Hệ thống chức danh nghề nghiệp, các chuẩn kỹ năng công nghiệp thông tin và giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở việt nam - Pdf 31

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGUYỄN KHÁNH HÒA

HỆ THỐNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP,
CÁC CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2015


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGUYỄN KHÁNH HÒA

HỆ THỐNG CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP,
CÁC CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Quản lý Hệ thống thông tin
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

6
Danh mục các bảng vẽ
7
Danh mục các hình vẽ
7
MỞ ĐẦU
8
1. Lý do chọn đề tài
8
2. Mục đích nghiên cứu
9
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
5. Phương pháp nghiên cứu
10
6. Kết cấu của luận văn
10
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGUỒN
11
NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, HỆ THỐNG CHỨC DANH
NGHỀ NGHIỆP VÀ CHUẨN KỸ NĂNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1. Cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
11
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực CNTT
11
1.1.2. Đào tạo nguồn nhân lực CNTT dưới góc nhìn lý thuyết hệ thống
13
1.2. Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT

4

2.1.3. Đào tạo ngắn hạn
2.1.4. Về cơ cấu ngành nghề đào tạo
2.2. Dự báo nhu cầu nhân lực CNTT-TT
2.3. Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT
2.4. Đánh giá chung về đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai
đoạn 2010 – 2013
2.4.1. Thuận lợi và những kết quả đạt được
2.4.2. Khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO NGUỒN
NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
THỰC TẾ
3.1. Mục tiêu và những nội dung đổi mới giáo dục đại học và giáo dục
nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay
3.1.1. Mục tiêu cụ thể
3.1.2. Những nội dung đổi mới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
trong giai đoạn hiện nay
3.2. Một số giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT đáp ứng
yêu cầu thực tế
3.2.1. Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, phương pháp dạy và học,
đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo nhằm đạt chuẩn kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp CNTT
3.2.2. Phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong đào
tạo nguồn nhân lực CNTT
3.2.3. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng mềm và nâng cao khả
năng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) cho học sinh, sinh viên ngành
CNTT
3.2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý
và tăng cường các điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị học

67
69
73
73
75
77
78


5

Phụ lục 5: Các chức danh công việc nghề CNTT của nhóm Máy tính và
Hệ thống thông tin quản lý ở Canada
Phụ lục 6: Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp của Nhật Bản
Phụ lục 7: Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp của Mỹ
Phụ lục 8: Chuẩn kỹ năng CNTT chuyên nghiệp, tổng quan và triển khai
trên toàn thế giới
Phụ lục 9: Một số chứng chỉ quốc tế về CNTT chuyên nghiệp tại Việt
Nam hiện nay

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

79
81
97
102
104


6

KT-XH
Kinh tế - xã hội
QLDA
Quản lý dự án
TT&TT
Thông tin và truyền thông
VINASA (Vietnam Software and IT Hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ
Services Association)
thông tin Việt Nam
VITEC (Vietnam Training and Trung tâm Đào tạo và sát hạch CNTT
Examination Center)
Việt Nam
ABET (Accreditation Board for Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công
Engineering and Technology)
nghệ (Mỹ)
BCS (British Computer Society)
Hội tin học Anh
NOC
(National
Occupational Phân loại nghề nghiệp Quốc gia (Canada)
Classification)

DANH MỤC CÁC BẢNG VẼ


7

Bảng 2.1: Quy mô đào tạo nhân lực CNTT-TT bậc đại học,
cao đẳng
Bảng 2.2: Quy mô đào tạo nhân lực CNTT-TT bậc trung cấp,

Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những động lực quan trọng
nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến
đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới. Nền kinh tế công
nghiệp đang chuyển sang nền kinh tế tri thức. Việt Nam là một nước đang phát
triển, đang trong giai đoạn “Dân số vàng” nếu không xây dựng cơ sở hạ tầng
theo kế hoạch sẽ phải đối đầu với nguy cơ mắc “Bẫy thu nhập trung bình” mà
khó có thể thoát ra được. Nếu như trước đây, vai trò của CNTT được coi là “Hạ
tầng của hạ tầng” của nền kinh tế, thì tại Diễn đàn cấp cao về công nghệ thông
tin - truyền thông (CNTT-TT) Việt Nam năm 2013 (ICT Summit 2013) [1],
Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định: “CNTT là nền tảng của phương thức phát
triển mới, là con đường ngắn nhất để Việt Nam tiến kịp các nước phát triển, tiến
kịp thời đại”. Như vậy, vai trò của CNTT đã được nâng tầm thành “Phương thức
phát triển”. Tại Diễn đàn cấp cao CNTT-TT Việt Nam ASOCIO 2014 (Vietnam
- ASOCIO ICT Summit 2014) [44], vai trò của CNTT được tiếp tục khẳng định:
“Tầm nhìn CNTT là phương thức phát triển mới, là cơ hội và nền tảng thiết yếu
cho mọi quốc gia phát triển, là con đường nhanh nhất vươn đến sự thịnh vượng”.
Với vai trò này, phát triển nguồn nhân lực CNTT sẽ là con đường tất yếu để
hình thành xã hội thông tin, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh, bền
vững, tạo khả năng đi tắt, đón đầu, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa (CNH),
hiện đại hóa (HĐH) và chủ động hội nhập kinh tế thế giới, trong đó phát triển
nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao là khâu đột phá, có ý nghĩa quyết định
thành công. Nhiệm vụ đào tạo gắn với thị trường lao động mà đặc biệt là gắn với
từng chức danh nghề nghiệp của nhân lực trong lĩnh vực CNTT, có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng tạo nên chất lượng, hiệu quả trong khi nền kinh tế nước ta đang
phải đối mặt trước nhiều thách thức và ngày càng tham gia hội nhập sâu vào Tổ
chức Thương mại thế giới. “Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020” theo Quyết định số 698/2009/QĐTTg ngày 01/06/2009 [40] Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt trong đó khẳng
định: “Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết
định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT. Phát triển nguồn nhân lực
CNTT phải đảm bảo chất lượng, đồng bộ, chú trọng tăng nhanh tỷ lệ nguồn

nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT, hệ
thống chức danh nghề nghiệp và chuẩn kỹ năng CNTT.
- Phân tích thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam giai
đoạn 2010 - 2013, đánh giá chung về thuận lợi và kết quả đạt được, khó khăn,
hạn chế và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất và phân tích một số giải pháp đổi mới đào tạo nguồn nhân lực
CNTT.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề về hệ thống chức danh nghề nghiệp,
chuẩn kỹ năng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam.


10

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề chung về hệ thống chức
danh nghề nghiệp, chuẩn kỹ năng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT trình
độ đại học, cao đẳng và đào tạo nghề chuyên ngành CNTT ở Việt Nam trong
giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đọc, phân tích - tổng hợp , diễn dịch - quy nạp, thống kê, so sánh, tổng
kết thực tiễn.
- Thu thập và xử lý thông tin, các số liệu được sử dụng trong luận văn chủ
yếu được thu thập qua các sách, bài báo, các báo cáo đánh giá, tổng kết của Bộ
Thông tin và Truyền thông (TT&TT), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Dạy nghề
trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các văn bản của Nhà nước.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương :

Từ những cách hiểu khái niệm “Nguồn nhân lực” như nói trên, có thể
định nghĩa khái niệm nguồn nhân lực CNTT một cách tổng quát như sau:
Nguồn nhân lực CNTT là nguồn lực con người có trình độ, năng lực hoặc
tiềm năng (trí lực, tâm lực và thể lực) tham gia hoạt động trong lĩnh vực CNTT
để duy trì và phát triển lĩnh vực này.
Các định nghĩa cụ thể hơn:
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]:
“Nhân lực CNTT Việt Nam là nguồn nhân lực làm việc trong các doanh
nghiệp điện tử, viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp CNTT; nhân lực cho ứng
dụng CNTT; nhân lực cho đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông và người dân sử
dụng các ứng dụng CNTT. Nguồn nhân lực này là yếu tố then chốt có ý nghĩa
quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam.”


12

Theo “Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015
và định hướng đến 2020”, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
698/2009/QĐ-TTg ngày 01/06/2009 [40]:
“Nhân lực CNTT là nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn
thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các
doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức và mọi người dân sử dụng, ứng dụng
CNTT.”
Theo “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành TT&TT giai đoạn 20112020” Bộ trưởng Bộ TT&TT phê duyệt tại Quyết định số 896/2012/QĐ-BTTTT
ngày 28/05/2012 [9] đã xác định về nhân lực CNTT. Nhân lực CNTT chuyên
nghiệp bao gồm: nhân lực công nghiệp phần cứng, nhân lực công nghiệp phần
mềm, nhân lực công nghiệp nội dung số. Nhân lực ứng dụng CNTT bao gồm:
nhân lực ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước, nhân lực ứng dụng CNTT
trong tổ chức, doanh nghiệp và trong cộng đồng.

