ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
LÊ MAI NHẤT
iii
Lời cảm ơn
Đề tài đợc thực hiện tại Viện Bảo vệ thực vật và vùng trồng cam Canh huyện
Từ Liêm Hà Nội.
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
TS. Ngô Vĩnh Viễn thầy hớng dẫn khoa khọc, đã gợi ý đề tài và hớng dẫn
khoa học, cho những lời khuyên, động viên chân tình và kinh nghiệm quí báu trong
nghiên cứu.
Phòng đào tạo Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và Ban đào tạo
sau đại học Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và các thầy cô giáo đã giảng dậy
trong 2 năm qua.
Lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật và các phòng ban đã tạo điều kiện về cơ sở vật
chất và tinh thần để tiếp sức cho tôi hoàn thành tốt luận văn.
Các đồng nghiệp trong Bộ môn Bệnh cây Viện Bảo vệ thực vật đặc biệt là các
bạn trong nhóm nghiên cứu bệnh hại cây ăn quả có múi luôn dành cho tôi những thời
gian quí báu và sẵn sàng giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn.
Giáo s Hong Ji Su - Đài Loan đã giúp tôi bộ kít chẩn đoán bệnh greening,
tristeza cũng nh các phơng pháp chẩn đoán nhanh khi đi thực địa.
Xin ghi nhận nơi đây tình cảm yêu thơng của vợ, cha mẹ và anh chị đã luôn
viii
Danh mục các hình
x
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
4
1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài
2.3. Nội dung nghiên cứu và các vấn đề cần giải quyết
32
v
2.4. Phương pháp nghiên cứu
32
2.4.1. Phương pháp điều tra thành phần bệnh hại trên các vườn cam
32
Canh tại Từ Liêm – Hà Nội
2.4.2. Phương pháp vi ghép đỉnh trưởng làm sạch bệnh vàng lá
33
greening, tristeza trên cây cam Canh
2.4.3. Phương pháp chẩn đoán bệnh vàng lá greening, tristeza trên
35
cây cam Canh bằng kỹ thuật PCR, Iodine, ELISA và khẳng định
cây vi ghép sạch bệnh
2.4.4. Phương pháp sản xuất cây giống cam Canh sạch bệnh theo hệ
39
trong hệ thống nhà lưới 3 cấp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
81
1. Kết luận
81
2. Kiến nghị
82
Tài liệu tham khảo
83
Phụ lục
92
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các chữ viết tắt
CIRAD-FLHOR
Nội dung
Centre de coopération internationale en recherche
BSA
Bovine serum albumin
dNTP
Deoxy Nucleotide triphosphate
EDTA
Sodium ethylene diaminetetraacetate
PBS-T
Phosphate-buyer saline-Tween
SDS
Sodium dodecyl sulphate
DIECA
Diethyldithio carbamate
DMSO
Dimethyl sulphate
IgG
vii
DMS
Dimethyl sulphate
TBS
Tris buffered saline
PVP
Polyvinyl pyrrolidone
MM
Master mix
bp
base pairs cặp base
DNA
Deoxyribose nucleic acid
PCR
CTV
Cộng tác viên
CNSH
Công nghệ sinh học
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Bảng
Trang
1.1
Diện tích và các loài được trồng chủ yếu ở nước ta
23
3.1
Thành phần bệnh hại chính trên vườn cam Canh (Hà Nội,2007)
44
Kết quả điều tra tuổi thọ của cây cam Canh tại một số xã trong
52
huyện Từ Liêm, 2007
3.7
Ảnh hưởng của các loại môi trường đến chất lượng cây cam ba
57
lá sử dụng làm gốc ghép lần 1 (Viện BVTV, 2007))
3.8
Ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng đến chất lượng cây gốc
58
ghép lần 1(Viện BVTV, 2007)
3.9
Ảnh hưởng của tuổi cây gốc ghép lần 1 đến tỷ lệ sống sót sau
59
vi ghép (Viện BVTV, 2007).
