Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt
Nam - Thực trạng và giải pháp
Trần Quốc Hùng
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 58 30
Người hướng dẫn: PGS. TS Lê Thị Thu Thuỷ
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Khái quát chung về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và pháp luật về hoàn
thuế giá trị gia tăng. Đánh giá thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt
Nam. Đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
Keywords: Pháp luật Việt Nam; Luật kinh tế; Hoàn thuế; Thuế giá trị gia tăng
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) lần đầu tiên được Quốc hội khóa IX thông qua ngày
10/5/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999. Việc quy định thuế GTGT thay cho
thuế doanh thu là một bước cải cách quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam.
Tính đến nay, Luật đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 3
Quốc hội khóa XII, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 03/6/2008 đã thông qua
Luật thuế GTGT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Kể từ khi ban hành cho đến nay,
thuế GTGT luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội, của các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế, tổ chức, cá nhân.
Thuế GTGT là một sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Điểm
nổi bật của thuế GTGT là khắc phục được nhược điểm thu trùng lắp, chồng chéo qua nhiều
khâu của thuế doanh thu. Khấu trừ là một đặc trưng cơ bản của thuế GTGT, qua cơ chế này
các doanh nghiệp cũng thường lợi dụng để thực hiện những hành vi gian lận để chiếm đoạt
Chính phủ.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, đã có nhiều đề tài tập trung tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề xung quanh các
quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT. Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về thuế, Bộ
Tài chính - Tổng Cục thuế cũng đã tiến hành những nghiên cứu các quy định của các nước về
hoàn thuế GTGT trước khi áp dụng chính sách hoàn thuế GTGT ở nước ta, cụ thể nghiên cứu
về:
Thực tiễn tại Pháp khi áp dụng Chỉ thị 2008/9/EC về các phương thức hoàn thuế GTGT
cho các công ty thành lập tại một nước thành viên. Các quy định chính đã được quy định ở
Đạo Luật tài chính 2010 của Pháp (Mục 102), quy định về nguyên tắc nộp đơn và thủ tục
hoàn thuế GTGT.
Báo cáo khảo sát về hoàn thuế GTGT của Đức khi quy định về thủ tục hoàn thuế GTGT
tại Đức áp dụng cho các doanh nhân Đức trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thực tiễn áp dụng quy chế hoàn lại tiền thuế GTGT cho hàng hóa và dịch vụ đủ tiêu
chuẩn hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp, tổ chức, hay hiệp hội trong hoạt động kinh
doanh tại Đài Loan…
Đồng thời, nhiều hội thảo của Cục Thuế các tỉnh, thành phố ở Việt Nam đã được tổ chức
nhằm tháo gỡ và giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng hoàn thuế GTGT ở từng
địa phương.
Trong giới luật học, nhiều tác giả lựa chọn pháp luật về hoàn thuế GTGT là đề tài nghiên
cứu ở góc độ lý luận, cũng như nhiều bài viết mang tính nghiên cứu trao đổi của các chuyên
gia pháp lý đăng trên các tạp chí chuyên ngành, cụ thể: Luận văn thạc sỹ luật học năm 2006
của Bùi Công Quang về đề tài "Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị
gia tăng ở Việt Nam"; Bài viết của Nguyễn Văn Tuyến năm 2008 tại Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp điện tử về "Một số ý kiến trao đổi, bình luận về dự án luật thuế thu nhập doanh nghiệp
3
và dự án luật thuế giá trị gia tăng"; Bài viết của Lê Thị Thu Thủy năm 2008 tại Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp điện tử về "Luật thuế giá trị gia tăng nên sửa đổi theo hướng nào" v.v…
Luận văn "Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp"
thuế giá trị gia tăng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP
LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng, khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng
4
Tại Điều 2, Luật thuế GTGT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2009 quy định: "Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng
thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng".
Như vậy, thuế GTGT được coi là một loại thuế tiêu dùng và là thuế gián thu nhằm đánh
vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhưng được thu ở khâu bán hàng. Nói một cách khác,
thuế GTGT là sắc thuế áp dụng đối với giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các
khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đặc biệt, thuế GTGT đánh vào khâu cuối cùng
(khâu tiêu dùng) sẽ bằng tổng giá trị các lần đánh thuế của các khâu trước đó.
