi phí đã thực hiện nhằm phục vụ lợi ích của quản lí chi phí kinh doanh của
kì sau. Kiểm tra, giám đốc mọi hoạt động chi tiêu của doanh nghiệp là một biện
pháp quan trọng nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Phòng kế
ho
ạc
h
đi
Phòng
qu
ản
lí
nh
Phó giám đốc phụ
trách kĩ thuật
Phòng kế
to
án
tài
vụ
Phòng kĩ
th
uậ
t
vậ
Trong đó
Giám đốc là đại diện pháp luật của Công ty. Giám đốc có quyền chỉ đạo điều
hành cao nhất trong Công ty.
sinh trong công ty và là người thu thập thông tin mọi hoạt động kinh tế phát sinh
Kế toán vật liệu và TSCĐ: là người theo dõi tình hình biến động của tài sản
trong toàn công ty, tính và phân bổ khấu hao cho các bộ phận sử dụng.
Kế toán thanh toán: thực hiện các nghiệp vụ thanh toán với khách hàng và
cán bộ công nhân viên
Kế toán tiền mặt: phụ trách việc theo dõi hạch toán các khoản tiền mặt, tiền
vay, tiền gửi ngân hàng
Thủ quỹ: quản lý tiền mặt của công ty căn cứ vào các chứng từ thu, chi để
nhập, xuất tiền thanh toán
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 1: Lý luận chung…
Kế toán tiền lương BHXH: là người chịu trách nhiệm tính lương, tính BHXH
của cán bộ công nhân viên toàn công ty
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của toàn công ty
Kế toán trưởng
Kế toán tổng hợp
Tiền
lương
và
BHXH
Chứng từ gốc
Sổ quỹ
Bảng tổng hợp
chi tiết
Nhật ký - Sổ cái
Sổ, thẻ, kế toán
chi tiết
Bảng tổng hợp
chi tiết
Báo cáo tài
chính
Trong đó:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ kế toán để ghi các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết .
Cuối tháng , quí tổng hợp số liệu và khoá sổ , thẻ kế toán chi tiết .
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
20
4.Chi phí quản lí
1.734.642.318 1.903.352.116
5.Tổng lợi nhuận trước thuế
130.068.791
136.973.695
6.Nộp ngân sách
478.842.105
680.189.583
7.Thu nhập(đ/ng/tháng)
876.054
970.352
So sánh 2010/2011
Số tiền
Tỉ lệ
1.184.446.738
+12.12
517.686.979
+4,5
342.072.277
+3,41
168.097.798
+9,73
6.904.904
+5,31
201.347.475
+42,1
94.298
+10,8
là điều dễ dàng để có được doanh thu tăng lên thêm với tỷ lệ là 4,39% doanh
nghiệp đã sử dụng số chi phí tăng lên là 5,8%. Tuy vậy kết quả đạt được là lợi
nhuận của doanh nghiệp vẫn tăng lên mặc dù không nhiều và số tiền lợi nhuận đạt
được là khá kiêm tốn so với số vốn bỏ ra để kinh doanh và các khoản chi phí liên
quan. Lợi nhuận trước thuế tăng 6.994.904đ với tỷ lệ tương ứng là 5,31% chứng
tỏ đồng vốn kinh doanh bỏ ra chưa hiệu quả. Lợi nhuận tăng thêm làm thu nhập
của lao động trong doanh nghiệp cũng được tăng lên.
Năm 2011 là một năm tương đối thuận lợi cho công ty vì vậy đó là điều
kiện thuận lợi nhuận tạo công ăn việc làm nhiều hơn cho nhân viên của công ty
và giúp công ty thực hiện việc đạt được doanh thu với lợi nhuận đề ra của mình.
Nói tóm lại được sự chỉ đạo của cấp trên cùng với tập thể nhân viên
trong doanh nghiệp không ngừng phấn đấu, nâng cao năng lực phát huy thế
mạnh. Doanh nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh
của năm 2011 và đạt được những thành tích đáng kể.
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp cao đẳng
Chương 3: Một số…
2.2. TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI
– DỊCH VỤ SỬA CHỮA Ô TÔ TẤN HƯNG
Như các doanh nghiệp kinh doanh khác kết cấu lợi nhuận của công ty
TNHH thương mại – dịch vụ sửa chữa ô tô Tấn Hưng cũng gồm 3 phần đó là
lợi nhuận hoạt động kinh doanh , lợi nhuận hoạt động tài chính, lợi nhuận
hoạt động bất thường:
=
Doanh thu
-
Chi phí
kinh doanh
hợp lệ
-
Thuế nộp ở khâu
tiêu thụ (nếu có)
Do xí nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên tổng
doanh thu, các khoản chi phí không bao gồm thuế GTGT. Tổng doanh thu của
xí nghiệp bao gồm doanh thu từ hoạt động kinh doanh vận tải mà chủ yếu từ
việc đón các đoàn khách lớn của nhà nước và doanh thu từ việc bảo dưỡng,
sửa chữa vận tải của xí nghiệp phần doanh thu này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
không đáng kể vì xí nghiệp chưa chú trọng đầu tư cho phát triển lĩnh vực kinh
doanh này.
Chi phí kinh doanh hợp lệ là các khoản bao gồm giá vốn hàng bán(chi
phí về nguyên vật liệu cho dịch vụ vận tải như xăng dầu, thiết bị vận tải ...),
chi phí về nhân công trực tiếp thực hiện dịch vụ vận tải và chi phí sản xuất
chung (chi phí quản lý chung, nguyên vật liệu dùng chung...). Do là doanh
21
Hoàng Thị Nguyệt B4VP-TCNH
1.710.535.573 1.883.894.474
30.745.386
45.728.359
530.414.151
342.072.227
188.341.874
173.358.901
14.982.973
Năm 2010
Năm 2011
+4.51
+3,41
+10,8
+10,1
+48,7
( Nguồn : phòng kinh doanh)
Từ bảng ta có thể thấy rằng lợi nhuận của công ty mặc dù không lớn
nhưng tỉ lệ tăng là rất đáng kể. Lợi nhuận từ năm 2010 sang năm 2011 tăng
14.982.973đ tương ứng với tỉ lệ tăng là 48,73%. Điều này có được là do năm
2011 xí nghiệp đã có những đổi mới trong kinh doanh và năm 2011 là một
năm tương đối thuận lợi cho việc kinh doanh của công ty. Chính vì vậy doanh
thu năm 2011 của công ty đã tăng lên so với năm 2010 là 530.414.151đ và
tăng với tỉ lệ tương ứng là 4,51%. Là doanh nghiệp tư nhân nhưng hoạt động
kinh doanh dần hoàn thiện vững chắc.Đồng thời việc kinh doanh và hoạt động
sửa chữa của công ty phát triển ,nhiều khách hàng nên lợi nhuận của công ty