1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não là một nhóm bệnh gây tử vong và tàn tật khá
phổ biến trên thế giới. Ở Mỹ mỗi năm có khoảng 700.000 - 750.000 bệnh
nhân tai biến mạch máu não mới và tái phát. Người ta ước tính hiện nay ở
Pháp có khoảng 8/1000 dân số bị tai biến mạch máu não [1],[2]. Ở Việt Nam,
tỷ lệ mắc tai biến mạch máu não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại đối với cả
hai giới nam và nữ ở các lứa tuổi. Theo thống kê ở các bệnh viện tuyến tỉnh,
thành phố qua từng thời kỳ 3 - 5 năm cho thấy tỷ lệ bệnh nhân vào điều trị nội
trú tăng 1,7 - 2,5 lần [3],[4],[5],[6].
Tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não trong những thập kỷ gần đây
đang giảm dần ở một số nước Nhật, Nam Phi và một số nước Châu Âu, hầu
hết các nước công nghiệp hóa [7]. Tại Mỹ, theo ước tính đến 2020 thì tai biến
mạch máu não và bệnh mạch vành là hai nguyên nhân hàng đầu của chi phí
chăm sóc y tế [8]. Tại Ấn Độ, tỷ lệ tai biến mạch máu não 250 - 350/100 000
dân, tỷ lệ thành thị 105/100 000 dân Kolkata và nông thôn 262/100 000 dân
Bengal [9]. Trong đó, số bệnh nhân có di chứng nặng và nhẹ chiếm 50%, số
chết chiếm 24%, số sống và trở làm việc bình thường chiếm 26% [10].
Rối loạn nuốt là vấn đề thường gặp ở bệnh nhân tai biến mạch máu não
não cấp, chiếm khoảng 42 - 67% [11,12,13,14] gây hít sặc dẫn đến viêm phổi
với tỷ lệ lên đến 73,4% [15,16]. Viêm phổi tăng nguy cơ tử vong gấp 5,4 lần
[17]. Trong đó, rối loạn nuốt làm tăng nguy cơ viêm phổi gấp 3,17 lần và hít
sặc tăng nguy cơ viêm phổi gấp 6,95 - 11,57 lần, thậm chí gấp 18 lần
[12,13,15,18]. Phát hiện sớm rối loạn nuốt không những giúp hạn chế nguy cơ
viêm phổi hít mà còn giúp giảm nguy cơ suy dinh dưỡng, giảm thời gian nằm
viện và tỉ lệ tử vong. Vì vậy việc chẩn đoán và điều trị sớm rối loạn nuốt ở
bệnh nhân TBMMN đã được xem là một trong những biện pháp làm giảm
biến chứng cũng như tử vong [19],[20],[21].
Chẩn đoán tình trạng rối loạn nuốt phải dựa vào việc đánh giá lâm sàng
được thực hiện. Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Bước đầu tìm hiểu rối
loạn nuốt và nhu cầu can thiệp phục hồi chức năng nuốt ở bệnh nhân tai
biến mạch máu não” với mục tiêu sau:
1. Xác định tình trạng rối loạn nuốt của bệnh nhân TBMMN tại
Trung tâm phục hồi chức năng bằng thang điểm lượng giá
MASA.
2. Tìm hiểu nhu cầu về can thiệp phục hồi chức năng nuốt ở bệnh
nhân TBMMN.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ QUÁ TRÌNH NUỐT
1.1.1. Định nghĩa quá trình nuốt [30], [31], [32]
Nuốt là một hành động phức tạp và tinh tế, đòi hỏi sự phối hợp co và
giãn của nhiều nhóm cơ với mục đích tống xuất viên thức ăn từ khoang miệng
vào dạ dày.
1.1.2. Giải phẫu [33]
1.1.2.1. Miệng và lưỡi
* Miệng
Miệng là phần đầu trên của ống tiêu hóa. Những cấu trúc hợp nên
miệng bao gồm ổ miệng, các tuyến nước bọt, răng và lưỡi. Môi, má, khẩu cái
và lợi là những cấu trúc thuộc ổ miệng.
* Lưỡi
- Lưỡi bao gồm phần miệng và phần hầu ngăn cách nhau bằng một rãnh
hình chữ V ở mặt lưng gọi là rãnh tận cùng.
