MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHẤU TRỪ, HOÀN THUẾ GIÁ
TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
6
1.1.
Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng, khấu trừ và
hoàn thuế giá trị gia tăng
6
1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng
6
34
2.2.2.
Thanh toán qua ngân hàng
35
2.3.
Quy trình, thời hạn giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng
40
2.3.1.
Quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng
40
2.3.2.
Thời hạn giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng
45
2.4.
Hồ sơ, hóa đơn hoàn thuế giá trị gia tăng
45
2.4.1.
Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng
45
2.4.2.
Hóa đơn, chứng từ hoàn thuế giá trị gia tăng
54
2.5.
Giải quyết tranh chấp về hoàn thuế giá trị gia tăng
61
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOÀN
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM
71
3.1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCT
: Chi cục thuế
GTGT
: Giá trị gia tăng
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) lần đầu tiên được Quốc hội khóa IX
thông qua ngày 10/5/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999. Việc
quy định thuế GTGT thay cho thuế doanh thu là một bước cải cách quan trọng
trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam. Tính đến nay, Luật đã trải qua
nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII,
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 03/6/2008 đã thông qua Luật
thuế GTGT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Kể từ khi ban hành cho
đến nay, thuế GTGT luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội, của các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức, cá nhân.
Thuế GTGT là một sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ. Điểm nổi bật của thuế GTGT là khắc phục được nhược điểm thu
hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hoàn thuế GTGT để chính sách này công
bằng, bình đẳng hơn cho xã hội, cho các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế,
tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.
Chính những lý do kể trên, đã giúp học viên mạnh dạn chọn đề tài:
"Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Thực trạng và giải
pháp" làm luận văn thạc sĩ.
Với đề tài này, học viên mong muốn được tiếp tục nghiên cứu pháp
luật về hoàn thuế GTGT, qua đó phân tích, đánh giá thực trạng nhằm tìm ra
những hạn chế, bất cập và đưa ra các giải pháp về hoàn thuế GTGT ở Việt
Nam, góp phần làm rõ chính sách thuế GTGT của Chính phủ.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, đã có nhiều đề tài tập trung tìm hiểu và nghiên cứu các vấn
đề xung quanh các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT. Với tư cách là cơ
3
quan quản lý nhà nước về thuế, Bộ Tài chính - Tổng Cục thuế cũng đã tiến
hành những nghiên cứu các quy định của các nước về hoàn thuế GTGT trước
khi áp dụng chính sách hoàn thuế GTGT ở nước ta, cụ thể nghiên cứu về:
Thực tiễn tại Pháp khi áp dụng Chỉ thị 2008/9/EC về các phương thức
hoàn thuế GTGT cho các công ty thành lập tại một nước thành viên. Các quy
định chính đã được quy định ở Đạo Luật tài chính 2010 của Pháp (Mục 102),
quy định về nguyên tắc nộp đơn và thủ tục hoàn thuế GTGT.
Báo cáo khảo sát về hoàn thuế GTGT của Đức khi quy định về thủ tục
hoàn thuế GTGT tại Đức áp dụng cho các doanh nhân Đức trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh.
Thực tiễn áp dụng quy chế hoàn lại tiền thuế GTGT cho hàng hóa và
dịch vụ đủ tiêu chuẩn hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp, tổ chức,
hay hiệp hội trong hoạt động kinh doanh tại Đài Loan…
Đồng thời, nhiều hội thảo của Cục Thuế các tỉnh, thành phố ở Việt
Nam đã được tổ chức nhằm tháo gỡ và giải quyết các vướng mắc trong thực
Việt Nam.
Các khái niệm xuất hiện trong luận văn tốt nghiệp luật học này được
dừng ở mức độ sử dụng kết quả nghiên cứu của các học giả và các nhà kinh tế
học, để phục vụ tốt hơn cho việc tiếp cận các quy định pháp luật hiện hành về
hoàn thuế GTGT.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, so sánh,
tổng hợp, đánh giá, khảo sát, thống kê… để làm rõ các nội dung nghiên cứu
trong đề tài.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
pháp luật hoàn thuế GTGT ở Việt Nam. Luận văn phân tích và làm sáng tỏ
5
thực trạng pháp luật về hoàn thuế GTGT, trên cơ sở đó nêu ra những điểm
hạn chế, bất cập hiện nay trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế
GTGT và đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và
pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng
ở Việt Nam. 6
Chƣơng 1
những lợi thế cạnh tranh rất lớn so với hàng hóa các nước khác trong khu vực.