Dưới góc độ pháp lý, thuế GTGT là nghĩa vụ tài chính theo đó người chịu thuế phải nộp
một phần thu nhập của mình cho Nhà nước, thông qua hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.
Trong thực tế, phần đông các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế GTGT không tự nguyện nộp thuế
nếu như Nhà nước không ràng buộc họ bằng các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc. Vì vậy, những nội
dung cơ bản về thuế GTGT đã được quy định trong luật thuế GTGT năm 2008, gồm 4
chương, 12 điều.
Đặc điểm thuế GTGT
Đặc điểm của thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ trên bình diện rộng. Tính gián thu của thuế GTGT được thể hiện qua đối tượng
chịu thuế và đối tượng nộp thuế là hai chủ thể hoàn toàn khác nhau. Mặt khác sắc thuế này
cũng mang bản chất liên hoàn và có tính trung lập kinh tế cao, mang những đặc tính cơ bản,
đặc trưng của một sắc thuế khoa học, tiên tiến như: tính lũy thoái, điều tiết hành vi tiêu dùng
Hồ sơ hoàn thuế GTGT phải do chính chủ thể nộp thuế GTGT lập hợp lệ theo quy định của
pháp luật nhằm chứng minh sự thỏa mãn các điều kiện được xét và chấp nhận hoàn thuế.
1.2. Các nguyên tắc hoàn thuế giá trị gia tăng
Nguyên tắc quan trọng trong hoàn thuế GTGT là chỉ hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng
hóa, dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
Nguyên tắc chỉ hoàn thuế cho các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
khi họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thuế và có đủ các điều kiện luật định về hoàn thuế GTGT.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của hoàn thuế giá trị gia tăng
Hoàn thuế là một chế định pháp luật của Luật thuế GTGT. Thông qua việc thực hiện pháp
luật thuế GTGT thì hoàn thuế GTGT đã thể hiện được những vai trò và ý nghĩa như sau:
Thứ nhất: Hoàn thuế GTGT thể hiện tính ưu việt, vượt trội của thuế GTGT so với thuế
doanh thu. Hoàn thuế GTGT đã khắc phục nhược điểm đánh thuế trùng lặp giữa các khâu, đối
với cùng một hàng hóa, dịch vụ hay cùng một chủ thể nộp thuế, từ khâu sản xuất, lưu thông
đến tiêu dùng của thuế doanh thu.
Thứ hai: Hoàn thuế GTGT giữ vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm tính công
bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế.
Thứ ba: Hoàn thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích, đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ.
Thứ tư: Hoàn thuế GTGT là động lực để doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hóa đơn, chứng từ, chế độ kế toán.
1.4. Nội dung của pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng
Pháp luật về hoàn thuế GTGT điều chỉnh mối quan hệ giữa một bên là nhà nước (đại diện
là cơ quan thuế) và một bên là chủ thể yêu cầu hoàn thuế. Quan hệ pháp luật này xuất hiện khi
có sự kiện pháp lý là đơn yêu cầu hoàn thuế cả cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có quyền này.
Quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành trong lĩnh vực thuế nói chung và hoàn thuế GTGT nói riêng, quy định về hoàn thuế GTGT,
cụ thể về: Đối tượng, điều kiện, các trường hợp được hoàn thuế, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ra
quyết định hoàn thuế GTGT như:
Hoàn thuế GTGT được thực hiện khi có quyết định hành chính của cơ quan thuế có thẩm
quyền. Cơ quan thuế ra quyết định hoàn trả lại cho chủ thể nộp thuế GTGT một khoản tiền
hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 5 của Luật này".
Trường hợp đối tượng nộp thuế có phát sinh số thuế đầu vào nhưng lại không có thuế đầu
ra (hàng hóa, dịch vụ bán ra không thuộc diện chịu thuế GTGT) thì đối tượng nộp thuế cũng
được hoàn thuế.
2.1.2. Các trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng
Pháp luật về thuế GTGT không quy định cho từng đối tượng cụ thể được hoàn thuế mà chỉ
quy định các trường hợp hoàn thuế. Các trường hợp hoàn thuế đã được quy định tại mục C,
Thông tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/NĐ-
CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
luật thuế GTGT.
Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều doanh nghiệp hoạt động với quy mô nhỏ nên lũy kế số thuế
đầu vào trong thời gian ba tháng cũng không đáng kể. Các cơ sở kinh doanh không có hoạt động
xuất khẩu hoặc có nhưng giá trị thấp, thì dù số thuế đầu vào trong tháng phát sinh cao đến mấy
vẫn không được hoàn thuế theo tháng mà phải chờ đủ ba tháng. Điều này sẽ làm cho vốn của các
doanh nghiệp bị lưu lại khá lâu, gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh tiếp theo của họ.
Đây là một hạn chế rất lớn của quy định về hoàn thuế GTGT.
2.2. Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng
Luật thuế GTGT hiện hành không quy định cụ thể điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT
chung cho mọi trường hợp, mà chỉ quy định điều kiện riêng cho từng trường hợp hoàn thuế.
Tuy nhiên, qua các quy định hiện hành về hoàn thuế GTGT và thực tiễn áp dụng, có thể thấy
điều kiện hoàn thuế GTGT bao gồm các điểm sau đây.
2.2.1. Hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
Doanh nghiệp xin hoàn thuế phải hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời có số
thuế GTGT đầu vào lớn hơn thuế GTGT đầu ra. Hàng hóa, dịch vụ bán ra phải là những hàng
7
hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Điều đó có nghĩa rằng những hàng hóa, dịch vụ này phải không
rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 5 luật thuế GTGT năm 2008.
Hàng hóa, dịch vụ bán ra phải là những hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và phải gắn
Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 quy định thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn
thuế thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế tối đa là sau 60 ngày. Tuy nhiên, trong trường hợp
ngành thuế nghi ngờ doanh nghiệp gian lận thuế GTGT, cần có thời gian để xác minh thì thời
hạn 15 ngày là không đủ, bởi vì việc xác minh các hóa đơn mất nhiều thời gian, thậm chí hồ
sơ gửi đi xác minh còn không được cơ quan thuế các địa phương phản hồi.
Với cơ chế chính sách "tiền thoái, hậu kiểm" thực sự tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp,
giải phóng nguồn vốn, quay vòng vốn nhanh, bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp là đối
tượng nộp thuế GTGT. Qui định về thời hạn xem xét hồ sơ hoàn thuế rất chặt, trung bình là
trong 15 ngày, nhưng không quá 30 ngày. Do vậy, một số doanh nghiệp đã gian lận hồ sơ
chứng từ giả mạo để chiếm đoạt hàng tỷ đồng tiền hoàn thuế. Việc kiểm tra đối chiếu các
8
chứng từ không thể thực hiện ngày một, ngày hai, đặc biệt trong trường hợp người bán, người
mua ở địa bàn khác nhau.
2.4. Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng
2.4.1. Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng
Hồ sơ hoàn thuế GTGT được quy định cụ thể cho 8 trường hợp tại Điểm 2, Mục I phần G
Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết thi hành
một số điều của Luật quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế.
Qua thực tế áp dụng, phần lớn các vi phạm trong hoàn thuế đã bị phát hiện rơi vào trường
hợp xuất khẩu do chính sách ưu đãi của nhà nước trong khuyến khích hàng hóa xuất khẩu.
Hình thức gian lận phổ biến để xin hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT của Nhà
nước tập trung chủ yếu ở hai trường hợp: Thứ nhất, ngụy tạo hồ sơ xuất khẩu. Nhiều doanh
nghiệp đã lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT, tạo dựng hồ sơ giả xin hoàn thuế đến nhiều tỷ
đồng; thứ hai, ngụy tạo hồ sơ nộp thuế GTGT đầu vào trong trường hợp có hàng hóa thực để
xuất khẩu nhưng không nộp thuế GTGT đầu vào.
Trong hai trường hợp này đều nảy sinh vấn đề mua, bán hóa đơn, chứng từ nhằm hợp
thức hồ sơ hoàn thuế GTGT.
2.4.2. Hóa đơn, chứng từ hoàn thuế giá trị gia tăng
hóa đơn GTGT.
2.5. Giải quyết tranh chấp về hoàn thuế giá trị gia tăng
Tranh chấp liên quan đến hoàn thuế GTGT là tình trạng mâu thuẫn, bất đồng và xung đột
quan điểm, lợi ích giữa đối tượng có yêu cầu hoàn thuế và cơ quan thuế trong quá trình hoàn
thuế GTGT.