- Lưỡi được phân chia bởi một vách sợi nằm theo mặt phẳng đứng dọc,
vai trò quan trọng trong cơ chế nuốt.
1.1.2.3. Thanh quản
- Thanh quản là một phần của đường hô hấp, có hình ống, trên thông
với hầu, dưới nối với khí quản, có nhiệm vụ phát âm, dẫn khí và coi như một
cái van bảo vệ khí đạo (đặc biệt là trong khi nuốt). Nó nằm ở giữa cổ ngay
trước thanh hầu, ngang mức từ thân đốt sống cổ III đến IV.
5
* Cấu tạo
- Các sụn thanh quản gồm có 3 sụn đơn: sụn giáp, sụn nhẫn và sụn nắp
thanh môn, và 4 sụn đôi là: sụn phễu, sụn sừng, sụn chêm và sụn thóc. Trong
đó sụn chêm và sụn thóc là những sụn phụ, nhỏ.
- Các cơ thanh quản:
+ Nhóm cơ làm hẹp thanh môn: cơ nhẫn phễu bên, cơ giáp phễu, cơ phễu
chéo và ngang, cơ phễu nắp thanh hầu.
+ Nhóm cơ làm rộng thanh môn: cơ nhẫn phễu sau, cơ giáp nắp thanh hầu.
+ Nhóm cơ làm căng và chùng dây thanh âm: cơ nhẫn giáp, cơ thanh âm.
- Cấu trúc trong thanh quản. Từ trên xuống:
+ Tiền đình thanh quản là khoang mở về phía trên.
+ Băng thanh thất.
+ Buồng Morgagni.
+ Thanh môn là khoang giữa hai dây thanh.
+ Hạ thanh môn là khoang mở về phía dưới vùng khí quản.
+ Hai xoang lê ở phía ngoài mở lên trên vào vùng hạ họng.
- Thần kinh: Do hai dây thần kinh thanh quản trên và dưới, tách từ dây
thần kinh X.
+ Dây thanh quản trên: cảm giác cho thanh quản ở phía trên nếp thanh âm
và vận động cơ nhẫn giáp.
răng thường không thể ăn được thức ăn khô.
1.1.3.2. Nuốt [35],[36]
Nuốt là một động tác nửa tùy ý (có nhận thức) nửa tự động (không
nhận thức) có cơ chế phức tạp:
7
- Tùy ý: xảy ra khi chúng ta cảm thấy cần phải nuốt, trung bình 21 ml
đầy miệng để kích thích nuốt.
- Tự động: xảy ra khi thức ăn và nước uống kích thích phần sau lưỡi
hoặc cung khẩu cái, để kích thích tiết nước bọt khi miệng bị khô hoặc nuốt
nước bọt tích đọng trong miệng và hầu (1-2 ml).
Nuốt là một chuỗi điều phối tinh tế của các vận động cơ được chia
thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị cho giai đoạn miệng: chú ý, có sự chuẩn bị cho
việc tiếp nhận thức ăn bao gồm hoạt động cắn và nhai. Thức ăn được xử lý
trong miệng và nhai khi cần để có thể giảm khối lượng thức ăn thành mật độ
có thể nuốt. Tại giai đoạn này viên thức ăn được hình thành do đã được nhào
trộn với nước bọt hoặc khối chất lỏng. Chính giai đoạn chuẩn bị này tạo ra sự
thích thú trong khi ăn.
- Giai đoạn miệng:
+ Kích thích vùng nhận cảm nuốt ở quanh vòm họng, đặc biệt trên các
cột hạnh nhân, xung động truyền về trung tâm nuốt ở hành não theo các sợi
cảm giác của dây tam thoa, dây số IX.
+ Lưỡi đẩy viên thức ăn/ ngụm nước uống ra sau, tại đây nó được đưa
vào vị trí để đi vào vùng hầu.
+ Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 giây.
- Giai đoạn hầu:
+ Khẩu cái mềm được kéo lên trên để đóng lỗ mũi sau ngăn sự trào
nuốt bao gồm phần lưng của hành não và phần bụng trước của hành não. Tại
phần lưng của hành não có bó từ nhân đơn độc do các sợi xuất phát từ nhân
cảm giác dây thần kinh sọ VII, IX, X, dây thần kinh thanh quản trên, nhân
cảm giác dây X tại cầu não và thể lưới. Nhân mơ hồ tại phần bụng của hành
não gửi tín hiệu đến các cơ thanh quản, hầu và thực quản.