3.10
Ảnh hưởng của thời gian xử lý rễ cây sau vi ghép bằng thuốc
Kết quả giám định cây cam Canh sau vi ghép đỉnh sinh trưởng
68
thành công (Viện BVTV, 2007)
3.15
Kết quả xử lý giá thể trước khi gieo hạt làm cây gốc ghép (Viện
73
BVTV, 2006)
3.16
Ảnh hưởng của các loại gốc ghép đến tỷ lệ cây sống sau
74
ghép(Viện BVTV, 2007)
3.17
Ảnh hưởng của mắt ghép đến tỷ lệ sống sau ghép (Viện BVTV,
76
2007)
3.18
Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống của cây sau ghép
Tên hình
2.1
Qui trình phục tráng và làm sạch bênh greening và các bệnh
Trang
34
virus khác hại cam quýt bằng công nghệ vi ghép đỉnh sinh
trưởng.
2.2
Hệ thống nhà lưới ba cấp sản xuất và cung cấp giống cam
40
Canh sạch bệnh
3.1
Sản xuất cây giống ngoài trời
46
3.2
Sản xuất cây giống trên ruộng rau trồng đậu Hà Lan
46
3.8
Kết quả ELISA đối với bệnh Tristeza
48
3.9
Mẫu lá và bộ kít chẩn đoán bệnh greening bằng Iodine
50
3.10
Kết quả giám định bằng Iodine
50
3.11
Các tuổi cây khác nhau trên cùng một đơn vị diện tích.
53
3.12
Dụng cụ cần thiết khi tiến hành vi ghép đỉnh sinh trưởng
55
3.18
Các loại môi trường khác nhau gieo hạt cam 3 lá
58
3.19
Cây vi ghép được xử lý rễ bằng thuốc Bavistine 50FL
64
3.20
Cây sau vi ghép lần 1 nuôi trong ống nghiệm: 1, 2, 3 tháng
64
xi
3.21
Dụng cụ chuẩn bị vi ghép lần 2.
65
3.22
Cây vi ghép nuôi trong ống nghiệm 1 tháng tuổi.
66
3.28
Cây vi ghép lần 2 thành công
67
3.29
Hạt khoẻ và hạt bị bệnh vàng lá greening
74
3.30
Chọn lựa cây mạ trước khi ra ngôi
74
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ăn quả có múi gồm nhiều loại và giống có giá trị kinh tế cao, được
thuần hoá từ rất lâu và trồng rộng rãi ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới, á
nhiệt đới thậm chí ôn đới. Ở nước ta cây ăn quả có múi cũng là cây quan trọng
và phổ biến khắp ba miền Bắc, Trung và Nam.
Chương trình quản lý tổng hợp bệnh vàng lá greening bắt đầu trong thập
kỷ 90 khi nông dân, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý cùng quan tâm tìm
giải pháp cứu vãn các vườn cam, quýt khỏi cơn đại dịch. Chương trình được
tiến hành với sự hợp tác hiệu quả của Trung tâm công nghệ lương thực phân
bón châu Á Thái Bình Dương (FFTC) có trụ sở đóng tại Đài Loan và Trung
tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp quốc tế của Cộng hoà Pháp
(CIRAD).
Với sự tài trợ đó, kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh trưởng ở Việt Nam đã mang
lại hiệu quả cho một số tỉnh trồng cam, quýt như Hà Giang, Tuyên Quang,
Nghệ An. Ở Hà Nội giống cam Canh là một loại cây ăn quả đặc sản đang bị
bệnh vàng lá greening gây hại nghiêm trọng song kỹ thuật vi ghép đỉnh sinh
trưởng chưa được tiến hành đối với cam Canh. Giống này đã và đang bị bệnh
vàng lá greening tàn phá rất nhanh, bên cạnh đó do quá trình đô thị hoá và
công nghiệp hoá nên diện tích cũng nhanh chóng bị thu hẹp lại. Để khắc phục
được những tình trạng đó nhu cầu sử dụng cây giống sạch bệnh là không thể
thiếu được, diện tích bị thu hẹp nên việc trồng mới thâm canh cao cũng cần
được tiến hành song song.