Thứ nhất: Tranh chấp liên quan đến hoàn thuế GTGT phát sinh giữa các chủ thể tham gia
hoàn thuế GTGT, bao gồm đối tượng có quyền hoàn thuế GTGT, các chủ thể này thường có
các quyền và lợi ích đối lập nhau.
Thứ hai: Đối tượng tranh chấp về hoàn thuế chính là những lợi ích liên quan đến số thuế
được hoàn. Khoản tiền này phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa các bên tranh chấp và thường là
căn nguyên chủ yếu dẫn đến tranh chấp giữa họ.
Khiếu nại và khởi kiện liên quan đến hoàn thuế GTGT
Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ thừa nhận các trường hợp khiếu nại, khởi kiện liên
quan đến hoàn thuế GTGT mà tranh chấp phát sinh giữa các bên chủ thể yêu cầu hoàn thuế và
một bên là cơ quan thuế ra quyết định xử lý vi phạm trong lĩnh vực hoàn thuế của các cơ sở
kinh doanh thì không được coi là tranh chấp liên quan đến hoàn thuế GTGT. Giải thích cho
hiện tượng này là bởi lẽ cơ quan thuế đại diện cho quyền lực chính trị. Vì vậy, Nhà nước
không phải là chủ thể ngang hàng, bình đẳng đối với các chủ thể nộp thuế.
Giải quyết tranh chấp liên quan đến hoàn thuế GTGT theo thủ tục khiếu nại hành chính
mà thực chất là việc giải quyết tranh chấp bằng con đường tự thương lượng giữa các bên.
Giải quyết tranh chấp liên quan đến hoàn thuế GTGT theo thủ tục tố tụng tại tòa hành
chính.
Tóm lại, hoàn thuế GTGT là một chế định hết sức tiến bộ của luật thuế GTGT. Hoàn thuế
GTGT giữ vai trò, ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm tính công bằng, bình đẳng cho các chủ
thể nộp thuế; kích thích, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp
nói riêng, của nền kinh tế đất nước nói chung.
Bên cạnh những ưu điểm trên, việc áp dụng luật thuế mới trong hai năm qua cũng bộc lộ
một số vấn đề bất cập, cần tiếp tục khắc phục, tập trung chủ yếu là vấn đề hoàn thuế và sự lợi
dụng cơ chế này.
Những bất cập trong các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT, cụ thể là:
Hoàn thiện các nội dung pháp luật về hoàn thuế GTGT là một trong những vấn đề khó, rất
mới và mang tính thời sự, nhạy cảm hiện nay, vì vậy, khi đề xuất, xây dựng và thực hiện các giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế GTGT cần thiết phải có những quan điểm hợp lý, khả thi
và nhất quán trong chính sách hoàn thuế để đảm bảo nguyên tắc công bằng, bình đẳng của các
chủ thể trong việc áp dụng và thực hiện chính sách về hoàn thuế GTGT ở Việt Nam. Mặt khác,
quá trình hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế GTGT cũng phải tuân thủ theo các định hướng, chỉ
đạo cải cách về Thuế của Đảng và Chính phủ. Xuất phát từ những quan điểm này để đề xuất sửa
đổi, bổ sung các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT hiện hành theo một trật tự khoa học
mới, sẽ hạn chế được tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình áp dụng và thực hiện các quy
định pháp luật về hoàn thuế GTGT trong đời sống kinh tế - xã hội.
Trước hết, hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế GTGT phải đảm bảo tính hiệu quả và khả
thi. Yêu cầu này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập pháp và giới luật học
trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế GTGT cần tính đến tính khả thi của
mỗi quy định, tính hiệu quả, lợi ích thu được khi đặt ra các quy định đó.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế GTGT phải bảo đảm tính thống nhất phù hợp
với pháp luật thuế GTGT và pháp luật về hệ thống thuế, đồng thời, đồng bộ với pháp luật kinh
tế, tài chính của đất nước. Pháp luật hoàn thuế GTGT ở Việt Nam có phạm vi đối tượng điều
chỉnh rộng nên có tác động và liên quan đến một số luật khác như: Luật doanh nghiệp, Luật
quản lý thuế, Luật ngân hàng… Ngoài ra, để triển khai có hiệu quả các văn bản chính sách,
pháp luật về hoàn thuế GTGT trên thực tế đòi hỏi các văn bản điều chỉnh về nghiệp vụ quản lý
thuế, nghiệp vụ tài chính ngân hàng phải đồng bộ, giúp cho các giao dịch kinh tế thể hiện tính
minh bạch, chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ được thực hiện một cách tự giác trong quần
chúng nhân dân. Thuận tiện cho các doanh nghiệp, các chủ thể thuộc diện hoàn thuế và thuận
lợi ngay cả với cơ quan thuế có thẩm quyền khi xét duyệt, giải quyết hoàn thuế GTGT.