9
Các vùng vỏ não và dưới vỏ là con đường quan trọng trong việc khởi
động nuốt. Các nghiên cứu sử dụng kích thích từ xuyên sọ để thăm dò các
vùng vận động của vỏ não và các cơ trong quá trình nuốt đã thấy rằng các cơ
miệng như cơ giáp móng được đại diện đối xứng giữa hai bán cầu đại não.
Trong khi đó các cơ vùng hầu họng được đại diện không đối xứng giữa hai
bán cầu đại não và hầu hết mọi người đều có một bán cầu ưu thế hơn. Ý nghĩa
của những nghiên cứu lâm sàng này đã chỉ ra hầu như khó nuốt hầu họng là
do tổn thương bán cầu não ưu thế.
Phần lưng và bụng của hành não kiểm soát quá trình nuốt được đại diện
ở cả hai bên và có sự liên kết với nhau. Cả hai bên có thể phối hợp hoạt động
trong pha hầu và thực quản, tuy nhiên do chúng có sự liên kết với nhau nên
vận động và cảm giác bình thường của mỗi bên thực quản cần có sự nguyên
vẹn của cả hai bên hành não. Ý nghĩa của nghiên cứu lâm sáng là tổn thương
hành tủy một bên có thể dẫn tới rối loạn vận động và cảm giác thực quản cả
hai bên.
Hình 1.2: Chi phối thần kinh điều khiển phản xạ nuốt
10
Dây hỗn hợp
Liên
quan
hầu, giúp nâng thanh quản và hầu.
3 - Tự động: tiết nước bọt.
hầu, khẩu cái
mềm/ khẩu hầu/
nhân: Nhân mơ
hạch hạnh nhân.
hồ, nhân nước
- Vị giác 1/3 sau
bọt dưới và nhân
lưỡi.
đơn độc.
X (lang thang)
- Cùng với dây thần kinh sọ IX chi phối -
Dây hỗn hợp
trơn
phế
- Các cơ ức đòn chũm và cơ thang.
quản, thực quản,
tim, dạ dày
XII (hạ thiệt)
- Kích hoạt tất cả các cơ nội tại và ngoại
lai của lưỡi: cằm lưỡi, móng lưỡi và trâm
lưỡi.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ RỐI LOẠN NUỐT (DYSPHAGIA)
1.2.1. Tình trạng rối loạn nuốt sau tai biến mạch máu não trên thế giới và
Việt Nam
Rối loạn nuốt là một thuật ngữ dùng để chỉ sự suy giảm hoặc rối loạn
các giai đoạn miệng, hầu hoặc thực quản của quá trình nuốt. Rối loạn nuốt
bản thân nó không phải là một bệnh mà là hậu quả thứ phát của các bệnh lý có
nguồn gốc thần kinh, ung bướu, cấu trúc, tâm lý, hậu phẫu, bẩm sinh hoặc do
điều trị.
Rối loạn nuốt sau TBMMN rất thường gặp và phát hiện rối loạn nuốt là
một phần quan trọng của quản lý TBMMN cấp. Tỷ lệ rối loạn nuốt ở bệnh
nhân TBMMN cấp từ 52%, sau 1 tuần 25 - 30% [40],[41]. Rối loạn nuốt có
thể tồn tại nhiều tháng sau TBMMN, sau 6 tháng có thể thấy trên lâm sàng
của rối loạn nuốt từ 11-50% các trường hợp [42],[43],[44]. Tỷ lệ này dao
động khá lớn do nó phụ thuộc vào cách xác định rối loạn nuốt và thiết kế
nghiên cứu. Cơ quan Nghiên cứu y tế và chất lượng (AHRQ) ước tính rối loạn
1.2.2. Các triệu chứng lâm sàng gợi ý tình trạng rối loạn nuốt [17][22][31]
13
-
-
-
Dấu hiệu và triệu chứng rối loạn giai đoạn miệng:
•
Tồn đọng thức ăn trong miệng.
•
Chảy nước dãi.
•
Trào ngược miệng/ mũi.
Dấu hiệu và triệu chứng rối loạn trong giai đoạn hầu:
•
Chảy nước dãi.
