ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ TUYẾT
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở
VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ TUYẾT
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở
VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Am Hiểu
Hà Nội – 2014
Mục tiêu nghiên cứu ………………………………………...
2
3.
Tính mới và những đóng góp của đề tài…………………….
3
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …………………………..
4
5.
Nội dung và phương pháp nghiên cứu ………………………
4
6.
Kết cấu của Luận văn………………………………………..
5
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ
1.2.2.
Đặc điểm …………………………………………………….
16
1.2.3.
Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt ………………………........
18
1.2.4.
Mối liên hệ của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sắc thuế
6
khác ........... ………………………………………………….. 19
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU
THỤ ĐẶC BIỆT…………………………………………....
22
2.1.
Thực trạng chính sách pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt....
22
2.2.3.
Một số tồn tại, hạn chế trong việc thực thi pháp luật thuế tiêu
thụ đặc biệt ở Việt Nam hiện nay ……………………............ 60
CHƢƠNG 3: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ
ĐẶC BIỆT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY…………………....
3.1.
66
Định hƣớng cải cách hệ thống thuế của Đảng và Nhà
nƣớc …………………………………………………………. 66
3.1.1.
Quan điểm cải cách hệ thống tài chính nói chung và hệ thống
thuế nói riêng của Đảng ……………………………………... 66
3.1.2.
Chiến lược hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt theo
chủ trương của Nhà nước …………………………………… 68
3.2.
Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam hiện nay ……………..... 70
TTĐB
Tiêu thụ đặc biệt
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Tỷ lệ đóng góp của thuế trong tổng thu ngân
11
sách Nhà nước
2.1
Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt
30
2.2
Cơ cấu thu thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng sản
53
có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Chính vì vậy, thuế là vấn đề quan
tâm hàng đầu của mọi quốc gia, bất kể quốc gia phát triển hay đang phát triển.
Ở nước ta, thuế và hệ thống thuế đã và đang không chỉ là mối quan tâm
của các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, của các nhà nghiên cứu mà
còn của cả các doanh nghiệp và đông đảo quần chúng nhân dân. Trong giai
đoạn cải cách hệ thống chính sách thuế, nhiều sắc thuế đã được nghiên cứu,
xem xét, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong thời
đại mới, đảm bảo hiệu quả quản lý của Nhà nước, trong đó có chính sách thuế
TTĐB.
Thuế TTĐB là loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ xa
xỉ mà Nhà nước cần điều tiết thu nhập của người tiêu dùng có thu nhập cao,
hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh, phân phối và tiêu dùng nhằm
khuyến khích sử dụng tiết kiệm hay hạn chế tiêu dùng. Luật Thuế TTĐB ban
hành lần đầu tiên vào năm 1990, ban đầu chỉ nhằm vào 6 mặt hàng: thuốc lá,
1
rượu, bia, pháo, bài lá và vàng mã. Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế
TTĐB đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển. Luật thuế TTĐB
hiện hành được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008,
có hiệu lực thi hành từ 01/4/2009 và các Nghị định, Thông tư quy định chi
tiết, hướng dẫn thi hành.
Luật thuế TTĐB năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng minh
bạch để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn
của nước ta những năm qua và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy
nhiên trong quá trình thực hiện, Luật thuế TTĐB hiện hành vẫn bộc lộ một số
hạn chế, bất cập dẫn tới khó khăn cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế.
Đồng thời trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế như hiện nay đặt
nghiên cứu, xây dựng các đề án cải cách pháp luật thuế TTĐB phục vụ cho
các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, trong số đó có thể kể tới như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Những vấn đề lý luận và thực tiễn
hoàn thiện thể chế tài chính 2011 – 2020”, chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Trọng
Nghĩa;
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Cải cách hệ thống thuế phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội đến năm 2020”, chủ nhiệm đề tài: Quách Đức Pháp;
- “Báo cáo tổng kết, đánh giá 04 năm tình hình thực hiện Luật thuế
TTĐB” của Bộ Tài chính năm 2014;
- “Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế TTĐB” của Bộ Tài
chính năm 2013;
Ngoài ra, trong giai đoạn hiện tại Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật thuế TTĐB đang được tổ chức lấy ý kiến của các tổ chức, ban
ngành liên quan nên nhận được nhiều sự quan tâm và các ý kiến đóng góp,
được đăng trên các tạp chí chuyên môn.
3
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thể hiện được tính bao quát, hệ
thống đối với các khía cạnh của pháp luật thuế TTĐB, việc đánh giá thực
trạng pháp luật thuế TTĐB chưa được toàn diện trên cả hai phương diện là
thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật thuế TTĐB
ở Việt Nam hiện nay.
Vì vậy, đề tài "Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp" mà tôi chọn để viết luận văn thạc sỹ vào thời điểm này
vẫn bảo đảm tính mới của đề tài nghiên cứu.