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế GTGT phải đảm bảo được quyền lợi chính đáng
của người nộp thuế, có ảnh hưởng tích cực cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong
sản xuất, lưu thông và xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ. Với đặc thù là một nước đang phát triển như
nước ta thì những vấn đề phát sinh về thuế GTGT cần phải được các cơ quan Nhà nước quan
tâm để dần hoàn thiện nhằm phản ánh đúng thực tiễn hoàn thuế GTGT ở nước ta.
Hóa đơn, chứng từ là vấn đề cốt lõi đặc biệt quan trọng trong hồ sơ hoàn thuế GTGT, là
công cụ chủ yếu để kiểm soát hoạt động giao dịch của kinh doanh trên thị trường. Ngoài tác
dụng là một chứng từ kế toán, hóa đơn lại giữ một vai trò rất quan trọng chi phối mọi hoạt
động của doanh nghiệp, nó luân chuyển cùng với hàng hóa, dịch vụ…
Cần tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện, chặt chẽ và khả thi về việc phát hành, sử
dụng, lưu thông hóa đơn vừa đáp ứng yêu cầu quản lý, đồng thời tạo quyền tự chủ cho các doanh
nghiệp trong việc sử dụng hóa đơn, cụ thể:
Cục thuế địa phương chỉ bán hóa đơn cho một số đối tượng là tổ chức không phải là
doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh, hộ gia đình và cá nhân kinh doanh có cơ sở tại
địa phương hoặc các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân không đăng
ký kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng, dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho
khách hàng.
Tại Khoản 1, Điều 33; Khoản 1, Điều 29; Khoản 1, Điều 28; Khoản 6, Điều 29 của Nghị định
số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định xử phạt về các hành vi: Đặt in hóa đơn mà không ký
hợp đồng in bằng văn bản; tự in hóa đơn, khởi tạo hóa đơn điện tử mà không đủ các nội dung quy
định tại Khoản 3, Điều 4 Nghị định; đặt in hóa đơn giả… Việc quy định xử phạt vi phạm hành
12
chính về vi phạm trên về hóa đơn là cần thiết. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các lỗi vi phạm cần
phải quy định các mức xử phạt mạnh tay hơn đối với các vi phạm, cụ thể:
+ Các hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn áp dụng đối với hành vi không ghi đủ hoặc
ghi không ghi đúng các nội dung in sẵn khi lập hóa đơn sẽ bị xử phạt với mức thấp nhất là 5
triệu đồng và mức cao nhất là 10 triệu đồng.
+ Các hành vi như đặt in hóa đơn mà không ký hợp đồng in bằng văn bản; vi phạm chế độ
báo cáo việc in hóa đơn theo quy định của Bộ Tài chính; hành vi khai không đúng điều kiện
để được mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành hành hay hành vi lập hóa đơn nhưng không
giao cho người mua sẽ bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng.
+ Hành vi tự in hóa đơn hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ các điều kiện quy
định sẽ bị phạt tiền từ 15 - 50 triệu đồng.
+ Đặc biệt, nếu tự in hóa đơn giả của doanh nghiệp sẽ bị phạt gấp hai lần số tiền ghi trên
Đầu tư hạ tầng cơ sở và trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hệ thống thanh toán cốt lõi là
thanh toán liên ngân hàng vì đây là hệ thống thanh toán xương sống trong nền kinh tế.
13
Hoàn thiện các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt truyền thống như séc, lệnh thu,
nhờ chi theo hướng thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, đơn giản hóa thủ tục sử dụng, đảm bảo
tính an toàn và bảo mật trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại trong khâu xử lý giao
dịch.