•
Chảy nước dãi.
•
Viêm phổi gần đây.
•
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
•
Thay đổi thói quen ăn uống.
1.2.3. Chẩn đoán rối loạn nuốt [46], [47]
Việc chẩn đoán rối loạn nuốt căn cứ vào:
-
Thực hiện đánh giá lâm sàng bao gồm hai bước:
14
+ Bước 1: tiến hành nghiệm pháp sàng lọc rối loạn nuốt được thực hiện
bởi các nhân viên y tế được đào tạo cho việc sàng lọc tại các đơn vị
cấp cứu hoặc khoa phòng không phải đơn vị PHCN.
+ Bước 2: thực hiện các phương pháp lượng giá lâm sàng tại giường đã
được chuẩn hóa bởi chuyên viên ngôn ngữ tại các đơn vị PHCN.
-
Lượng giá
nuốt của Mann
cải tiến
(MMASA)
[51]
Các thành phần và cách thức
tiến hành
150 bệnh nhân bị NMN cấp tính
được lượng giá nhanh bởi 2 chuyên
viên thần kinh sau nhập viện. Kết
quả được so sánh với kết quả lượng
giá bởi chuyên viên ngữ với thang
điểm MASA đầy đủ.
12 trong số 24 mục của thang điểm
MASA được sử dụng, điểm tối đa là
100.
Trapl và Cs Đánh giá sơ bộ (sự cẩn trọng, làm
2007
sạch họng, nuốt nước bọt)
Phương pháp Quan sát nuốt trực tiếp (dịch đặc,
sàng lọc
dịch lỏng, nước)
Gugging
Thang điểm: 0 (nặng) - 20 (không
(GUSS)
rối loạn nuốt)
[52]
Thử nghiệm trên 80 bệnh nhân
Độ nhạy: 100%
Độ đặc hiệu: 50%
Nhóm 2 gồm 30
bệnh nhân
Độ nhạy: 100%
Độ đặc hiệu: 69%
Tần số rối loạn nuốt
được xác định bằng
phương pháp VFS là
39%
Độ nhạy: 91%
Độ dặc hiệu: 67%
Độ tin cậy ICC =
0,92
(95% CI: 0,85-0,96)
16
Tác giả/ tên
phương pháp
Edmiaston và
Cs
2009
USA
[54]
Các thành phần và cách thức
tiến hành
1.2.3.2. Phương pháp lượng giá lâm sàng tại giường
a. Sơ lược về lượng giá lâm sàng tại giường
Lượng giá lâm sàng tại giường là tổng hợp các đánh giá chi tiết về tình
trạng nuốt của người bệnh thông qua việc khai thác các thông tin bệnh sử, tiền
sử, lượng giá về vận động và cảm giác vùng miệng hầu, thực hiện các thử
nghiệm với các đồ ăn và thức uống khác nhau. Từ đó đưa ra được các thông
tin về các bất thường giải phẫu, sinh lý của pha miệng hầu và các giả thuyết
về rối loạn nuốt tại pha thực quản. Đây là nền tảng cho việc chẩn đoán và lựa
chọn phương pháp can thiệp, điều trị rối loạn nuốt thích hợp [49][55].
17
Bảng 1.3: Điểm khác nhau giữa nghiệm pháp sàng lọc và phương pháp
lượng giá lâm sàng tại giường.
Điểm khác
nhau
Mục đích
Nghiệm pháp sàng lọc
Lượng giá lâm sàng tại giường
(Screening test)
Có / không nguy cơ rối
loạn nuốt.
Tiên lượng.
Khuyến nghị can thiệp
tạm thời.
dấu hiệu nguy hiểm.
giai đoạn của quá trình nuốt.
Độ nhạy cao
Độ đặc hiệu cao
Nhân viên y tế được Chuyên viên ngôn ngữ.
hiện
huấn luyện không phải
Thời gian
chuyên viên ngôn ngữ.
Nhanh trong vòng 15 – Cần nhiều thời gian hơn, ít nhất
20 phút.
trong 30 phút.
18
Việc lượng giá lâm sàng tại giường có thể được phân chia thành 8 phần
sau đây:
Thông tin bệnh sử
Quan sát thực thể.
19
Độ tin cậy (K value) từ 0,4 - 0,8. Tuy nhiên điều này còn liên quan tới
trình độ và kinh nghiệm của người đánh giá [59].