Trong cơ
quan nhà
nước

Nhân lực
ứng dụng
CNTT

Trong tổ
chức,
doanh
nghiệp

Hình 1.1: Các loại nhân lực CNTT

Trong
cộng đồng


13

Như vậy, theo góc độ quản lý nhà nước, nhân lực CNTT được phân loại
theo lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế - xã hội, thể hiện ở hình minh họa 1.1,
trong đó lĩnh vực đào tạo CNTT được tách riêng do tầm quan trọng của nhóm
này.
Có thể thấy rằng cách phân loại này không căn cứ vào bản thân con người
đang xét. Một kỹ sư CNTT làm việc chuyên về CNTT trong một ngân hàng sẽ
được xếp vào nhóm nhân lực ứng dụng CNTT chứ không phải nhân lực CNTT
chuyên nghiệp. Diễn đạt một cách chính xác thì phải nói rõ đó là nhân lực
CNTT trong khu vực CNTT-TT của nền kinh tế - xã hội và nhân lực CNTT


- Là tập hợp các thành tố (phần tử) có quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo luật
Giáo dục năm 2005 [33] và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
năm 2009 [34] , các thành tố của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT bao gồm
các cơ sở giáo dục đại học (trường đại học, trường cao đẳng), cơ sở giáo dục nghề
nghiệp (trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trường trung cấp chuyên
nghiệp, trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề), cơ sở giáo dục thường xuyên (trung tâm
tin học, trung tâm giáo dục thường xuyên) có đào tạo nguồn nhân lực CNTT.
- Các thành tố này có tính độc lập tương đối, có vai trò, vị trí, chức năng chuyên
biệt, tạo thành một chỉnh thể có mục tiêu, chức năng chung là đào tạo nguồn nhân
lực CNTT.
- Có cơ cấu tổ chức, vận hành, điều khiển và điều chỉnh trong môi trường nhất
định, luôn có mối quan hệ tương tác với môi trường, duy trì cân bằng động với môi
trường xã hội.
Mục tiêu và chức năng của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
Mục tiêu của hệ thống là trạng thái mong đợi cần có của hệ thống sau một
thời gian nhất định. Sự hoạt động của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
phải nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống phản ánh các yêu cầu của xã hội, thị
trường lao động. Mục tiêu của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT được xác
định cụ thể dần từ mục tiêu chung (mục tiêu tổng quát) đến mục tiêu cụ thể (mục
tiêu bộ phận cho từng phân hệ giáo dục, trình độ đào tạo, chương trình đào tạo,...).
Chức năng của hệ thống là khả năng hoạt động của hệ thống trong việc
biến đầu vào thành đầu ra, là khả năng “biến đổi” trạng thái của hệ thống hay là
phản ứng của hệ đối với các tác động lên hệ. Do đó, có thể hiểu chức năng của
hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT là khả năng “biến đổi” trạng thái của hệ
thống thông qua việc thực hiện quá trình đào tạo để biến đầu vào thành đầu ra.
Nói cách khác, bằng những hoạt động có chủ định, có kế hoạch, có hệ thống, tổ
chức, hướng đích, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT thực hiện chức năng
đào tạo nguồn nhân lực CNTT theo yêu cầu của xã hội, thị trường lao động.
Chức năng của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT gắn với mục tiêu của hệ

khi tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để
có thể tham gia thị trường lao động quốc tế.
+ Đến năm năm 2020: đào tạo CNTT, điện tử, viễn thông tại nhiều trường
đại học đạt trình độ quốc tế, 80% sinh viên CNTT và truyền thông tốt nghiệp ở
các trường đại học đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để tham gia thị trường
lao động quốc tế. Tổng số nhân lực tham gia hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp CNTT đạt 1.000.000 người, trong đó bao gồm nhân lực hoạt động trong
nước và nhân lực tham gia xuất khẩu.
- Tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên CNTT, nâng cao
chất lượng và số lượng giảng viên, giáo viên CNTT, điện tử, viễn thông ở các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các cơ sở dạy nghề.
+ Đến năm 2015, ở bậc đại học, cao đẳng đảm bảo tỷ lệ trung bình 15 –
20 sinh viên có 1 giảng viên CNTT; 70% giảng viên đại học và trên 50% giảng
viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên, trên 50% giảng viên đại học và ít nhất
10% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.
+ Đến năm 2020, trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giảng viên cao
đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên, trên 75% giảng viên đại học và ít nhất 20%
giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.