Bệnh vàng lá greening, tristeza đã gây hại nặng và lây lan bằng hai con
đường đó là sử dụng giống từ cành chiết, mắt ghép bị bệnh và môi gới truyền
bệnh. Để khôi phục, phát triển được giống cam Canh và chống tái nhiễm trên
đồng ruộng phục vụ sản xuất. Biện pháp then chốt trước hết cần phải có cây
3
đầu dòng, cây cung cấp mắt ghép sạch bệnh. Cây giống trồng trong sản xuất
phải đảm bảo sạch bệnh vàng lá greening, tristeza và một số bệnh vi rút tương
tự viroid. Với yêu cầu cấp bách đó tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Ứng
dụng công nghệ vi ghép đỉnh sinh trưởng làm sạch bệnh greening trên cam
Canh ở Hà Nội trong hệ thống nhà lưới 3 cấp sản xuất cây giống”
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài
Bệnh vàng lá greening do một loại vi khuẩn gây bệnh, vi khuẩn không
định hình, có tên khoa học là Liberobacter asiaticum và không nuôi cấy được
trên môi trường nhân tạo. Dưới kính hiển vi điện tử, sử dụng lát cắt mỏng có
thể thấy được hình dạng tự nhiên của vật gây bệnh, vi khuẩn có vách dầy,
không có nhân, có lông cứng, kích thước 350 – 550 x 600 – 1500nm, có 2 lớp
tế bào xung quanh, độ dầy từ 20 – 25 nm.
Ở Việt Nam các giống cây ăn quả có múi đều bị nhiễm bệnh này. Triệu
chứng bệnh greening trên đồng ruộng phụ thuộc vào giống cây có múi và việc
đánh giá chung. Triệu chứng chung nhất của bệnh là gân lá bị vàng ở những
mô lá liền kề, sau đó lá vàng hoặc khảm vàng, đôi khi có sự hoá bần của gân
lá. Cây bị bệnh, lá thường bị rụng sớm, làm chết cành, gây thối rễ và cuối
cùng làm cho toàn bộ cây bị chết. Những lá bị bệnh thường vẹo, nhỏ, lệch
tâm, thon nhỏ tương tự như triệu chứng lá cây bị thiếu kẽm. Cây bị bệnh
greening thường lùn, hoa ít và bị rụng, quả nhỏ, vỏ dầy và có màu xanh nhạt.
Bệnh vàng lá greening lây lan qua cành chiết, mắt ghép lấy từ cây đã bị
bệnh. Trên đồng ruộng bệnh còn lây lan qua rầy chổng cánh Diaphorina citri.
Giống cây có múi được nhân vô tính, do vậy nếu lấy mắt ghép từ cây bị bệnh
đồng nghĩa với việc nhân nguồn bệnh. Muốn có cây giống sạch bệnh cần tiến
hành vi ghép đỉnh sinh trưởng để tạo ra cây cung cấp mắt ghép sạch bệnh.
Kỹ thuật vi ghép đối với cây cam quýt hay còn gọi là kỹ thuật vi ghép
đỉnh sinh trưởng (Shoot tip grafting) được Murashige áp dụng lần đầu tiên
vào năm 1972 sau đó được cải tiến hoàn chỉnh bởi Navarro 1975;
Braxin trong những năm 1970.
Để ngăn ngừa được bệnh vàng lá greening, người nông dân nên bắt đầu
trồng bằng giống cây sạch bệnh lấy từ các cơ sở sản xuất đáng tin cậy của nhà
nước. Tiếp sau đó cần chú trọng phòng trừ môi giới truyền bệnh là rầy chổng
cánh bằng các loại thuốc hoá học đặc hiệu vào các thời điểm thích hợp. Chú ý
các đợt lộc, phun thuốc ngay từ khi lộc mới nhú được vài milimét (Aubert,
6
1990)[32]. Nên sử dụng thuốc hoá học thuộc nhóm nội hấp để phòng trừ
(Bové, 1980)[38]. Để phòng trừ sự tái nhiễm của bệnh cũng như sự lây lan
của bệnh trong vườn và vùng lân cận, người nông dân phải hợp tác và tuân
thủ qui trình phòng trừ tổng hợp của các nhà khoa học (Philippe,1997)[66].