Nhìn chung, các quốc gia thuộc khối Liên minh châu Âu, châu Phi,
châu Mỹ La tinh và một số quốc gia châu Á đã áp dụng thuế GTGT. Tính đến
nay, đã có khoảng hơn 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT, các quốc gia khác
cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này.
Đặc biệt, Mỹ là một nước có nền kinh tế phát triển nhưng lại không áp
dụng thuế GTGT. Theo cấu trúc pháp luật của Mỹ, ngoài hệ thống pháp luật
thuế chung cho toàn Liên bang thì mỗi Bang lại có hệ thống pháp luật thuế
riêng của mình. Nếu đặt ra thuế GTGT trên toàn Liên bang thì phải cộng thêm
thuế GTGT toàn Liên bang vào phần thuế thu ở từng bang, đây là vấn đề rất
phức tạp và khó thực hiện. Thuế doanh thu ở Mỹ chỉ đánh trên khâu bán lẻ,
do đó về nguyên tắc không có việc đánh thuế trùng lặp. Mỹ hiện đã áp dụng
công nghệ tin học tiên tiến vào phục vụ công tác quản lý thuế. Mặt khác,
người dân Mỹ lại rất tự giác thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ trong mua
bán nên cơ quan thuế dễ dàng đối chiếu chính xác, thuận tiện giữa doanh thu
và chi phí của các đối tượng nộp thuế. Vì vậy, không có sự thu thuế trùng lặp
tại nước Mỹ. Trong quá trình quản lý thuế, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về
thuế GTGT một cách quy mô, nghiêm túc nhưng đến nay, Chính phủ Mỹ vẫn
quyết định không áp dụng thuế GTGT tại nước Mỹ.
Trước khi thuế GTGT xuất hiện thì thuế doanh thu được các quốc gia
trên thế giới áp dụng nhằm điều tiết tiêu dùng xã hội. Căn cứ để tính thuế
doanh thu là doanh thu chịu thuế. Tuy nhiên, trong doanh thu chịu thuế đã bao
gồm cả thuế doanh thu ở khâu sản xuất, kinh doanh trước đó nên thuế doanh
thu ở các khâu trước đã trở thành chi phí sản xuất, kinh doanh ở khâu sau.
Quy định này, dẫn đến tình trạng thuế đánh trùng trên thuế, làm tăng giá vốn
8
hàng hóa, dịch vụ, hàng hóa nội địa đã khiến người tiêu dùng phải chịu với
mức giá cao đồng thời giảm tính cạnh tranh của hàng hóa, không kích thích
được hàng hóa xuất khẩu. Nhược điểm trùng lặp thuế không còn phù hợp đối
thể hoàn toàn khác nhau. Mặt khác, sắc thuế này cũng mang bản chất liên
hoàn và có tính trung lập kinh tế cao, mang những đặc tính cơ bản, đặc trưng
của một sắc thuế khoa học, tiên tiến như: tính lũy thoái, điều tiết hành vi tiêu
dùng hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, đặc điểm chính, chủ yếu của thuế GTGT
là: Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng, thuế GTGT gắn
liền với chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn chứng từ.
- Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng
Thuế GTGT được coi là một sắc thuế gián thu tiêu biểu. Thuế GTGT
không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một
cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Tính gián thu thể hiện dưới
góc độ pháp lý là quan hệ tay ba giữa nhà nước - người sản xuất, kinh doanh
(nộp thuế) - người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ (chịu thuế).
Về nguyên tắc, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế
nên việc đánh thuế GTGT vào khâu tiêu dùng là đủ. Hiểu một cách đơn giản
nhất thì quan hệ nghĩa vụ thuế GTGT là quan hệ giữa người có quyền (Nhà
nước) với người có nghĩa vụ (người tiêu dùng). Thế nhưng, trong quan hệ
thuế GTGT, ngoài hai chủ thể này còn xuất hiện một loại chủ thể đặc biệt là
(đối tượng nộp thuế). Tuy về lý thuyết không có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà
nước, nhưng đối tượng nộp thuế lại giữ vị trí hết sức quan trọng, nhiều khi có
tính quyết định trong quan hệ thuế GTGT. Đối tượng nộp thuế thường thay
mặt nhà nước thu hộ thuế GTGT của người tiêu dùng. Trong thực tế, chúng ta
nhận thấy tần suất xuất hiện của loại chủ thể - đối tượng nộp thuế - thường
xuyên hơn và xuất hiện nhiều hơn loại chủ thể - Người tiêu dùng.