3.2.4. Về quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng
Phân loại hồ sơ hoàn thuế:
Bộ Tài chính cần phải có văn bản quy định rõ ràng, cụ thể trường hợp nào thuộc diện "hoàn
thuế trước, kiểm tra sau" và "kiểm tra trước, hoàn thuế sau". Trên cơ sở đó, người nộp thuế sau
khi tính thuế, khai thuế, khai quyết toán thuế mà thấy số tiền thuế đầu vào lớn hơn đầu ra trong
ba tháng liền thuộc diện được hoàn thuế GTGT thì chỉ cần đánh vào ô đề nghị hoàn thuế. Nếu
số liệu khai thuế không sai sót thì việc hoàn thuế được thực hiện ngay. Còn đối với các trường
hợp hoàn thuế mà cần phải đối chiếu chứng từ, hồ sơ tài liệu như hoàn thuế trong trường hợp
sáp nhập, giải thể, chuyển đổi sở hữu thì sẽ áp dụng trường hợp kiểm tra trước, hoàn thuế sau.
Loại bỏ 3 loại giấy tờ sau trong thành phần hồ sơ đề nghị hoàn thuế của trường hợp "hoàn thuế
trước, kiểm tra sau", đó là: Chứng từ nộp thuế; các tài liệu khác liên quan đến chứng từ hoàn
thuế; bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở.
Tiếp tục thực hiện về cải cách thủ tục hành chính (theo Đề án 30 của Chính phủ), Tổng cục
Thuế nên sớm ban hành văn bản cho phép bỏ qua khâu thẩm định pháp lý đối với hồ sơ hoàn thuế,
qua đó giảm được hai chữ ký và rút ngắn thêm hai ngày trong quy trình hoàn thuế nhằm đơn giản
hóa thủ tục về hoàn thuế GTGT.
Giải quyết hồ sơ hoàn thuế:
Luật Quản lý thuế cần phải sửa theo hướng "phân loại đối tượng nộp/hoàn thuế theo quy
mô để có biện pháp quản lý phù hợp và áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, vừa tránh thất
thu cho ngân sách, vừa đơn giản hóa thủ tục". Ngoài ra, Bộ Tài chính cần có các văn bản
hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 60/2007/TT-BTC, trong đó có quy định cụ thể
trường hợp "hoàn trước, kiểm tra sau" và "kiểm tra trước, hoàn thuế sau" trình tự thực hiện
KÕt luËn
Pháp luật về hoàn thuế GTGT giữ vị trí quan trọng trong hệ thống các văn bản pháp luật
về thuế ở nước ta hiện nay. Qua phân tích cho thấy, pháp luật về hoàn thuế GTGT là những
quy định pháp luật về thuế mới và tiến bộ. Cơ chế hoàn thuế GTGT có tác động rất lớn và tích
cực đến các đối tượng thuộc diện hoàn thuế. Cụ thể, thông qua việc hoàn thuế GTGT, nhà
nước đã ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp, tận dụng các nguồn lực tái đầu tư mở rộng, tăng khả
năng cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam trên thị
trường quốc tế.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì những cơ hội và thách thức đặt ra đối với
các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn. Hơn bao giờ hết, việc hỗ trợ các doanh nghiệp một cách
hiệu quả sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể đứng vững trên thương trường, nâng cao
được năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, các sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp nội địa sẽ được người tiêu dùng yêu thích, ưa chuộng.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế đất nước vẫn còn chịu nhiều tác động,
ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó
khăn về tài chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nếu đồng tiền hoàn thuế GTGT được
nhà nước chi trả kịp thời, đúng đối tượng, phù hợp với từng trường hợp hoàn thuế thì sẽ có tác
dụng hỗ trợ tích cực và có ý nghĩa rất lớn với các doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách thuế
GTGT nói chung, pháp luật về hoàn thuế GTGT nói riêng của Việt Nam cần phải có những
chỉnh lý, sửa đổi kịp thời, hướng tới các mục tiêu minh bạch, hiệu quả, công bằng, đáp ứng và
đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Việc thực hiện các giải pháp về pháp luật hoàn thuế GTGT ở Việt Nam giúp Nhà nước
khắc phục được những lỗ hổng, tồn tại trong chính sách hoàn thuế, gây dựng niềm tin cho các
doanh nghiệp làm ăn chân chính vào chính sách hoàn thuế GTGT của nhà nước, góp phần
ngăn ngừa có hiệu quả đối với những doanh nghiệp có hành vi lợi dụng chính sách hoàn thuế
GTGT để chiếm đoạt tiền hoàn thuế, làm thâm hụt ngân sách nhà nước như thời gian qua. Mặt
khác, các cơ quan thuế nhà nước có thẩm quyền giải quyết về hoàn thuế GTGT cũng cần phải
đẩy mạnh và tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với các chủ thể thuộc diện hoàn thuế trong
việc chấp hành và thực hiện các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT, tránh tình trạng thực
hiện không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến các doanh nghiệp.
số điều của Luật quản lý thuế, Hà Nội.