Vườn sản xuất phải được cách ly với khu vực vườn cây trồng đã nhiễm
bệnh, đặc biệt là bệnh vàng lá greening, cùng với việc tổ chức quản lý chặt
chẽ việc nhân giống cây con và lưu thông giống với các vùng lân cận. Vườn
sản xuất có thể được cách ly về mặt địa lý, nằm dưới thung lũng ở vùng núi,
hoặc được cách ly bởi rừng cây hay hàng cây trồng phân cách bao xung quanh
vườn. Tiến hành điều tra định kỳ để phát hiện và ghi nhận sự hiện diện của
bệnh cũng như sự phát sinh của các loài sâu, bệnh hại chính trên đồng ruộng
(Su, H.J; Chen, C.N, 1991)[74].
1.2.1.1. Tình hình chung về cây có múi
Theo Vũ Công Hậu, 1999 [9] Nguồn gốc: Khó có thể xác đinh được
nguồn gốc của các loài cây có múi vì bao gồm rất nhiều loài và là cây trồng
đã được thuần hoá lâu năm, phân bố rộng, từ xích đạo lên vĩ tuyến 430. Các
loài, thậm chí các chi lai hữu tính với nhau một cách dễ dàng, luôn tạo ra các
loài mới và những loài người ta không xác định được bố mẹ. Ở nước ta có
những giống như chấp, cam bù, thậm chí ngay giống cam sành đã trồng rất
phổ biến từ Bắc đến Nam và trồng ở nhiều tỉnh thành, các chuyên gia gọi là
Chanh: Có hai loài chính: chanh núm và chanh vỏ mỏng.
Chanh núm (Citrus limon) gốc ở miền Trung và tây Bắc Ấn Độ ít mưa, không
ưa các khí hậu nhiệt đới ẩm mà ưa thích những khí hậu không quá nóng
nhưng cũng không lạnh và hơi khô. Trồng nhiều là vùng Xi-xin (Ý), Hy Lạp,
Tây Ban Nha, Nam California và ở đây chanh núm có chất lượng cao, chín
vàng, thơm, nhiều nước. Quả có núm ở phía đuôi, hình trái xoan, vỏ dày.
8
Chanh vỏ mỏng (Citrus aurantifolia) gốc ở vùng nóng và mưa nhiều phía
Nam Ấn Độ cũng như ở bán đảo Đông Dương. Loài chanh này chịu nóng, khí
hậu ẩm mưa nhiều. Cây nhỏ, nhiều cành nhỏ, nhiều gai, cuống lá gần như
không xẻ thuỳ. Quả thường nhỏ, vỏ mỏng, quả hình tròn hoặc hình trái xoan,
có một núm nhỏ, nhưng khác biệt ở chỗ vỏ mỏng, nhiều nước, rất chua. Khi
chín vỏ quả có màu xanh hoặc chỉ hơi vàng, khi cắt đôi thịt quả thường màu
xanh nhạt, tuy cũng có giống thịt đỏ, vỏ đỏ. Chanh vỏ mỏng trồng chủ yếu ở
các nước nhiệt đới hoặc á nhiệt đới nóng ẩm. Ví dụ ở Mỹ trồng ở Florida
thích hợp hơn chanh núm.
Quýt (Citrus reticulata) Theo Swingle những đặc tính chính của quýt là nhiều
múi (9 – 13) cuống lá có cánh hẹp, vỏ dễ bóc, hạt nhỏ, phôi hạt xanh lục,
nhưng theo Praloran (40) loài Citrus reticulata có thể được chia thành 4
nhóm phụ đó là:
Quýt Satsuma chịu rét tốt, trồng tại Nam Nhật Bản, ở vĩ tuyến cao nhất so với
các cây có múi khác. Quýt Satsuma chín sớm, thường không có hạt và có
nhiều loài phụ.
Quýt King: quả to, vỏ dày hơi khó bóc giống như cam, đáy quả hơi lõm
xuống, một số hạt có phôi màu xanh, thịt khi chín đỏ vàng giống như quýt nên
Praloran (40) cho rằng đó là một giống lai giữa cam Citrus cinensis và quýt
Citrus reticulata. Nhiều tác giả xếp quýt king vào loài Citrus nobilis, chủ yếu
các nước quanh Địa Trung Hải. Số lượng giống nhiều và có thể phân làm 3
nhóm chính.
