PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Công cuộc đổi mới ở nước ta nhằm xây dựng một nền kinh tế hoạt
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, sau hơn 15 năm thực hiện đã thu được nhiều thành quả tốt đẹp.
Nền kinh tế Việt Nam đã phát triển tương đối ổn định và dần chuyển sang
một thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế. Trong cơ chế mới này, thuế được nhìn nhận là một
công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều tiết nền kinh tế. Thuế vừa đáp ứng
nguồn thu cho ngân sách, vừa thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến
khích đầu tư đồng thời góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Thuế doanh thu được áp dụng ở Việt Nam từ ngày 01 tháng 10 năm
1990 nhằm thay thế chế độ thu quốc doanh đối với kinh tế quốc doanh và một
số loại thuế trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Thuế doanh thu được áp
dụng rộng rãi với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ thuộc mọi
ngành nghề, mọi hình thức, hoạt động thường xuyên hay không thường
xuyên, có địa điểm cố định hay lưu động. Việc tính thuế đơn giản, thuận lợi
cho công tác thu và quản lý thuế, do đó thuế doanh thu đã trở thành nguồn thu
tương đối tập trung, ổn định của NSNN. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện,
thuế doanh thu đã bộc lộ một số nhược điểm trong đó việc có quá nhiều mức
thuế suất đã hạn chế tính trung lập của thuế. Đặc biệt việc thuế tính trên toàn
bộ doanh thu qua từng khâu lưu chuyển hàng hoá, từ sản xuất, bán buôn, đến
bán lẻ đã ảnh hưởng không tốt đến giá cả và sản xuất kinh doanh. Cùng một
mặt hàng nếu được tổ chức sản xuất và lưu thông qua ít khâu thì tổng số thuế
sẽ phải nộp ít hơn so với việc được tổ chức qua nhiều khâu. Điều này là
không phù hợp với cơ chế thị trường và nền kinh tế chuyên môn hoá cao.
1
Trước những đòi hỏi của thực tiễn, nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ
đổi mới kinh tế - xã hội, hệ thống thuế đã được cải tiến một cách đồng bộ
nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế, phù hợp với sự vận động
và phát triển của kinh tế thị trường. Một trong những sự kiện quan trọng của
một cách có hệ thống thuế GTGT là điều rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Phân tích những vấn đề đặt ra trong quá trình
thực thi luật thuế GTGT, để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
chính sách thuế GTGT của Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận văn tập trung nghiên cứu một số lý luận cơ bản về thuế nói
chung và thuế GTGT nói riêng.
- Hệ thống hoá và phân tích những kinh nghiệm áp dụng thuế GTGT
của một số nước trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện, những ưu điểm và hạn chế
của Luật thuế GTGT ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý thuế GTGT ở Việt Nam
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách thuế GTGT ở Việt
Nam với tư cách là sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế của nền kinh tế
thị trường.
3
Phạm vi nghiên cứu đề tài là thời gian từ khi Luật thuế GTGT được ban
hành (1997) đến cuối năm 2002.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nghiên
cứu, khái quát các nội dung về lý luận và thực tiễn. Sử dụng các phương pháp
đối chiếu, so sánh, phân tích từ những vấn đề cụ thể, tổng kết rút ra kết luận
để đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm góp phần thiết thực
vào việc hoàn thiện Luật thuế GTGT và nâng cao hiệu quả của quá trình thực
thi thuế GTGT ở nước ta trong tiến trình hoà nhập với kinh tế khu vực và thế
xuất hiện, để thực hiện các chức năng của mình như: củng cố bộ máy chính
quyền, đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, tổ chức quản lý và
phát triển kinh tế…, Nhà nước phải có ngân sách để chi tiêu. Nhà nước ban
hành những qui định pháp luật cần thiết làm công cụ để phân phối tổng sản
phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thành quỹ tiền tệ tập trung của mình. Đồng
thời sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu tạo ra khả
năng và nguồn thu thuế khoá của Nhà nước. Như vậy, thuế được hình thành
và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Sự phát triển của
nền sản xuất xã hội, trước hết là của các quan hệ hàng hoá, tiền tệ và sự gia
tăng mạnh mẽ của quyền lực Nhà nước đã làm nảy sinh những biến đổi mới
5
về thuế. Ban đầu thuế được động viên dưới dạng chủ yếu là hiện vật, sau đó