Hình1.3: Các giai đoạn của quá trình nuốt đánh giá bằng VFS
1. GĐ miệng; 2.GĐ hầu; 3,4. GĐ thực quản
b. Nội soi ống mềm đánh giá nuốt (FEES - Fibre Endoscoppic Evaluation
of Swallowing)
Được báo cáo lần đầu vào năm 1988. Dùng ống soi mềm đưa qua
đường mũi quan sát hầu họng, thanh quản sau ăn hoặc uống thức ăn có màu.
Ưu điểm: Rất an toàn, tỷ lệ chảy máu mũi là 1/1000 ca. Làm được tại
giường. Có thể đánh giá với nhiều loại thức ăn, đánh giá cả giải phẫu và cảm
giác vùng hầu họng [60].
Nhược điểm: Đòi hỏi phương tiện, trình độ của người thực hiện. Không
quan sát được giai đoạn miệng, không quan sát được viên thức ăn khi đi qua
hầu họng do các cơ vùng này co thắt khít khi nuốt.
So với VFS: độ nhạy > 0,88, độ dặc hiệu 0,5 - 0,92, giá trị dương tính
của chẩn đoán là 0,69 - 0,88, giá trị âm tính của chẩn đoán là 0,63 - 1,0 [61].
20
c. Đánh giá bằng bão hòa oxy mao mạch [62],[63]
- Đo SpO2 đầu ngón tay khi bệnh nhân làm nghiệm pháp nuốt chất lỏng.
- Chẩn đoán dương tính khi SpO2 giảm 2% giá trị ban đầu.
- Ưu điểm: dễ làm, nhanh, đơn giản, nhắc lại nhiều lần, không xâm nhập.
- Nhược điểm: độ tin cậy thấp, ảnh hưởng bởi tuổi tác, bệnh lý hô hấp,
+ Viên thức ăn chua
+ Viên thức ăn có kết cấu
+ Viên thức ăn lạnh.
+ Viên thức ăn cac-bon hóa
1.2.4.2. Kỹ thuật phục hồi chức năng [27],[36],[65],[66].
Kỹ thuật phục hồi chức năng được định nghĩa là những kỹ thuật điều trị,
trong đó, khi được thực hiện trong quá trình thời gian, dẫn đến thay đổi trong
sinh lý của cơ chế nuốt. Có thể phân loại như sau:
• Các bài tập vận động miệng
- Mục đích: tăng sức mạnh, độ bền cơ vân của lưỡi, môi, hàm.
- Động tác lặp lại: thụ động, tích cực, đối kháng, lặp đi lặp lại.
• Các bài tập làm sạch họng và giảm tồn đọng: Nuốt gắng sức, nuốt trên
thanh môn, nuốt siêu trên thanh môn, nghiệm pháp Masako, nghiệm pháp
Mendelson, bài tập Shaker.
• Các bài tập khép dây thanh.
1.2.4.3. Thủ thuật xâm lấn
* Không cho ăn bằng đường miệng
- Các phương thức cho ăn qua ruột (Enteral feeding option)
+ Ống sonde miệng - dạ dày (Orogastric - Tube)
+ Ống sonde mũi - dạ dày (Nasogatric - Tube)
+ Mở dạ dày qua da qua nội soi (Percutaneous endoscopic gastrotomy)
+ Mở hỗng tràng qua da qua nội soi (Percutaneous endoscopic jejunostomy)
- Nuôi dưỡng hoàn toàn ngoài ruột (Total parenteral nutrition - TPO).
22
* Điều trị ngoại khoa
- Điều trị hít phải dị vật:
+ Cắt cơ nhẫn hầu.
giá khác nhau, từ những quan sát các triệu chứng chủ quan như ho sau khi
uống chất lỏng, để đánh giá tổng thể về chức năng, hoặc sử dụng các phương
tiện can thiệp chẩn đoán hình ảnh (VFS, FEES). Tuy nhiên, bất kể sử dụng
phương pháp nào, một công cụ lượng giá nên dễ dàng sử dụng, có giá trị và
phải được chứng minh có độ tin cậy cao trong việc chẩn đoán rối loạn nuốt
sau TBMMN. Hơn nữa, một phương pháp như vậy cần có khả năng xác định
mức độ nghiêm trọng của tình trạng rối loạn nuốt.