Cam Navel: ta gọi là cam có rốn vì ở đáy quả có một thứ quả phụ nằm lọt
trong quả chính, bổ quả làm đôi mới thấy rõ. Ở Việt Nam đã trồng thử nhưng
do giống này không chịu khí hậu nóng ẩm nên vỏ dày, ít nước, chưa được
trồng với qui mô công nghiệp.
Cam vàng: quả màu vàng mặt trời nên còn gọi là vàng da cam, khác với vàng
rơm, vàng da chanh. Thịt cùng màu. Đây cũng là loài cam được trồng phổ
10
biến nhất so với hai nhóm cam Navel và cam huyết, thích hợp với khí hậu
nóng hơn. Đa số các giống trồng ở Việt Nam thuộc nhóm này. Một số loài
nhập nội trước đây từ Trung Quốc nhưng phần lớn do các sở canh nông thời
Pháp nhập nội như cam Xã Đoài (giống Valencia late theo một số chuyên gia
Pháp), cam Vân Du (trước đây gọi là cam Sunkis), cam Sông Con ở Miền
Bắc, cam Mật ở miền Nam và còn có thể kể ra nhiều loài cam khác gọi theo
tên vùng trồng. Đa số các loài này không biết nguồn gốc nhưng có thể do các
vườn cây ăn quả của nhiều tỉnh, từ những giống nhập nội trước đây như cam
Hamlin, ping apple...
Cam huyết: Có màu đỏ trong vỏ, thịt quả do có antoxian. Những loài này gốc
ở vùng Địa Trung Hải và không trồng ở nhiệt đới.
Tóm lại cam là một loại cây thích hợp với các vùng á nhiệt đới giữa các
vĩ tuyến 30 – 400. Tuy nhiên nhóm cam vàng có thể trồng kinh doanh ở các
nước nhiệt đới với điều kiện thích hợp ví dụ như loài valencia late, nhất là
những loài đã được nhập nội từ lâu. Riêng ở Việt Nam điều kiện miền Bắc
thích hợp hơn ở miền Nam, mặc dù ở miền Nam có thể đạt sản lượng cao
hơn, nhưng chỉ có ở miền Bắc mới tạo ra được những quả cam chín vàng,
thơm, hương vị xấp xỉ với cam á nhiệt đới nhờ có mùa rét.
trên chanh do Phytoplasma, bệnh vàng lá do Xylelle fastidiosa và bệnh lùn
mất màu lá do vi rút.
- Nhóm gây thiệt hại trung bình, lây truyền được qua con đường cơ học như:
bệnh vảy vỏ do viroid exocortis, bệnh cachexia do viroid cachexia, bệnh vi rút
tatter leaf và bệnh psorosis do vi rút Ophio.
- Nhóm bệnh hoàn toàn kiểm soát được nếu sử dụng cây giống sạch bệnh và
chỉ do nhà nhân giống làm lây nhiễm qua việc ghép từ chồi bệnh gồm bệnh
psorosis A do virus Ophio, các bệnh thuộc nhóm cho triệu chứng “gân trong
dạng lá sồi” như bệnh mồng gà cristacortis, bệnh đá cứng, bệnh concave gum
12
và các bệnh chảy mủ vỏ thân do viroid, rỗ thân chảy mủ trên cam ba lá do
viroid hay bệnh nứt vỏ ở chỗ tiếp hợp do vi rút.
- Nhóm bệnh do côn trùng truyền nhưng thiệt hại không đáng kể: bệnh
veinenation do vi rút.
1.2.1.3.Bệnh vàng lá greening
Hoanglongbin hay vàng lá greening đang lan rộng trên 50 quốc gia, và
đe doạ nghiêm trọng đến nguồn gen cây có múi ở các nước châu Á. Bệnh
vàng lá greening xuất hiện từ năm 1929 tại Trung Quốc, mãi đến 1919
Reinking [71] mới báo cáo về bệnh và bệnh trở nên trầm trọng từ 1926 và
Lin, 1956[61] chứng minh bệnh truyền được qua mắt ghép. Tác nhân gây
bệnh truyền qua dây tơ hồng đến cây dừa cạn (Catharanthus roseus L.)
