điện châm kết hợp thuốc bổ thận tráng dương trong hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy trên bệnh nhân nhiễm HIV AIDS thể tỳ thận dương hư - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tệ nạn ma tuý là một thảm hoạ đang lan tràn ở khắp các nước trên thế giới
và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Nó không những huỷ hoại sức khoẻ của con
người và là nguy cơ dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường máu mà còn làm băng
hoại đạo đức, suy thoái nhân cách, làm mất đi khả năng lao động của con người,
kinh tế gia đình kiệt quệ, các tệ nạn xã hội phát sinh: Trộm cắp, cướp giật, đâm
chém…
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) [theo 41], năm 1985, thế
giới có khoảng 48 triệu người nghiện ma tuý, nhưng đến năm 2000, ước tính có hơn
230 triệu người nghiện ma tuý, chiếm 4% dân số thế giới.
Do đó việc ngăn chặn hiểm họa ma túy là việc rất cần thiết, đã có nhiều công
trình nghiên cứu và phương pháp cai nghiện ma tuý. Nhưng để tìm ra được một
phương pháp cai NMT hiệu quả, thuận tiện, đơn giản, ít tốn kém và tỷ lệ tái nghiện
thấp nhất vẫn là một vấn đề khó. Ngoài ra những người nghiện ma túy thường kèm
theo thể trạng kém và mắc các bệnh kèm theo như HIV/AIDS, viêm gan B, viêm
gan C… nên trong quá trình cai nghiện ma túy việc nâng cao thể trạng và điều trị
các bệnh kèm theo là điều rất cần thiết.
Phương pháp điều trị hỗ trợ cai NMT bằng điện châm là phương pháp điều
trị không dùng thuốc do Nguyễn Tài Thu đề xuất và nghiên cứu từ năm 1991. Các
kết quả bước đầu cho thấy châm cứu cắt cơn nghiện nhanh, phục hồi chức năng sinh
lý cho người bệnh trong một thời gian ngắn, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế nước ta,
ít tốn kém, đơn giản, dễ áp dụng trong cộng đồng.
Theo Nguyễn Tài Thu có thể phân loại NMT làm 5 thể lâm sàng [48] CanĐởm,Tỳ-Vị ,Tâm-Tiểu trường,Phế-Đại trường và Thận-Bàng quang. Đã có rất
nhiều đề tài nghiên cứu về từng thể bệnh riêng lẻ nhưng chưa có một đề tài nào
nghiên cứu về điều trị hỗ trợ cai NMT thể Tỳ-Thận.
Những nghiên cứu gần đây về thuốc y học cổ truyền trong điều trị nâng cao thể
trạng cho bệnh nhân nhiễm HIV cho thấy hiệu quả rất khả quan. Trong đó thuốc



đổi chức năng tâm thần đặc trưng có thể phân ra các loại sau [48]:
1.2.2.1. Các chất gây êm dịu.
- Các thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepin, barbituric…).
-Rượu (Ethanol).
-Thuốc phiện và các chế phẩm của nó (Morphin, heroin, codein).
1.2.2.2. Các chất kích thần.
- Các Amphetamin và chế phẩm của nó (Pervitin rilatin). Amphetamin được đóng
viên hoặc ở dạng bột trắng, dễ hoà tan trong nước nên bị lạm dụng bằng đường tiêm
chích.
- Cocain là sản phẩm từ hoa và lá khô của cây coca. Các chế phẩm của Cocain
(Crack) có tác dụng nhanh hơn cocain. Gây phụ thuộc tâm thần và gây độc tâm
thần.
1.2.2.3. Các chất kích thần gây ảo giác:
- Estasy (XTC).
1.2.2.4. Các dung môi hữu cơ gây êm dịu và ảo giác.
Colles (chất tẩy) Dissolvants (chất hoà tan).
1.2.2.5. Các chất gây ảo giác.
- Các sản phẩm của Canabis (cần sa), marijuana (lá khô), Haschich (rễ).


4

- LSD 25 và các chất tương tự.
1.2.2.6. Các chất không xếp trong các nhóm nêu trên.
- Thuốc lá, thuốc lào (Nicotin) là loại ma tuý nhẹ được sử dụng hợp pháp gây
dung nạp và phụ thuộc về cơ thể và tâm thần.
* Trong tiếng việt từ “Ma tuý” mới xuất hiện vài chục năm nay “Ma” có nghĩa
là kỳ lạ, huyền ảo; “Tuý” là say. Ma tuý là chất làm cho con người bị say đắm, mê
hoặc, quyến rũ. Ngày nay những chất gây nghiện ngày càng nhiều, đa dạng nên
“Ma tuý” được dùng để chỉ các chất gây nghiện nói chung. Trong phạm vi đề tài