10
Theo nguyên lý của thuế gián thu, pháp luật thuế GTGT cần phải xác
định rõ người chịu thuế để đảm bảo tính điều tiết tiêu dùng của thuế GTGT.
Nếu phải chờ đến khâu tiêu dùng cuối cùng mới thu thuế sẽ làm chậm quá
trình tập trung nguồn lực xã hội cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến chi
tiêu của nhà nước, hơn nữa, việc phân biệt hành vi chuyển giao tài sản hoặc
khái niệm rất rộng, họ có thể là cá nhân, tổ chức, hay cơ quan nhà nước.
Người nộp thuế cũng có thể trở thành người tiêu dùng nếu họ có hành vi tiêu
dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Luật thuế GTGT nước ta hiện nay không có
quy định nào giới hạn người tiêu dùng. Chính vì vậy, thuế GTGT thuộc loại
thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng.
- Thuế GTGT gắn liền với chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn, chứng từ
Thuế GTGT là sắc thuế có đòi hỏi nghiệp vụ kế toán rất khắt khe
trong hệ thống các sắc thuế hiện hành. Xuất phát từ bản chất của thuế GTGT
là đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ. Muốn xác định GTGT không có
cách gì khác chủ thể nộp thuế GTGT phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ sổ
sách kế toán, hóa đơn, chứng từ.
Thuế GTGT năm 2008, có một hệ thống hóa đơn, biểu mẫu chứng từ
đồ sộ. Các hóa đơn, chứng từ ghi nhận thuế GTGT được quy định rất chặt chẽ
cả về hình thức lẫn cách thức sử dụng. Nếu cơ sở kinh doanh không có trình
độ kế toán nhất định, sẽ không thể thực hiện tốt chế độ kê khai trong quá trình
quản lý, kê khai, nộp thuế GTGT.
Với mỗi loại hình kinh doanh lại có loại hóa đơn sử dụng riêng, cụ
thể: Đối với các cơ sở kinh doanh thì nộp thuế theo phương pháp tính trực
tiếp trên GTGT thì sử dụng loại hóa đơn thông thường. Đối với mỗi hoạt
động kinh doanh thương mại khác nhau, pháp luật thuế GTGT sẽ yêu cầu một
loại hình hóa đơn cụ thể như: Đối với mua bán hàng nông, lâm, thủy sản qua
sơ chế sẽ sử dụng hóa đơn thu mua hàng nông, lâm, thủy sản
12
Thuế GTGT được ghi nhận trên hóa đơn, chứng từ, căn cứ vào hóa
đơn, chứng từ của các nhà sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm lập sổ, sách kế
toán theo quy định pháp luật. Người nộp thuế được khấu trừ số thuế đầu vào
đã nộp, do đó, tổng số thuế ở các công đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông
sản phẩm luôn bằng giá bán cuối cùng nhân với thuế suất.
Hóa đơn, chứng từ lại giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thu,
phủ ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
luật thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT như sau: "Việc
hoàn thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Điều 13 Luật Thuế giá
trị gia tăng " [11].
Tại Điều 52, Luật thuế giá trị gia tăng của nước Cộng hòa Serbia được
đăng trong "Công báo" số 84/2004 ngày 24/7/2004 và số 86/2004 ngày
30/7/2004 quy định: "Nếu số thuế đầu vào cao hơn số tiền nợ thuế, người nộp
thuế giá trị gia tăng được hoàn trả phần thuế chênh lệch…" và "hoàn trả thuế
giá trị gia tăng trong vòng 15 ngày đối với người nộp thuế chủ yếu thực hiện
cung cấp hàng hóa ở nước ngoài" 51.