các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngày càng phát
triển một cách có hệ thống. Với những tiến bộ của lịch sử, chỉ riêng thuế
không đủ đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước còn phát hành
công trái, thu phí, lệ phí… nhưng dù sao việc thu thuế vẫn là phương thức chủ
yếu để Nhà nước tài trợ cho những chi tiêu của mình. Thuế và hệ thống thuế
là sản phẩm chủ quan của mỗi Nhà nước. Nó được xây dựng thành một hệ
thống thuế gồm nhiều sắc thuế phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng nước,
trong từng giai đoạn lịch sử. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, một hệ
thống thuế được coi là lý tưởng phải đảm bảo 5 tiêu chuẩn sau:
Tính hiệu quả kinh tế: Xét về phương diện kinh tế, việc đánh thuế của
Nhà nước dù bất kỳ dưới hình thức nào cũng đều có tác dụng phân bổ lại
nguồn lực của xã hội. Khi đánh thuế, Nhà nước chắc chắn sẽ tác động đến lợi
ích, đến nguồn tài chính của các bên liên quan, do đó sẽ làm thay đổi hành vi,
thay đổi cách thức sử dụng các nguồn lực tài chính của họ. Có thuế, hệ thống
giá cả sẽ thay đổi, người tiêu dùng sẽ có xu hướng chuyển sang sử dụng nhiều
hơn những hàng hoá rẻ hơn một cách tương đối và hạn chế tiêu dùng những
hàng hoá trở nên đắt hơn một cách tương đối do thuế. Khi một dạng thu nhập
bị đánh thuế, chi phí cơ hội tương đối của việc tạo ra các nguồn thu nhập sẽ
Tính công bằng: Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong tiến
trình phát triển của nhân loại cũng như trong tiến trình phát triển của thuế
khoá nói riêng. Tính công bằng trong thuế trước hết ở việc phân chia gánh
nặng thuế. Bởi có công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế mới tạo ra
được động lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như giữ vững được
7
ổn định xã hội. Hệ thống thuế phải đảm bảo sự công bằng cả theo chiều ngang
lẫn chiều dọc trong cách đối xử với những người nộp thuế; tức là các cá nhân
có khả năng nộp thuế như nhau phải được đối xử về thuế giống nhau, những
người có khả năng nộp thuế cao hơn phải chịu gánh nặng thuế nhiều hơn và
ngược lại.
Hệ thống thuế được coi là phù hợp không thể đánh giá qua số lượng sắc
thuế ít hay nhiều hoặc chỉ nhìn vào mục tiêu đơn thuần về tăng thu cho NSNN
mà phải được phân tích một cách cụ thể, khách quan, khoa học, toàn diện về
mối quan hệ giữa số thu cho ngân sách với yêu cầu phát triển kinh tế và đời
sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân.
Các nguyên tắc trong việc thiết kế một sắc thuế:
Nguyên tắc 1: Giảm tối đa chi phí hành chính thuế. Muốn vậy, việc
thiết kế các sắc thuế phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.
Nguyên tắc 2: Giảm tối đa những méo mó kinh tế do thuế gây ra. Thuế
không gây méo mó trong trường hợp người nộp thuế không thể thay đổi được
nghĩa vụ nộp thuế của mình, do đó sắc thuế được thiết kế sao cho khả năng
tránh thuế là thấp nhất. Lý thuyết thuế hiện đại cho rằng sắc thuế có thuế suất
đều và thống nhất sẽ triệt tiêu việc dịch chuyển gánh nặng thuế, làm giảm
hiện tượng tránh thuế.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo sự phân phối qua thuế một cách công bằng
song ít ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Một trong những nguyên tắc công
bằng trong thuế là người có thu nhập cao thì phải đóng thuế cho Nhà nước
nhiều hơn. Trong thực tiễn việc tuân thủ các yêu cầu công bằng trong thuế
cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến các hành vi của người nộp thuế. Tuỳ theo
Nhà nước sử dụng khoản tiền thuế này vào các chi tiêu công cộng và người
nộp thuế được hoàn trả lại một phần tiền nộp thông qua việc hưởng thụ các
dịch vụ công cộng như an ninh, quốc phòng, trật tự trị an xã hội, các phúc lợi
công cộng…
- Phân loại thuế:
Thuế được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích
nghiên cứu. Có 2 cách phân loại phổ biến nhất:
Theo tính chất điều tiết, thuế chia thành thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu: Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là
người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của
người nộp thuế (như thuế lợi tức, thuế thu nhập ). Đây là loại thuế có tác
dụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về
mức sống giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội - một khiếm khuyết của cơ
chế thị trường. Và cũng do đó loại thuế này thường bị người nộp thuế tìm mọi
cách để lẩn tránh, gây không ít khó khăn cho Nhà nước trong công tác thu và
quản lý thuế.