9. Chính phủ (2007), Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà
nước giai đoạn 2007-2010 (Đề án 30), Hà Nội.
10. Chính phủ (2007), Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6 quy định xử lý vi phạm pháp
luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, Hà Nội.
11. Chính phủ (2008), Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12 quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Hà Nội.
16
12. Chính phủ (2008), Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12 về những giải pháp cấp
bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã
hội, Hà Nội.
13. Chính phủ (2010), Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5 quy định về hóa đơn bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, Hà Nội.
14. "Doanh nghiệp ma móc túi Nhà nước" (2006), http://www. hanoimoi.com.vn/
newsdetail/kinh_te/80871, ngày 26/3.
15. "Gia tăng tình trạng doanh nghiệp lừa đảo hoàn thuế" (2008), http://www.
tapchiketoan.com/tin -tuc/tin-tuc-thue-phi, ngày 29/7.
16. Phan Mỹ Hạnh (2009), "Gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng thông qua
chứng từ, hoá đơn khống và nguy cơ thất thoát ngân sách nhà nước",
http://www.luatviet.org/Home/ nghien-cuu-trao-doi/kinh-te-thuong-mai/2009/8552, ngày
30/8.
17. Trần Đình Hảo (2003), Pháp luật thuế giá trị gia tăng những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Tài chính, Hà Nội.
18. Nguyễn Thị Thương Huyền (2002), Những vấn đề pháp lý về việc áp dụng thuế giá trị
gia tăng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học.
19. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2002), Giáo trình Luật tài chính Việt Nam, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
20. Hoài Lương (2010), "Thuế VAT sau 13 năm vẫn nhiều bất cập", http://dantri.
com.vn/c76/s76-377216, ngày 03/02.
nhân dân, Hà Nội.
38. Trường Đại học quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
39. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
40. Trương Anh Tuấn (2005), "Giải quyết như thế nào cho thoả đáng những vụ án về hoàn
thuế giá trị gia tăng", Toà án nhân dân, (12).
18
41. Trần Anh Tuấn (2009), "Những bất cập trong phương pháp tính thuế và qui trình hoàn
thuế giá trị gia tăng", http:// www.luatviet.org/Home/ nghien-cuu-trao-doi/kinh-te-
thuong-mai/2009/8567, ngày 30/8.
42. Nguyễn Văn Tuyến (2008), "Một số ý kiến trao đổi, bình luận về dự án luật thuế thu nhập
doanh nghiệp và dự án luật thuế giá trị gia tăng",
vibonline.com.vn/viVN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=1882, Hà Nội.
43. Đào Trí Úc (1997), Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, NXb
Khoa học và Xã hội, Hà Nội.
44. "Xét xử vụ Phạm Công luận và đồng bọn lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (2009),
http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/DetailNews.asp?ID=1306, ngày 28/9.
45. Hải Yến (2011), "Hoãn xử vụ Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh bị kiện",
http://phapluattp.vn/20110301115812 794p1063c1016, ngày 02/3.
TIẾNG ANH
46. David Fitzgerald (2009), "PwC Corporate Income Tax and Value Added Tax updates for
Vietnam", http://www.eurochamvn.org /Downloads/
EuroCham%20Newsletter_ENQ108_pg4&5.pdf, date 01/01.
47. "Law on value-added tax" (2006), http://www.vientianetimes.org.la /Laws%20
in%20English/64.%20Law%20on%20Value%20Added%20Tax%20, date 26/12.
48. Martin Brune (2009), "How to get foreign VAT refund", http://www.
justlanded.com/english/Germany/Articles/Business/VAT-refund, date 15/01.
49. "Request for refund of VAT in another Member State" (2010), http://impots-
service.net/french-tax-french-taxation-vat-help-france/french-vat/request-for-refund-of-vat-