16

- Đảm bảo đủ nhân lực đáp ứng được sự phát triển của các doanh nghiệp
trong lĩnh vực CNTT và truyền thông. Từ nay đến năm 2015, cung cấp cho các
doanh nghiệp 250.000 lao động chuyên môn về CNTT, điện tử, viễn thông có
trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp và sơ cấp nghề (đào tạo 1 năm) trở lên,
trong đó có 50% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và 5% có trình độ thạc sĩ
trở lên.
Mục tiêu cụ thể về đào tạo nhân lực ứng dụng CNTT
- Đào tạo cán bộ chuyên trách CNTT có trình độ cao đẳng hoặc tương


17

nghiệp: tri thức là kiến thức cơ bản và chuyên sâu về nghề trong lĩnh vực CNTT,
kỹ năng bao gồm các kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm) của người tốt
nghiệp.
Hiệu quả đào tạo là kết quả đào tạo được xem xét trên cơ sở căn cứ vào
mối quan hệ chung giữa sự đầu tư của Nhà nước và xã hội về mọi mặt cho hệ
thống đào tạo với kết quả thực tế thu được trong môi trường xã hội và thời gian
nhất định (khả năng thích ứng của sản phẩm đào tạo với môi trường xã hội).
Trạng thái của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT được biểu hiện ở
khả năng kết hợp giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống, ở chất và lượng của các
thành tố đầu vào và đầu ra thông qua việc thực hiện quá trình đào tạo xét ở một
thời điểm hoặc khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, đánh giá thực trạng hệ thống
đào tạo nguồn nhân lực CNTT là việc xem xét trạng thái của hệ thống, xem xét
khả năng kết hợp chất và lượng các thành tố đầu vào và đầu ra, thành tố quá
trình (nội dung, phương pháp dạy của giáo viên, phương pháp học của học sinh,
hình thức tổ chức dạy và học,...) của hệ thống xét ở một thời điểm hoặc khoảng
thời gian nhất định.
Môi trường là điều kiện cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống. Mỗi hệ
đều gắn liền với môi trường (với ngoại giới) bằng những mối quan hệ qua lại.
Cũng như các hệ kinh tế - xã hội khác, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực CNTT
luôn chịu sự chi phối tác động của môi trường kinh tế - xã hội cả trong và ngoài
nước. Vì vậy, hệ bao giờ cũng tìm cách thích nghi với tác động của môi trường
kinh tế - xã hội.
Theo lý thuyết hệ thống, đầu vào của hệ thống là những tác động từ môi
trường lên hệ thống. Đầu ra của hệ thống là các phản ứng trở lại của hệ thống
với môi trường. Như vậy giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống luôn có mối liên
hệ ngược. Môi trường kinh tế - xã hội luôn vận động và phát triển, để có được
sản phẩm đào tạo (người tốt nghiệp) đáp ứng yêu cầu của xã hội, thị trường lao


ĐẦU RA
- Chất lượng, hiệu
quả ĐT, sản phẩm
ĐT (người tốt
nghiệp)
+ Phẩm chất giá trị
nhân cách
+ Năng lực nghề
nghiệp (tri thức, kỹ
năng, thái độ)
- Sản phẩm NCKH,
dịch vụ xã hội