Thuế gián thu: Là loại thuế mà người nộp thuế không đồng thời là
người chịu thuế. Thuế này được cấu thành trong giá cả hàng hóa dịch vụ. Nó
điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách gián tiếp (như thuế doanh
thu, thuế TTĐB, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu ) nên người chịu thuế ít
có cảm giác mình bị đánh thuế do đó việc thu thuế cũng dễ dàng hơn và Nhà
nước thường ít gặp phản ứng từ phía người nộp thuế mỗi khi có chủ trương
tăng thuế. Loại thuế này đảm bảo nguồn thu thường xuyên và tương đối ổn
định cho NSNN.
10
Cơ cấu giữa thuế trực thu và thuế gián thu ở các nước khác nhau có
điều kiện kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau. Các nước có nền kinh tế phát
triển, do sự cảm nhận về tính không khuyến khích tiết kiệm của thuế TNDN
và thuế TNCN nên đã thực hiện việc cắt giảm thuế trực thu và chuyển dần
gánh nặng thuế sang các loại thuế tiêu dùng như thuế GTGT, thuế TTĐB…
Một cơ cấu hệ thống thuế hợp lý là sự kết hợp chặt chẽ giữa thuế trực
thu và thuế gián thu, ở đó giới hạn luỹ thoái của thuế gián thu bị hạn chế bởi
phạm vi luỹ tiến của thuế trực thu.
Theo cơ sở thuế: Do đối tượng tác động khác nhau nên tác dụng của
các sắc thuế cũng khác nhau. Dựa vào đó thuế được chia thành:
Thuế thu nhập (thuế TNDN, thuế TNCN, thuế lợi tức…) là loại thuế
đánh vào thu nhập của các tổ chức kinh tế và thu nhập của các cá nhân có tác
dụng chủ yếu là điều hoà thu nhập, đảm bảo công bằng trong phân phối.
Thuế tài sản: là loại thuế đánh vào việc nắm giữ hay chuyển nhượng tài
sản như thuế trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế tiêu dùng (thuế TTĐB, thuế GTGT…) là loại thuế đánh vào việc
tiêu thụ, sử dụng sản phẩm dịch vụ nhằm điều tiết một cách gián tiếp thu nhập
của người tiêu dùng thông qua giá cả HH-DV. Nên tác dụng chủ yếu của nó là
nhằm hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng theo cơ cấu HH-DV.
Ngoài ra thuế còn được phân chia theo tỷ suất thuế bình quân (tỷ suất
thuế bình quân = thuế /thu nhập), theo đó thuế được chia thành:
Thuế tỷ lệ: Là sắc thuế mà tỷ suất thuế bình quân không thay đổi khi
thu nhập thay đổi.
Thuế luỹ tiến: Là sắc thuế mà trong đó tỷ suất thuế bình quân tăng
cùng với sự tăng lên của thu nhập. Nhà nước thu của người giàu theo tỷ lệ cao
hơn của người nghèo.
Thuế luỹ thoái: Tỷ suất thuế bình quân giảm cùng với sự tăng lên của
thu nhập. Người nghèo bị nộp thuế theo tỷ lệ cao hơn người giàu.