Theo đó, luận văn này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
- Luận văn đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật thuế TTĐB, từ đó
góp phần nâng cao hiệu quả cải cách thuế tại Việt Nam hiện nay;
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế và thuế TTĐB
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế TTĐB
Chương 3: Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
thuế TTĐB ở Việt Nam hiện nay
5
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1.1. Lý luận chung về thuế
1.1.1. Khái niệm
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ
quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm
vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử
dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau, mỗi quan điểm
đều nhấn mạnh một chiều theo từng góc độ khác nhau. Mặc dù đến nay còn
nhiều tranh cãi về khái niệm của thuế nhưng các nhà kinh tế đều thống nhất
rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì định nghĩa của thuế phải nêu bật được
các nội dung sau:
- Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính
chất hoàn trả trực tiếp. Nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là cho Nhà
nước mượn tiền hay gửi tiền vào ngân sách Nhà nước hoặc là mua một dịch
vụ công.Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân.
- Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập
trung thuế trên phạm vi toàn xã hội. Chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp
lợi nhuận, lợi tức, cổ phần …, bao gồm:
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập
của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập
chịu thuế.
+ Thuế thu nhập cá nhân: là loại thuế đánh vào thu nhập cá nhân gồm:
tiền lương, tiền công, lợi tức cổ phần và các khoản thu nhập khác.
7
- Thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập): là các loại thuế có cơ sở
đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong
hiện tại. Bao gồm các dạng như:
+ Thuế giá trị gia tăng: là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu
dùng.
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Thuế đánh vào tài sản: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài
sản.
Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại:
- Thuế đánh vào doanh nghiệp
- Thuế đánh vào hộ gia đình
- Thuế đánh vào sản phẩm
Nếu dựa theo lĩnh vực: thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị
đánh thuế, ví dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào bất động sản …
1.1.2.2. Phân loại theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh
thuế, mang tính chất cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm
của các cuộc tranh luận. Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ
yếu sau:
quen được gọi là thuế tuyệt đối)
Nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt
trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng,
diện tích…), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng.
- Thuế tính theo giá trị: là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng
một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế.
9
1.1.2.3. Phân loại theo tính chất hành chính
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo
đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng, thuế
được phân thành hai loại:
- Thuế nhà nước (quốc gia)
- Thuế địa phương
Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung – dân
chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính
quyền không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng. Tất cả
các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn
lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được
thực hiện theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước. Vì vậy, hiện hành ở
nước ta không sử dụng cách phân chia này.
1.1.3. Vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội
1.1.3.1. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập
trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách nhà nước
Đây là vai trò quan trọng nhất của thuế đối với nền kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo
quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân, ngân sách
461.500
Thu từ thuế, phí
300.100
364.472
432.536
93%
93,5%
93.7%
Thuế/tổng thu NSNN
Có thể nói, bằng nhiều nỗ lực cải cách thuế trong những năm qua đã
mang lại những kết quả đáng kể, thu ngân sách liên tục gia tăng. Năm 2012,
tổng thu thuế của Việt Nam đạt 638.000 tỷ đồng, gấp gần 3,3 lần so với số thu
thuế năm 2005. Mức tăng trưởng thu thuế phù hợp với mức tăng trưởng GDP,
vì vậy tỷ lệ động viên từ thuế trên GDP trong 10 năm qua khá ổn định, ở mức
23% - 24% tổng GDP. Riêng trong năm 2013, tổng thu ngân sách Nhà nước
của cả nước đạt hơn 816.800 tỷ đồng, bằng 101 % dự toán năm, tăng xấp xỉ
gần 10% so với cùng kỳ năm 2012[33].
Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày càng tăng lên trong tổng
thu ngân sách Nhà nước, thuế đang ngày càng chứng tỏ vai trò chủ đạo của
mình trong việc huy động tài chính công phục vụ chi tiêu cho cả quốc gia.
-Thứ hai, thuế là nguồn động viên GPD vào ngân sách Nhà nước
với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu đạt hiệu quả tốt. Tổng cầu tăng
hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của các
tầng lớp dân cư, giá cả từng loại sản phẩm, cơ cấu hàng hóa trên thị trường …
Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ
miễn giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến
việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng: khuyến khích phát triển hay hạn chế.
12
Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường. Đó
là việc đánh thuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập.
Vai trò tích cực của thuế với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
có thể được xem xét ở góc độ tài trợ. Tài trợ từ thuế được thực hiện bằng
phương pháp: trực tiếp hay gián tiếp.