Mặc dù phương pháp chiếu điện quang có quay video được coi là tiêu
chuẩn vàng để chẩn đoán rối loạn nuốt nhưng theo các tác giả Ramsey (2003)
và Martino (2006) quan điểm này không được công nhận một cách rộng rãi
[26] [58]. Các phương thức thực hiện chiếu điện quang có quay video khác
nhau giữa các chuyên gia và các đơn vị nghiên cứu. Ngoài ra, độ tin cậy ước
tính cho việc giải thích các kết quả nghiên cứu về sinh lý học từ kỹ thuật này
là rất thấp. Ước tính có độ tin cậy cao chỉ được báo cáo cho một biến duy nhất
là việc xác định tình trạng hít sặc [69]. Ngoài ra, các thức ăn pha trộn chất
phóng xạ không mô phỏng giống với điều kiện ăn uống bình thường và
thường đánh giá thấp thời gian cần thiết cho bệnh nhân để tiêu thụ thực phẩm.
Mặc dù các tiếp xúc với bức xạ trong một lần đánh giá được coi là chấp nhận
được nhưng lặp lại thường xuyên can thiệp này là điều không mong muốn.
Hơn nữa, những hạn chế về thể chất hoặc nhận thức của bệnh nhân có thể
hoàn toàn ngăn cản sử dụng kỹ thuật đánh giá này.
Martino, Pron và Diamant (2000) báo cáo kết quả điều tra chỉ ra rằng
có 71% số chuyên viên ngôn ngữ đã thực hiện một đánh giá lâm sàng hoàn
chỉnh kiểm tra tình trạng nuốt và chỉ có 36% sử dụng các phương can thiệp
24
chẩn đoán hình ảnh [70]. Hơn nữa, các phương pháp can thiệp chẩn đoán
đoán hình ảnh hầu hết đều không được thực hiện trong một đánh giá lâm sàng
Thang điểm MASA cung cấp tổng điểm và các chỉ tiêu đánh giá mức
độ nghiêm trọng của rối loạn nuốt và hít sặc. Đồng thời nó được ghi nhận để
đánh giá tình trạng nuốt qua thời gian. MASA đã và đang tiếp tục được sử
dụng trong một số nghiên cứu có quy mô lớn của rối loạn nuốt. Hơn nữa
MASA được coi là phương pháp đánh giá lâm sàng đơn giản đã được báo cáo
bởi một số tác giả để thuận tiện cho việc đánh giá tình trạng rối loạn nuốt sau
TBMMN và tăng cường hiệu quả với nguồn trang thiết bị hạn chế [72],[73].
1.3.2. Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề rối loạn nuốt còn rất mới mẻ và hầu hết mới chỉ
nghiên cứu ở mức độ sàng lọc tại các đơn vị cấp cứu trong giai đoạn cấp bởi
đối tượng điều dưỡng. Việc lượng giá lâm sàng chi tiết về rối loạn nuốt bởi
các chuyên viên ngôn ngữ chưa được tiến hành và triển khai tại các đơn vị
phục hồi chức năng. Một phần do nước ta còn hạn chế về cơ sở vật chất và
nguồn nhân lực được đào tạo về vấn đề này. Tuy nhiên, các nghiên cứu ban
đầu tại các bệnh viện Bạch Mai, Cà Mau về sàng lọc rối loạn nuốt đã đưa ra
một con số rối loạn nuốt đáng kể sau TBMMN.
1.4. NHU CẦU CAN THIỆP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NUỐT
1.4.1. Rối loạn nuốt và biến chứng
1.4.1.1. Hít sặc (Aspiration)
Hít sặc là hiện tượng thức ăn, dị vật xâm nhập vào đường thở dưới dây
thanh âm thật. Hít sặc rất hay thường gặp sau TBMMN, tỷ lệ gặp ở khoảng
một nửa bệnh nhân TBMMN cấp (43 - 54%) [65][74]. Ở bệnh nhân
TBMMN, tình trạng rối loạn nuốt do giảm phản xạ nuốt và giảm vận động,
cảm giác của lưỡi và hầu họng làm rối loạn quá trình vận chuyển thức ăn từ
miệng qua hầu họng vào thực quản và xuống dạ dày. Tình trạng thức ăn vận