Thuế/Thu nhập
Thuế luỹ tiến
12
Thuế tỷ lệ
Thuế luỹ thoái
quân đầu
người (USD)
Châu Á Châu Mỹ - Latinh
13
Singapore 30% 22 849 Achentina 21% 8 281
Hàn Quốc 34% 8 732 Uruguay 24% 5 822
Malaysia 19% 3 472 Mêhicô 20% 4 915
Thái lan 18% 1 860 Vênzuêla 19% 4 844
Philippines 17% 865 Braxin 23% 4 673
Trung Quốc 20% 853 Chilê 24% 4 337
Srilanca 17% 785 Chuyển đổi Đông Âu
Inđônêsia 18% 614 Séc 28% 5 046
ấn Độ 26% 456 Hungari 48% 4 513
Pakistan 18% 398 Ba lan 37% 4 289
Việt Nam 21% 398 Estônia 29% 3 609
Mông Cổ 25% 339 Slôvakia 26% 3 207
Lào 12% 311 Látvia 30% 2 909
Campuchia 13% 249 CHLB Nga 34% 1 724
Nêpan 12% 242 Bungary 40% 1 363
Kyrgixtan 20% 222 Rumani 26% 1 315
Bêlarút 39% 759
Ucraina 28% 486
Mônđôva 31% 355
(Nguồn: International financial statistics yearbook, IMF and ADB, 2001)
Mỗi nước có quan điểm về cách xác định qui mô huy động NS rất khác
nhau: Có những nước có mức GDP bình quân đầu người thấp nhưng lại có
mức huy động NS khá cao như Mônđôva (355 USD và 37%) nhưng lại có
những nước có mức GDP bình quân đầu người cao nhưng có mức huy động
NS khá thấp như Mêhicô (4915 USD và 22%). Các nước châu Á và châu Mỹ-
Latinh nhìn chung có mức huy động NSNN thấp (phần lớn dưới 25%), trong
thuế như thuế TTĐB, thuế TNCN có tác dụng rất lớn trong việc điều tiết thu
nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
15
1.1.3: Phạm vi ảnh hưởng của thuế và hiệu quả kinh tế.
- Phạm vi ảnh hưởng của thuế:
Mỗi một sắc thuế đều qui định rõ ai là người có nghĩa vụ nộp thuế - đó
là phạm vi ảnh hưởng luật định của thuế. Tuy nhiên gánh nặng thuế không chỉ
đơn thuần do người sản xuất hoặc người tiêu dùng chịu mà nó được phân chia
cho cả hai bên. Đây là phạm vi ảnh hưởng kinh tế của thuế. Nghiên cứu về
phạm vi ảnh hưởng của thuế là việc phân tích thực chất gánh nặng thuế đã
được phân chia như thế nào giữa các cá nhân trong xã hội.
Giả định Nhà nước
chưa hề đánh một loại
thuế nào vào mặt hàng X.
Cung và cầu mặt hàng này
trên thị trường cân bằng
tại điểm E
0
với sản lượng
là Q
0
và giá cả là P
0
. Khi
Nhà nước đánh thuế mặt
hàng X với thuế suất (t)
cho mỗi đơn vị hàng hoá, thì người sản xuất phải trả một khoản thuế t cho
mỗi đơn vị hàng hoá bán ra. Với các điều kiện khác không đổi, lúc này người
sản xuất sẽ nâng giá bán để đảm bảo mức thu nhập của mình sau khi nộp thuế
không thay đổi. Thể hiện trên đồ thị là đường cung S
(giá)
P
1
P
0
P
2
Q
1
Q
0
K
H
được sau khi nộp thuế là P
1
- t = P
2
cũng thấp hơn mức P
0
trước khi có thuế.
Điều này có nghĩa là gánh nặng thuế ở đây đã được san sẻ cho cả người sản
xuất và người tiêu dùng (trên hình vẽ ta thấy người sản xuất chịu đoạn P
1
P
0
và
người tiêu dùng chịu đoạn P
0
B
1
B
3
Số lượng
h ng hoá Cà
I
I’
C
1
GM
C
3
C
2
E
1
E
3
N
A
D
E
2
D
1
H
K
hoá B và C được tiêu dùng thể hiện trên trục tung và trục hoành của đồ thị.
AD là đường giới hạn ngân sách của người này khi chưa bị đánh thuế. Lúc
G hàng hoá C).