(Garnier; Bové, 1984) [51] và được khẳng định là một loại vi khuẩn nhuộm
gram âm. Bové và CTV,1984 [39] báo cáo rằng vi khuẩn gây bệnh vàng lá
greening ở Nam Phi là tác nhân không chịu nhiệt trong khi vi khuẩn này ở
Philippines và Ấn Độ chịu nhiệt tốt. Theo Su và CTV, 1993[76] cho rằng
dùng kháng thể đơn dòng sản xuất ở Đài Loan, Việt Nam, Thái Lan và
Malaixia trong khi Bové và CTV cũng sản xuất đoạn mồi (probe) tương tự và
gây bệnh vàng lá greening như sau: Cắt nhỏ gân lá từ lá bệnh (có triệu chứng
lốm đốm) từng mảnh nhỏ khoảng 1mm, cố định với 4% glutaldehyde trong
chất đệm 0,1M caccodylate (Phosphate), pH 7,5% trong 6 giờ. Với cùng loại
chất đệm trên nhúng 3 lần, sau đó cố định với 1% osmium tetroxide SO4 trong
cùng chất đệm rồi dùng máy cắt vi mẫu nhỏ để cắt mẫu nhuộm với citrate và
quan sát dưới kính hiển vi điện tử. Các nghiên cứu gần đây đã phát triển
kháng thể đơn dòng và nhờ sản xuất được các probe DNA, phương pháp chẩn
đoán và giám định bệnh nhanh chóng và chính xác (Garnier và Bové, 1984;
Hong Ji Su và CTV, 1993)[51] [76].
14
Tác nhân truyền bệnh greening: Bệnh lây lan qua RCC Diaphorina
citri Kuwayyama và Triozea erytrea Del Guercio. Loài thứ nhất phân bố ở
châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Bruney,
Ấn Độ...; loài thứ hai ở châu Phi như Nam Phi, Sudan, Madagasca.
Người ta cũng ghi nhận một số vùng có cả 2 loài rầy và cả 2 loài vi
khuẩn như ở Réunion, Mauritius, tây nam Ả rập. Mỗi loài rầy đều có khả
năng truyền được cả hai loài vi khuẩn (Aubert và CTV, 1988)[31]. Rầy
trưởng thành và rầy non thường tập trung ở các đọt non, chồi ngọn để chích
hút dịch tế bào.
Ký chủ của RCC là tất cả các cây trong họ cam quýt như: cam, quýt,
bưởi, chanh, hạnh... và đặc biệt là các cây cảnh như nguyệt quế, phật thủ,
trong đó nguyệt quế là cây được RCC ưa thích nhất.
Thiên địch của RCC là các loại bọ rùa, nấm ký sinh nhưng có 2 loài
ong quan trọng nhất đó là ong ngoại ký sinh Tamarixia radiata và ong nội ký
sinh Diaphorencyrtus aligarhensis. Ong Tamarixia radiata đẻ trứng nhiều
nhất trên ấu trùng tuổi 4 và cả hai đều ăn trên ấu trùng rầy, khi ấu trùng bị ăn
thì không đẻ trứng nữa (Aubert, 1987)[28].
pháp khác trong chiến lược phòng trừ tổng hợp mà kế hoạch hoạt động ngăn
chặn tác nhân gây bệnh và tác nhân truyền bệnh do con người chủ động quản
lý là quan trọng (Aubert, 1987)[29]
1.2.1.4. Bệnh vi rút Tristeza
Vi rút thuộc nhóm closterovirus, dạng hình que kích thước 12 x
2.000nm, gồm chuỗi RNA đơn, có vỏ protein bao bọc bên ngoài (Kitajima,
1964)[58]. Triệu chứng quan sát được trên cây có múi tuỳ thuộc vào điều kiện
môi trường, ký chủ tự nhiên và dòng vi rút gây bệnh. Nói chung, cam quýt có
thể chống chịu được bệnh này và không biểu hiện triệu chứng nhiễm bệnh,
trong khi nhóm chanh, nhóm bưởi chùm dễ bị nhiễm bệnh và triệu chứng biểu
hiện rất rõ. Dòng vi rút trên cam Valencia ở Indonexia, Trung Quốc, Đài Loan