Tại Điều 24, Luật Thuế GTGT của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào ngày 16/01/2007 quy định về hoàn thuế GTGT như sau: "… đối với các
nhà khai thác kinh doanh có thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ hoạt động
sản xuất trong nước hoặc hoạt động xuất khẩu, nếu gia tăng giá trị thuế đầu
vào thì được khấu trừ không hoàn toàn trong tháng, chỉ có tỷ lệ xuất khẩu sẽ
được hoàn thuế giá trị gia tăng …" 47 và "hoàn thuế giá trị gia tăng được
thực hiện khi có văn bản của cấp có thẩm quyền về thuế…" 47.
Như vậy, hoàn thuế GTGT được hiểu là việc cơ quan quản lý thuế có
thẩm quyền hoàn trả lại cho đối tượng số tiền thuế GTGT đã nộp thừa hoặc
chưa được khấu trừ hết. Việc hoàn thuế GTGT được thực hiện theo yêu cầu
của các chủ thể khi họ đáp ứng đủ các điều kiện hoàn thuế GTGT theo quy
định của pháp luật.
14
Ở nước ta, Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn về thuế hiện
hành không đưa ra khái niệm, định nghĩa cụ thể về hoàn thuế GTGT. Tuy
nhiên, có thể xem xét khái niệm hoàn thuế GTGT dưới các góc độ khác
nhau, cụ thể:
Xét dưới góc độ kinh tế - tài chính, hoàn thuế GTGT là việc nhà nước
hoàn trả lại cho doanh nghiệp một khoản tiền thuế nhất định đúng bằng với số
thuế nên hoàn thuế chỉ đặt ra đối với đối tượng nộp thuế theo phương thức
khấu trừ thuế. Các cơ sở kinh doanh trong ba tháng liên tục trở lên (không
phân biệt niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết sẽ được
hoàn lại. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của
thời gian xin hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ
xuất khẩu, nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu
có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cũng
được tính vào số thuế được hoàn trong tháng.
Về nguyên tắc, nếu trong thời kỳ nộp thuế mà thuế đầu vào được khấu
trừ không hết thì sẽ phát sinh quyền hoàn thuế. Như vậy, qua phân tích ở trên,
có thể hiểu: Hoàn thuế là hệ quả của hành vi khấu trừ thuế đầu vào, nếu số
thuế đầu vào được khấu trừ không hết thì nhà nước có nghĩa vụ hoàn thuế
cho doanh nghiệp, tức trả lại số thuế nộp thừa cho doanh nghiệp trong kỳ đó.
Nếu Nhà nước không hoàn lại kịp thời số tiền thừa này thì coi như Nhà nước
chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Số tiền này thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, Nhà nước chỉ là người nắm giữ tạm thời khi chưa xác định được số
tiền doanh nghiệp phải nộp là bao nhiêu.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của luật thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT quy định:
Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia
tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng.
16
Thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng giá tính
thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất
thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó [11].
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu
trừ thuế, khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế của hàng hóa, dịch
vụ bán ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi
sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Hoàn thuế GTGT hỗ trợ tích cực đến xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ do mức thuế suất 0% cho một số hàng hóa xuất khẩu.
Vì vậy, hoàn thuế GTGT có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất: Chủ thể được hoàn thuế GTGT là đối tượng nộp thuế
GTGT theo quy định của pháp luật. Tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số
123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT quy định: "Người nộp thuế giá
trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị
gia tăng" [11]. Như vậy, chỉ những tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu
thuế GTGT mới là đối tượng được hoàn thuế GTGT.
Thực chất của việc hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại đối tượng nộp
thuế một khoản tiền thuế tương ứng với số tiền thuế mà chủ thể đó đã nộp
thừa. Như vậy, cá nhân, tổ chức thuộc diện nộp thuế GTGT mà chưa hoàn
thành nghĩa vụ thuế nộp thuế với Nhà nước thì cũng không có quyền yêu cầu
hoàn thuế GTGT.
Thứ hai: Tổ chức, cá nhân đã thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, đó là
chuyển quyền sở hữu một khoản tiền nhất định (tiền thuế) vào ngân sách Nhà
nước. Tuy nhiên, sau đó tổ chức, cá nhân căn cứ vào quy định hiện hành về
hoàn thuế GTGT, nếu phù hợp các quy định này, thì tổ chức, cá nhân sẽ nộp
đơn tới cơ quan thuế có thẩm quyền để yêu cầu được hoàn trả số tiền thuế.
18
Xét về bản chất thì hoàn thuế GTGT là việc chuyển quyền sở hữu
(một giá trị nhất định) từ Nhà nước sang cho các tổ chức, cá nhân thỏa mãn
các điều kiện được hoàn thuế. Việc hoàn thuế được thực hiện bằng một quyết
định hành chính của cơ quan thuế có thẩm quyền.
Thứ ba: Căn cứ để được xét và chấp nhận cho hoàn thuế GTGT đó là
bộ hồ sơ hoàn thuế GTGT. Hồ sơ hoàn thuế GTGT phải do chính chủ thể nộp
phía nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài
kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ
đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào
giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại Điểm 1.10, Mục I, phần B Thông
tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính để xác định giá
không có thuế và thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp hóa đơn ghi sai mức thuế suất GTGT mà các cơ sở kinh
doanh chưa tự điều chỉnh, cơ quan thuế kiểm tra, phát hiện thì xử lý như sau:
Đối với cơ sở kinh doanh mua hàng hóa, dịch vụ: Nếu thuế suất
GTGT ghi trên hóa đơn mua vào cao hơn thuế suất đã được quy định tại các
văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào theo
thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT.
Trường hợp xác định được bên bán đã kê khai, nộp thuế theo đúng
thuế suất ghi trên hóa đơn thì được khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất ghi
trên hóa đơn nhưng phải có xác nhận của cơ quan thuế trực tiếp quản lý người
bán. Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn thấp hơn thuế suất quy định
tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào
theo thuế suất ghi trên hóa đơn.
Về nguyên tắc, chỉ hoàn thuế cho các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT khi họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thuế và có đủ các điều
kiện luật định về hoàn thuế GTGT.
20
Cơ quan quản lý thuế căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành
về thuế GTGT để áp dụng các nguyên tắc hoàn thuế GTGT. Trong thực tiễn,
khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan quản lý thuế có xu
hướng đơn giản hóa dần, thủ tục hoàn thuế GTGT nhằm tạo điều kiện tiết
kiệm thời gian, cũng như chi phí cho các doanh nghiệp xin hoàn thuế.
1.3. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
chưa có giá trị tăng thêm thì không được đánh thuế GTGT thêm của hàng hóa,
dịch vụ. Do là loại thuế đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên
số thuế GTGT này đã được cấu thành ngay trong giá cả của các loại hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế đó.
Khi có hoạt động tiêu dùng, các chủ thể tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là
người chịu thuế nhưng tiền thuế lại cấu thành trong giá của hàng hóa, dịch vụ
nên không gây tâm lý cho người nộp thuế. Các doanh nghiệp cung cấp hàng
hóa, dịch vụ trực tiếp thực hiện nghĩa vụ thuế với cơ quan thuế nhà nước
nhưng về bản chất chỉ là "nộp thuế hộ" cho đối tượng chịu thuế.
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp không hề chịu áp lực gì trong
việc nộp thuế vì số tiền thuế GTGT là đánh vào hoạt động tiêu dùng chứ
không đánh vào doanh thu của doanh nghiệp nên nó không phải là yếu tố cấu
thành lên giá thành sản phẩm nên không cản trở hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Thứ ba: Hoàn thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong việc kích
thích, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ.
Theo quy định của pháp luật hoàn thuế GTGT thì hoạt động xuất khẩu
hàng hóa, dịch vụ cũng phải chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, với mức thuế suất
chỉ là 0% thì sau khi xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, các chủ thể nộp thuế có
quyền yêu cầu hoàn thuế GTGT đầu vào (có thể sẽ được hoàn lại toàn bộ số
thuế đầu vào mà doanh nghiệp đã nộp, vì thuế suất thuế GTGT của hàng hóa,
dịch vụ xuất khẩu chỉ là 0%).
22
Chẳng hạn, doanh nghiệp X là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng dệt
may. Để đầu tư, đổi mới dây chuyền, thiết bị, công nghệ mới. Doanh nghiệp
phải mua một số máy dệt may nhập ngoại với giá 500 triệu đồng. Giả sử thuế
suất GTGT là 10% thì số tiền thuế GTGT doanh nghiệp phải đóng 50 triệu
đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp hoàn toàn có quyền yêu cầu các cơ quan thuế
cho phép được khấu trừ số tiền thuế khi nộp thuế GTGT đầu ra. Giả định thuế