Ngoài số thuế phải nộp cho Nhà nước, người tiêu dùng còn phải chịu
tổn thất hiệu quả do thuế gây ra. Xác định mức thiệt hại này dựa vào một đại
lượng tương đương, đó là lượng thu nhập bị mất đi của người tiêu dùng để
làm cho đường bàng quan chuyển từ I sang I’ giống như tác động của việc
đánh thuế. Việc lấy đi một phần thu nhập sẽ làm cho đường giới hạn ngân
sách của người tiêu dùng dịch chuyển vào trong song song với đường giới hạn
cũ cho đến khi đường này (đường HK) tiếp xúc với đường bàng quan I’ tại E
3
.
Trên hình vẽ, ta thấy đại lượng tương đương ME
3
lớn hơn số thuế thu được từ
việc đánh thuế hàng hoá B (E
2
G), tức là người tiêu dùng đã bị thiệt hại nhiều
hơn số thuế đã nộp cho Nhà nước. Phần thiệt hại này chính là tổn thất hiệu
quả do thuế đánh vào hàng hoá B gây ra (đoạn NE
2
).
Nguyên nhân của tổn thất hiệu quả là do giá cả tương đối giữa các hàng
hoá có sự thay đổi sau khi bị đánh thuế. Người tiêu dùng đã thay đổi phương
án tiêu dùng của mình sao cho vẫn tối đa hoá được độ thoả dụng trong điều
kiện có thuế. Tuy nhiên cũng vì sự thay đổi này mà mức độ thoả dụng cá nhân
của họ bị suy giảm nhiều hơn mức thuế đã chuyển giao cho Nhà nước. Ta
thấy rằng, nếu đánh thuế tương đối thống nhất sao cho giá cả tương đối giữa
18
các hàng hoá không thay đổi thì đường giới hạn ngân sách sẽ dịch chuyển vào
trong song song với đường ngân sách lúc chưa có thuế, triệt tiêu được tổn thất
hiệu quả.
Nhà nước mới thu được thuế. Để vừa đảm bảo nguồn thu được nhanh chóng
vừa thúc đẩy sản xuất để bồi dưỡng cho nguồn thu giai đoạn sau, thuế đã
được liên tục sửa đổi và ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở đánh thuế doanh
thu một lần trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông, năm 1951, Carl Friedrrich
Von Simens đã nghĩ ra một chính sách đánh thuế trên phần giá trị gia tăng của
HH-DV khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, đó là
thuế GTGT.
Thuế GTGT được nghiên cứu và áp dụng lần đầu tiên ở Pháp vào ngày
01 tháng 7 năm 1954. Lúc đầu nó được áp dụng cho một số ngành cá biệt, sau
đó thuế GTGT được mở rộng áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực vào
năm 1963. Năm 1953, người Nhật cũng nghiên cứu và dự thảo bộ luật về thuế
GTGT nhưng mãi đến năm 1988 mới áp dụng. Sự phát triển mạnh mẽ của
kinh tế thị trường và những ưu điểm nổi trội của thuế GTGT đã làm cho nó
dần trở nên phổ biến. Từ năm 1954 đến 1988 có 47 nước áp dụng thuế GTGT,
đến 1991 là 100 nước và đến nay, theo thống kê của IMF, hơn 120 nước đã áp
dụng loại thuế này.
1.2.2: Đặc điểm của thuế GTGT:
- Thuế GTGT là thuế gián thu điển hình:
20
Số tiền mà người tiêu dùng phải trả cho người bán khi mua hàng hoá là
tổng giá bán của hàng hoá và tiền thuế GTGT (điều này được phản ánh rất rõ
ràng trong hoá đơn tài chính). Người tiêu dùng phải trả tiền thuế GTGT mỗi
khi mua hàng, còn người bán là người thu tiền thuế GTGT của người tiêu
dùng “hộ” Nhà nước. Đây là nét điển hình của thuế gián thu.
- Thuế GTGT khắc phục được hiện tượng thuế đánh chồng lên thuế,
vốn là một nhược điểm của thuế doanh thu, phù hợp với nền kinh tế sản xuất
hàng hoá theo cơ chế thị trường.