Mối liên hệ ngược
Hình 1.2 : Mối liên hệ ngược giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống đào tạo
nguồn nhân lực CNTT.
1.2. Hệ thống chức danh nghề nghiệp CNTT
1.2.1. Khái niệm chức danh nghề nghiệp
Trước tiên, cần phân biệt chức danh không phải là chức vụ. Chức danh và
chức vụ đều gắn với vị trí việc làm, nhưng chức danh thường gắn với vị trí việc
làm nhiều hơn, trong khi chức vụ thường gắn với trách nhiệm nhiều hơn.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia [2]:
“Chức danh là chức phận về danh tính của một người được xã hội công
nhận. Ví dụ như giáo sư, bác sĩ, dược sĩ, tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân...”
“Chức vụ là sự đảm nhiệm một vai trò, địa vị nào đó trong một tổ chức,
một tập thể. Ví dụ như Tổng thống, Chủ tịch, Thủ tướng... đối với một quốc gia;
Giám đốc, Trưởng phòng... đối với một tổ chức kinh doanh.”
Theo quy định tại Điều 7, Luật Viên chức năm 2010 [35]:
“Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề

- Nhà Khoa học máy tính và Quản trị cơ sở dữ liệu (Computers Scientists
and Database Administrators)
- Kỹ sư phần cứng máy tính (Computers hardware Engineers)
- Kỹ sư phần mềm máy tính (Computers software Engineers)
- Người phân tích hệ thống (Systems Analysts)
- Người lập trình máy tính (Computers Programmers).
Cụ thể hơn, người ta chẻ nhỏ những chức danh trên rồi tập hợp chúng lại
trong 2 lĩnh vực: Nghiên cứu phát triển (Development) và Dịch vụ (Services).
Trong “Nghiên cứu phát triển” được chia ra 6 lĩnh vực nhỏ hơn và có
những chức danh như Nhà phân tích, Nhà thiết kế, Lập trình viên, Kỹ sư phần
mềm, Chuyên gia nghiên cứu và phát triển, Nhà thiết kế đa phương tiện, Lập
trình viên Internet, Chuyên gia thương mại điện tử, Nhà truyền thông dữ liệu...


20

Chức danh Kỹ sư phần mềm lại gồm Kỹ sư phần mềm ứng dụng và Kỹ sư phần
mềm hệ thống. Trong “Dịch vụ” được chia thành 7 lĩnh vực nhỏ hơn và có
những chức danh như Nhà quản trị mạng, Nhà điều hành mạng, Kỹ sư mạng, Kỹ
thuật viên thao tác mạng, Phân tích viên kinh doanh, Giảng viên CNTT, Người
điều hành tiếp thị, Người điều hành quản trị cơ sở dữ liệu, Phân tích viên cơ sở
dữ liệu, Chuyên gia cơ sở dữ liệu, Chủ công sở CNTT,...
Ta có thể tham khảo cụ thể hơn về danh sách các chức danh nghề nghiệp
CNTT gồm 52 chức danh do Alison Doyle chuyên gia nghiên cứu nghề nghiệp ở
Mỹ đã đưa ra [Phụ lục 1] và theo Công nghệ Robert Half có 60 chức danh
CNTT khác nhau và được phân vào 11 nhóm công việc nghề [Phụ lục 2].
Ở Nhật Bản: theo Cục Xúc tiến CNTT Nhật Bản (IPA - Information
technology Promotion Agency), có 35 lĩnh vực chuyên môn khác nhau với chức
danh tương ứng, phân vào 11 nhóm công việc nghề và phân theo 7 cấp trình độ
[Phụ lục 3]. Trong Hệ thống chương trình chuẩn đào tạo kỹ sư xử lý thông tin

thống nhất. Có đến hàng trăm tên gọi khác nhau cho những chức danh liên quan
đến nghề CNTT, có những tên gọi đã khá quen thuộc như Lập trình viên, Quản
trị mạng, Thiết kế website, Cử nhân tin học, Kỹ sư máy tính... nhưng lại có
nhiều chức danh nghe rất lạ tai như Nhân viên thay đổi mực in, Lập trình viên
hỗ trợ marketing...
Với thực trạng trên, trong ngày Hội CNTT Việt - Nhật, ngày 24/11/2011
“Danh mục nghề ngành Phần mềm và Dịch vụ CNTT” [24] đã được Hiệp hội
Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA - Vietnam Software and IT
Services Association) lần đầu tiên công bố. Danh mục nghề VINASA được xây
dựng dựa trên Tiêu chuẩn Kỹ năng CNTT Nhật Bản (ITSS - Skill Standards for
IT Professionals) và Danh mục Chứng chỉ Châu Âu về nghề nghiệp tin học
(EUCIP- European Certification of Informatics Professionals) có 9 ngạch, 33
phân ngạch và 7 bậc như sau:
a) Ngạch Kinh doanh, với 3 phân ngạch: Tư vấn hệ thống thông tin, Tư
vấn sản phẩm CNTT, Kinh doanh qua kênh truyền thông;


23

b) Ngạch Tư vấn, với 4 phân ngạch: Tư vấn chuyển đổi nghiệp vụ, Tư
vấn CNTT, Tư vấn gói sản phẩm, Tư vấn triển khai hệ thống.
c) Ngạch Kiến trúc CNTT, với 3 phân ngạch: Kiến trúc ứng dụng, Kiến
trúc hạ tầng, Kiến trúc tích hợp.
d) Ngạch Quản lý dự án (QLDA), với 4 phân ngạch: QLDA phát triển
phần mềm, QLDA dịch vụ hạ tầng CNTT, QLDA thầu khoán, QLDA phát triển
hệ thống.
đ) Ngạch Hệ thống, với 6 phân ngạch: An toàn thông tin, Tính toán phân
tán, Mạng, Cơ sở dữ liệu, Quản trị hệ thống, Nền tảng hệ thống.
e) Ngạch Ứng dụng, với 2 phân ngạch: Gói sản phẩm nghiệp vụ, Hệ
thống ứng dụng nghiệp vụ.

khi đã khảo sát kinh nghiệm tại Mỹ, Nhật và một số Bộ, ngành ở Việt Nam. Hệ
thống chức danh với 4 nhóm gồm 26 chức danh cụ thể sau:
a) Nhóm Lãnh đạo, có 4 chức danh: Giám đốc CNTT Quốc gia (Bộ
trưởng hoặc Thứ trưởng Bộ TT&TT phụ trách CNTT), Giám đốc CNTT cấp 1
(Thứ trưởng phụ trách CNTT của các Bộ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương phụ trách về CNTT), Giám đốc CNTT cấp 2 (Cục trưởng
quản lý nhà nước về CNTT ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, lãnh đạo phụ trách CNTT
ở các Sở TT&TT, Giám đốc các trung tâm chuyên trách về CNTT ở các Bộ, cơ
quan ngang Bộ không có đơn vị quản lý nhà nước về CNTT, Giám đốc Trung
tâm Thông tin Bộ TT&TT, Viện trưởng Viện nghiên cứu về CNTT trực thuộc
Bộ, cơ quan ngang Bộ), Giám đốc CNTT cấp 3 (Giám đốc Trung tâm CNTT
trực thuộc các Tổng cục, Cục, Lãnh đạo đơn vị CNTT của sở, ban, ngành, Chủ
nhiệm khoa CNTT ở các trường đại học).
b) Nhóm Chuyên viên quản lý nhà nước, có 4 chức danh: Chuyên viên
CNTT cao cấp, Chuyên viên CNTT chính, Chuyên viên CNTT, Cán sự CNTT.
c) Nhóm Kỹ thuật CNTT, có 12 chức danh: Kiến trúc viên CNTT, Thiết
kế hệ thống viên CNTT, Quản trị viên về mạng, Quản trị viên về cơ sở dữ liệu,
An toàn viên CNTT, Tư vấn viên CNTT, Lập trình viên CNTT, Kiểm thử viên
CNTT, Kiểm định viên CNTT, Vận hành viên CNTT, Chuyên viên đào tạo,
chuyển giao công nghệ, Viên chức quản lý dự án CNTT.
d) Nhóm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo, có 6 chức danh: Nghiên cứu
viên CNTT cao cấp, Nghiên cứu viên CNTT chính, Nghiên cứu viên CNTT,
Giảng viên CNTT cao cấp, Giảng viên CNTT chính, Giảng viên CNTT.
Ngày 9/10/2013, tại trụ sở Bộ TT&TT đã diễn ra phiên họp lần đầu tiên
lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành, tổ chức, trường học, hiệp hội… về Hệ thống
chức danh CNTT trong cơ quan nhà nước do nhóm chuyên gia nghiên cứu đề
xuất. Có nhiều ý kiến góp ý cho Dự thảo Hệ thống chức danh này như: chỉ cần
đưa ra danh mục các chức danh nêu bật đặc điểm riêng của ngành CNTT; đối
với nhóm kỹ thuật CNTT cần tập trung hơn vào nghiên cứu và xác định các
chức danh một cách phù hợp hơn, các chức danh nên tương thích với hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status