Một là, thực hiện các thuế suất đặc biệt, cho miễn giảm thuế nhằm tạo
điều kiện cho các chủ thể kinh tế có thêm thu nhập để giải quyết yêu cầu dịch
chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, qua nguồn thu tăng nhiều từ thuế, Nhà nước có thêm vốn ban
đầu cho các cơ sở, địa phương, vùng lãnh thổ có khó khăn trong việc thực
hiện các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc tài trợ cho các trường
hợp dạy nghề để người lao động có trình độ thấp đáp ứng được yêu cầu phục
vụ các ngành cần trình độ kỹ thuật công nghệ cao được hình thành trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển nông – lâm –
ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch, xây dựng
cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hỗ trợ lưu thông nguyên, nhiên, vật liệu, tiêu thụ
hàng hóa hay xây dựng các công trình thủy lợi ở những vùng thường xảy ra
hạn hán nhằm nâng cao được năng suất lao động, bảo đảm được an toàn
lương thực trong hoàn cảnh diện tích đất sản xuất nông nghiệp càng bị thu
hẹp trong quá trình đô thị hóa.
rất có hiệu quả bởi số thu rất cao, rất dễ thu, việc đánh thuế thường nhận được
sự đồng thuận rất cao của công chúng. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể về kinh
tế xã hội, phong tục tập quán, chính sách tiêu dùng, yêu cầu động viên ngân
sách, khả năng quản lý, giám sát mà mỗi nước có những quy định riêng về
danh mục mặt hàng chịu thuế, mức thuế suất, phương thức tổ chức quản lý
thu.
Nhiều nước áp dụng thuế TTĐB đánh vào nhiều mặt hàng hoá hoặc
dịch vụ, để người dân dễ hiểu, tiện lợi trong tuyên truyền, giải thích cũng như
14
để xây dựng các quy trình thủ tục quản lý hiện đại người ta thường dùng ngay
tên của mặt hàng bị đánh thuế để làm tên gọi, ví dụ: thuế xăng dầu, thuế thuốc
lá, thuế rượu, thuế bia... Qua thống kê từ thực tiễn các nước cho thấy thuế
TTĐB thường được đánh vào các nhóm hàng hoá, dịch vụ sau đây:
- Nhóm hàng hoá, dịch vụ có hại cho sức khoẻ cộng đồng (rượu, thuốc
hút).
- Nhóm hàng hoá, dịch vụ mà người sử dụng chúng thuộc lớp người có
thu nhập cao, Nhà nước cần điều tiết (ô tô, tàu bay cá nhân, du thuyền, mỹ
phẩm cao cấp, dịch vụ làm đẹp...).
- Nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục độc quyền Nhà nước hoặc
Nhà nước cần kiểm soát đặc biệt.
- Hàng hoá thuộc danh mục cần định hướng để thực hiện chính sách
quốc gia về năng lượng, tài nguyên thiên nhiên (xăng dầu, sản phẩm khai
khoáng...).
- Hàng hoá, dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có thể ảnh hưởng tiêu cực
đến thuần phong, mỹ tục, trật tự xã hội (bài lá, cá độ, mát xa...).
Thuế TTĐB là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến ở các nước
trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt,
ngừa các trường hợp lợi dụng, trục lợi để trốn thuế, góp phần tạo môi trường
bình đẳng, lành mạnh.
1.2.2. Đặc điểm
- Thứ nhất, thuế TTĐB có tính chất gián thu. Tính chất gián thu của
loại thuế này thể hiện: Thuế TTĐB đánh vào thu nhập của người tiêu dùng
hàng hoá và dịch vụ chịu thuế TTĐB một cách gián tiếp thông qua giá cả của
hàng hoá, dịch vụ mà người đó tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB là người nộp thuế cho Nhà nước thay cho người
tiêu dùng. Như vậy, người sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ
16
sẽ nộp thuế TTĐB và khoản thuế này được chuyển vào giá bán sản phẩm và
chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu.
- Thứ hai, thuế TTĐB là thuế tiêu dùng, nhưng khác với thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng, thuế TTĐB có đối tượng chịu thuế hẹp,
chỉ bao gồm một số hàng hoá, dịch vụ Nhà nước cần điều tiết.
Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB được pháp luật thuế các
nước qui định hầu như giống nhau gồm : rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng...;
kinh doanh cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc... Như vậy, đối tượng chịu
thuế chủ yếu là những hàng hóa, dịch vụ có tính chất đặc biệt hoặc là loại xa
xỉ phẩm cần điều tiết thu nhập, hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh,
tiêu dùng do việc tiêu dùng có ảnh hưởng tiêu cực đến con người nhưng
không thể cấm tiêu dùng.
- Thứ ba, thuế TTĐB thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản
xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần
thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này.
Do đối tượng của thuế TTĐB chỉ áp dụng với một số hàng hoá, dịch vụ
nên các nước thường áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB cao để hướng dẫn
Thuế TTĐB có vai trò rất lớn như sau:
- Thông qua chế độ thu thuế TTĐB, Nhà nước động viên một phần thu
nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước.
Đặc thù các đối tượng chịu thuế là những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ
phẩm, hoặc các hàng hóa, dịch vụ đặc biệt cần điều tiết tiêu dùng, do đó mức
thuế suất thuế TTĐB đều được áp dụng rất cao ở tất cả các nước. Trung bình
thuế TTĐB chiếm khoảng 15- 18% trong tổng số thuế gián thu và chiếm từ 910% tổng số thu từ thuế và phí hàng năm của Nhà nước [35][36].
- Thuế TTĐB là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức
năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội.
18