Thuế doanh thu và thuế GTGT đều là những sắc thuế gián thu, đều
nhằm mục đích chính là động viên một phần thu nhập của đông đảo người
tiêu dùng tạo nên nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN. Nhưng trong nền kinh
Doanh nghiệp D là người bán các mặt hàng đồ gỗ cho người tiêu dùng cuối
cùng. Chu trình kinh tế này được biểu diễn như sau:
Bảng 4: Biểu diễn chu trình kinh tế 4 giai đoạn
(đơn vị: nghìn đồng, thuế suất thuế GTGT = 10%)
Giá mua chưa có
thuế
Thuế đầu vào GTGT
Giá bán chưa
có thuế
Thuế đầu ra
Thuế phải
nộp NSNN
1 2 = 1x10% 3 4 = 1 + 3 5 = 4 x 10% 6 = 5 - 2
DN A: Khai thác gỗ
10.000 10.000 1.000 1.000
DN B: Chế biến gỗ
10.000 1.000 4.000 14.000 1.400 400
DN C: Bán buôn đồ gỗ
14.000 1.400 6.000 20.000 2.000 600
DN D: Bán lẻ đồ gỗ
20.000 2.000 8.000 28.000 2.800 800
Cộng 4.400 28.000 7.200 2.800
Ta thấy rằng, người mua hàng cuối cùng khi mua hàng hoá về phải
thanh toán số tiền bằng giá chưa có thuế cộng với thuế GTGT tính trên giá
bán chưa có thuế đó (28.000 + 28.000 x10% = 30.800). Tổng số thuế GTGT
phát sinh trong suốt chu trình này là 2.800 (cộng cột 6) cũng bằng đúng số
22
tiền thuế GTGT người tiêu dùng cuối cùng phải trả: 28.000 x 10% = 2.800 và
cũng bằng chênh lệch giữa tổng số thuế GTGT thu được khi bán hàng qua các
khâu (7.200) trừ đi số thuế GTGT đã trả khi mua hàng (thuế được khấu trừ
- Áp dụng thuế GTGT sẽ khuyến khích việc sử dụng hoá đơn chứng từ:
23
Các nước có nền kinh tế chưa phát triển thường không có thói quen sử
dụng hoá đơn chứng từ trong các giao dịch kinh tế thông thường. Việc ghi
chép sổ sách kế toán tuỳ tiện gây khó khăn cho công tác thu thuế và quản lý
kinh tế của Nhà nước. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Việc áp dụng thuế
GTGT sẽ khuyến khích và dần đưa việc sử dụng hoá đơn chứng từ trong giao
dịch kinh tế thành điều bắt buộc và dần trở thành một thói quen cho mọi
người. Hoá đơn bán hàng là chứng từ ban đầu làm cơ sở để tính thuế GTGT
đầu vào, đầu ra khi kê khai nộp thuế. Nếu không thực hiện đầy đủ việc lập
hoá đơn chứng từ khi mua bán hàng hoá thì sẽ không có chứng từ làm cơ sở
kê khai nộp thuế, khấu trừ thuế và hoàn thuế. Do vậy, sắc thuế này cũng tạo
điều kiện để Nhà nước quản lý tốt hơn nền kinh tế.
1.2.3: Các phương pháp tính thuế GTGT:
Phương pháp tính thuế GTGT là cách tính thuế GTGT phải nộp đối với
các đối tượng nộp thuế. Xét trên góc độ lý thuyết, có hai phương pháp tính
thuế GTGT như sau (Trong các công thức: t là thuế suất thuế GTGT).
- Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT: thuế GTGT được tính
dựa trên cơ sở tính giá trị tăng thêm là chênh lệch giữa giá đầu ra (chưa tính
thuế) và giá đầu vào (chưa tính thuế).
Thuế GTGT phải nộp = t x GTGT
Trong đó: GTGT = Giá HH-DV đầu ra (chưa có thuế) - Giá HH-DV đầu vào (chưa có
thuế)
Phương pháp này tuy đơn giản nhưng khi nhìn vào tài khoản kế toán
người ta rất khó phân biệt doanh thu bán hàng cũng như giá vốn của từng loại
sản phẩm có thuế suất riêng biệt khác nhau.
24
- Phương pháp trừ gián tiếp hay còn gọi là phương pháp hoá đơn hoặc
phương pháp khấu trừ: thuế GTGT được xác định trên cơ sở lấy thuế tính
trên giá đầu ra trừ đi thuế tính trên giá đầu vào: