Quan hệ giữa sở hữu và thành phần kinh tế - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
--------------o0o--------------
Đề án kinh tế chính trị
Đề tài:
Quan hệ giữa sở hữu và
thành phần kinh tế
Thầy giáo hớng dẫn: TS Lê Thục
Ngời viết : Lê Thanh Hằng
Lớp : Kế hoạch 42B
Hà Nội -2002
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
ội 2002
Phần I: Mở đầu
Khái quát vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế
Đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi mới, chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
Trong thời kỳ đổi mới này, vấn đề sở hữu và các thành phần kinh tế chiếm một vị
trí quan trọng trên con đờng đi lên CNXH ở nớc ta. Sở hữu là một phạm trù kinh
tế xuất phát và cơ bản của kinh tế chính trị . Nó nh là một tổng thể các quan hệ
kinh tế và theo đó là tổng thể các quyền sử dụng, chi phối, quản lý,gắn với một
chế độ xã hội nhất định. Mối quan hệ giữa sở hữu và các thành phần kinh tế là
một trọng những trọng điểm mà Đảng và Nhà nớc nớc ta đặc biệt quan tâm trong
thời gian gần đây. Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
đất nớc.
Thời gian vừa qua, Đại hội Đảng lần thứ VI nớc ta đã chỉ rõ sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế. Đảng và Nhà nớc ta thực hiện chính sách phát triển một
nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên sự đa dạng của các hình thức sở hữu theo
định hớng XHCN, coi sở hữu vừa là mục tiêu, vừa là phơng tiện vì sở hữu nói
riêng và quan hệ sản xuất nói chung không chỉ là phơng tiện nh mọi phơng tiện

t liệu sản xuất. Là một phạm trù kinh tế, sở hữu biểu hiện tổng thể quan hệ kinh
tế xã hội và pháp lý gắn với một chế độ xã hội nhất định.
Cần xem xét phạm trù sở hữu dới hai góc độ có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. ở góc độ thứ nhất, nó đợc coi là phạm trù kinh tế khách quan. Với góc độ
này, sở hữu đợc địng nghĩa là quan hệ giữa ngời với ngời trong sự chiếm hữu về t
liệu sản xuất, ngời ta gắn sở hữu với quyền sở hữu và việc thực hiện quyền sở hữu
về mặt kinh tế trong quá trình sản xuất và tái sản xuất với t cánh là kết quả của
quyền sở hữu - cái mà các chủ sở hữu phải quan tâm.
Quan hệ sở hữu là sự tổng hoà các mối quan hệ sản xuất xã hội , tức là các
quan hệ của của các giai đoạn tái sản xuất xã hội. Những phơng tiện sống, bao
gồm quan hệ sản xuất trực tiếp, phân phối, trao đổi, lu thông và tiêu dùng đợc xét
trong tổng thể của chúng. Quan hệ sở hữu về kinh tế là hiện diện của bộ máy
pháp lý.
Phạm trù sở hữu khi đơc luận hoá thành quyền sở hữu đợc thực hiện qua
một cơ chế nhất định gọi là chế độ cở hữu. Chế độ cở hữu là sự thế chế hoá các
quan hệ sở hữu thành các quyền : sở hữu, sử dụng, kế thừa, thế chấp, chuyển nh-
ợng trong đó quyền sở hữu và quyền sử dụng là đáng chú ý nhất.
b) Đối tợng của sở hữu
Sở hữu là quan hệ kinh tế luôn ở trạng thái vận động, biến đổi. Trong quá
trình vận động, đối tợng của sở hữu cũng có sự biến động thích ứng. Trong xã hội
cộng sản nguyên thuỷ, đối tợng của sở hữu là những cái có sẵn trong tự nhiên
(hiện vật). Đến xã hội nộ lệ, cùng với sở hữu vật còn có sở hữu nộ lệ. Xã hội
Phong Kiến đối tợng của sở hữu là TLSX (đất đai, công cụ lao động ). Trong
xã hội T bản chủ nghĩa, đối tợng sở hữu không chỉ là hiện mà quan trọng hơn là
giá trị và tiền tệ. Ngày nay, bên cạnh việc sở hữu giá trị và tiền tệ, còn có sở hữu
trí tuệ, giáo dục
2. Thành phần kinh tế
a) Khái niệm thành phần kinh tế:
3
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B

-Kinh tế hợp tác.
Kinh tế hợp tác là sự liên kết kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế với
các hình thức đa dạng phù hợp với nhu cầu, khả năng và lợi ích của các bên tham
gia.
Hình thức quan trọng của kinh tế hợp tác là hợp tác xã. Kinh tế hợp tác xã
là hình thức liên kết kinh tế có pháp nhân, tuân thủ theo những nguyên tắc, có tổ
chức chặt chẽ và điều lệ hoạt động rõ ràng, Kinh tế hợp tác xã đợc phát triển dới
nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng
cùng có lợi.
Nhà nớc cần xây dựng và thực hiện có hiệu lực các chính sách kinh tế vĩ
mô đối với nông nghiệp , nông dận, đầu t trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng
cho sản xuất đời sống , chính sách thịi trờng để từng bớc đa kinh tế hợp tác xã
cùng với kinh tế nhà nớc dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
-Kinh tế t bản nhà nớc.
4
Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
Kinh tế t bản nhà nớc là sản phẩm của sự can thiệp cảu nhà nớc vào hoạt
động của các đơn vị tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc. Kinh tế t bản nhà nớc nớc
bao gồm tất cả các hình thức hợp tác, liên doanh sản xuất kinh doanh giữa kinh tế
nhà nớc và kinh tế t bản trong và ngoài nớc, nhằm sử dụng khai thác, phát huy thế
mạnh của mỗi bên tham gia, đặt dới sự kiểm soát, giúp đỡ cảu nhà nớc.
Kinh tế t bản nhà nớc có vai trò trong việc huy động, sử dụng vốn, kỹ thuạt
công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý của nhà t bản. Cần đa dạng hoá các hình
thức liên doanh liên kết với các tổ chức và công ty nớc ngoài, nâng dần tỷ lệ đầu
t của phía Việt nam. Đồng thời áp dụng nhiều hình thức góp vốn kinh doanh giữa
nhà nớc với các nhà kinh doanh t nhân trong nớc dới nhiều hình thức công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh
nghiệp trong nớc phát triển, tăng sức cạnh tranh và hợp tác với nớc ngoài. Cải
hiện môi trờng đầu t và nâng cao năng lực quản lý, sử dụng có hiệu quả vốn đầu
t, bảo vệ quyền lợi của ngời lao động.

Đề án KTCT Nguyễn Quang C ờng lớp KH42B
rằng chỉ có chế độ công hữu mới bảo đảm mục đích mọi nhu cầu xã hội, mới thúc
đẩy sản xuất theo kế hoạch nhà nớc. Chúng ta coi chế độ là mục tiêu, là tiêu chí
số một để đánh giá mức độ đạt đợc của quá trình tiến lên CNXH.
Điều đó dẫn tới một sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức là hợp tác xã
càng lớn càng có nhiều hợp tác xã cấp cao. Xí nghiệp có qui mô càng lớn thì
chất lợng XHCN càng nhiều, càng tiến gần đến CNXH hơn. Chúng ta đã định
kiến với sở hữu cá nhân của ngời lao động, thậm chí còn coi đó là hình thức đối
lập với XHCN, là mầm mống khôi phục lại chế độ ngời bóc lột ngời.
Nhà nớc ta đã thực hiện chủ trơng ồ ạt xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế độ
công hữu về TLSX dới hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Song sở hữu
toàn dân thực chất là sở hữu nhà nớc, nhà nớc đại diện cho ngời lao động thực
hiện quyền sở hữu đối với các TLSX chứ không phải ngời lao động là chủ sở hữu
trực tiếp, không đớc bảo đảm bằng cơ sở kinh tế trực tiếp. Còn sở hữu tập thể
( trong hợp tác xã ) đợc vận hành theo cơ chế cũ, tự nhiên biến thành ban quản lý
hợp tác xã, còn xã viên thì nh ngời đi làm thuê. Thực tế trên đã cho thấy ngời dân
chỉ là chủ sở hữu hình thức, các quan hệ lợi ích cha đợc tạo ra nhằm thúc đẩy ng-
ời lao động hăng say làm việc dẫn tới năng suất lao động thấp, hàng hoá thiếu
then, đời sống nhân dân trở nên ngày càng khó khăn.
Đại hội VI đã tạo ra bớc ngoặt quan trọng trong quá trình thúc đẩy LLSX
phát triển. Đảng ta đã nhận thức đợc LLSX lạc hậu không chỉ trong trờng hợp
QHSX lạc hậu mà ngay cả khi QHSX và LLSX phát triển không đồng bộ, có
những yếu tố quá xa xôi với trình độ phát triển của LLSX. Trong khi nền kinh tế
nớc còn phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu, kinh tế hàng hoá
cha phát triển, trình độ xã hội hoá còn thấp, muốn hoàn thành quá trình cải tạo
XHCN trong một thời gian ngắn, đa nhanh QHSX lên trình độ xã hội hoá cao, bỏ
qua các hình thức trung gian quá đọ là thoát li tính chất và trình độ phát triển của
LLSX. Chủ trơng đó đã kìm hãm tiềm năng phát triển to lớn của nhân dân về vốn,
sức lao động và tay nghề để phát triển LLSX. Hơn nữa, việc cải tạo QHSX chỉ
chú ý tới chế độ t hữu về TLSX . Ngay cả những đơn vị thuôc sở hữu toàn dân đ-

nóng xoá bỏ t hữu để phát triển nhanh chế độ công hữu để đạt mục tiêu CNXH.
Một số năm gần đây lại coi sở hữu chỉ là phơng tiện. Thực tế những năm qua đã
chỉ rõ việc làm đó là sai lầm. Quan điểm đúng đắn của Đảng ta hiện nay là coi sở
hữu vừa là mục tiêu vừa là phơng tiện. Vì sở hữu nói riêng, quan hệ sản xuất nói
chung không chỉ là phơng tiện nh mọi phơng tiện thông thờng có thể tuỳ tiện thay
đổi phơng tiện này bằng phơng tiện khác; mà là một bộ phận cấu thành hữu cơ
của hình thái kinh tế xã hội nhất định. CNXH có những đặc trng riêng về sở hữu,
những quan hệ sản xuất và phân phối này sinh từ chế độ sở hữu đó.
b) Tính đa dạng của sở hữu.
Nếu nh trong nền kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá giản đơn, ngời ta
quan tâm chủ yếu đến mặt hiện vật của sở hữu (TLSX), thì trái lại trong nền kinh
tế thị trờng hiện đại với tính đa dạng của nó ngời ta không chỉ quan tâm đến mặt
hiện vật mà điều quan trọng hơn là họ quan tâm đến hình thái giá trị - hình thái
tiền của nó nh vốn tự có, vốn cho vay, vốn cổ phần, có đặc tính là bảo tồn vốn
và sinh lợi, đó là hình thái phổ biến của kinh tế thị trờng, nhất là trong thời kỳ
xuất hiện và phát triển công ty cổ phần, thời ký thống trị của t bản tài chính thay
cho sự thống trị của t bản công nghiệp.
Dới tác động của cuộc cách mạng KHKT và công nghệ, phạm trù sở hữu
không nên chỉ giới hạn trong phạm vi TLSX mặc dù đó là cơ bản, mà còn có sự
phát triển và biểu hiện cao hơn, mới hơn và ngày càng có vai trò quan trọng.
Chẳng hạn: sở hữu sức lao động, đất đai, KHCN, sở hữu trí tuệ, sở hữu công
nghiệp, sở hữu vô hình, uy tín của Doanh nghiệp Đó là một tài sản vô giá trong
nền kinh tế thị trờng.
c) Quyền sở hữu đợc tách riêng
Lần theo chiều dài lịch sử cho thấy các quyền gắn liền với phạm trù sở hữu
vốn, có sự biến đổi đáng kể. Thờng thời kỳ đầu quyền sở hữu và quyền quản lý,
sử dụng thống nhất trong cùng ngời chủ sở hữu về mặt pháp lý. Sự xuất hiện t
bản cho vay đã làm cho hai quyền này tách rời nhau t bản sh tách rời t bản sử
dụng. Sự xuất hiện công ty cổ phần và lao động quản lý trở thành một nghề, thì
có sự tách rời giữa quyền sở hữu với quyền quản lý. Tất nhiên, sự tách rời này chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status