1.3.1. Định nghĩa nghiện ma tuý theo y học hiện đại.
Nghiện ma tuý theo ICD-10 được định nghĩa như sau [9], [56]:
NMT là một trạng thái nhiễm độc mạn tính chất ma tuý gây lệ thuộc về mặt cơ thể
và tâm lý vào CMT và gây một trạng thái dung nạp (Liều dùng ngày càng tăng) sau
khi đã sử dụng CMT nhiều lần.
1.3.2. Cơ chế nghiện ma tuý theo y học hiện đại.
Người ta đã phân lập được các chất Morphin nội sinh trong cơ thể, đó là
Endorphin và Enkephalin, các chất này tạo phức hợp với các thụ thể (Receptor)
trong não,do đó có tác dụng giảm đau và đều có tính chất chung là làm giảm sản
xuất AMP vòng, nhưng Endorphin và Enkephalin bị phá huỷ quá nhanh,nên không
gây nghiện [30],[48].
Các CMT tác động vào hệ thần kinh trung ương tuỳ theo cấu trúc của từng
chất, nhưng điểm chung của cơ chế gây nghiện chủ yếu là do tác động qua lại giữa
CMT và thụ thể đặc hiệu của nó nằm ở các vùng khác nhau của não [17]. Ở đây chỉ
đề cập đến cơ chế gây nghiện của các chất dạng thuốc phiện (Thuốc phiện,
Morphin, Heroin) là các CMT được sử dụng chủ yếu ở nước ta hiện nay.
Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) khi vào cơ thể đều chuyển hoá thành
Morphin rồi vào máu, thời gian bán huỷ của Morphin ở máu khoảng 2 giờ 30 phút.
Sau 24 giờ, 90% Morphin bài tiết ra ngoài, chỉ một lượng nhỏ vào hệ thần kinh
trung ương và đến các thụ thể tiếp nhận Morphin (Các receptor) ở hệ viền, vùng
dưới đồi, đồi thị, nhân đuôi và đám rối thần kinh chi phối ruột (Đám rối Auerbach)
[22],[48]. Có một số thụ thể tiếp nhận Morphin và chủ yếu là thụ thể µ nằm ở não, tập
trung nhiều nhất là vùng dưới đồi, một ít ở hệ thần kinh thực vật [30].
Tại các thụ cảm thể µ có sẵn những peptid nội sinh ( β endorphin , Enkephalin).
Các Neuropeptid này tác động qua lại với Morphin và dẫn truyền Morphin qua hệ
thần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra những tác dụng đặc hiệu.


6




7

+ Chảy nước mắt, nước mũi
+ Nổi da gà, toát mồ hôi.
+ Thèm ma tuý.
+ Đau cơ, đau khớp.
+ Mất ngủ.
+ Buồn nôn, nôn.
+ Đau bụng, ỉa chảy.
+ Mạch nhanh.
+ Dị cảm.
+ Giãn đồng tử.
+ Tăng thân nhiệt.
+ Sút cân.
1.3.4. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể [22], [48].
Khi người nghiện dừng sử dụng CDTP các thụ thể µ vẫn duy trì phương
thức đáp ứng với một lượng CDTP đưa vào cơ thể hàng ngày, tức là vẫn liên tục
tổng hợp một lượng lớn men AC, do lượng Endorphin quá nhỏ không thể ức chế
được việc tổng hợp này và lượng cAMP trong cơ thể cao vọt, kích thích mạnh hệ
thần kinh trung ương, báo động gay gắt trạng thái thiếu hụt Morphin dẫn tới nhu
cầu cấp thiết phải đưa Morphin vào cơ thể, nếu không đưa vào thì cơ thể xuất hiện
các triệu chứng sau:
+ Từ giảm đau chuyển sang đau cơ bắp và nội tạng.
+ Từ thản nhiên, bàng quang chuyển sang bồn chồn.
+ Từ khoái cảm chuyển sang buồn bực.
+ Từ hẹp đồng tử chuyển sang giãn đồng tử.
+ Từ khô da chuyển sang vã mồ hôi.
Và nhiều triệu chứng trái ngược khác như: dị cảm, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, mất

thuốc gây nghiện nhưng đến năm 2000 ước tính trên thế giới có khoảng 230 triệu
người NMT, chiếm 4% dân số thế giới [27]. Tại Hoa Kỳ có tới 80% trong số học
sinh ở miền nam California và 40% học sinh ở bang Masachuset sử dụng ma tuý và
cũng tại Hoa Kỳ có tới 24 triệu người nghiện cần sa [40]


9

Bên cạnh việc sử dụng các chất ma tuý cổ điển chiết xuất từ thảo mộc, người
NMT ngày nay còn sử dụng nhiều CMT tổng hợp như các chất cường thần, các chất
ảo giác, các chất gây ngủ, các chất giải lo âu…ở một số nước như Trung Quốc,
Nhật Bản, Thái Lan, việc sử dụng Amphetamin ngày càng chiếm ưu thế, đặc biệt là
trong các vũ trường [15], [31].
Theo thống kê của UBQG phòng chống AIDS 95% người nhiễm HIV/AIDS
là người NMT. Do đó NMT là nguy cơ chủ yếu và là một điều kiện tốt để căn bệnh
HIV/AIDS phát triển vì họ thường dùng chung một bơm tiêm để tận dụng lượng ma
tuý [34], [48].
1.4.2. Tình hình nghiện ma tuý ở Việt Nam.
Nghiện ma tuý ở Việt Nam đã có từ rất lâu, người dân ở các tỉnh miền núi
phía Bắc đã biết trồng cây thuốc phiện vào các mục đích chữa bệnh, cúng tế, hiếu
hỉ…và hút thuốc phiện dần dần trở thành một thói quen xấu ở nhiều vùng trong cả
nước. Các triều đại phong kiến cũng đã nhận thấy tác hại của việc hút thuốc phiện
và đã ra lệnh cấm hút thuốc phiện, cấm buôn bán và tàng trữ thuốc phiện [10], [54].
Thời kỳ Pháp đô hộ nước ta, chính quyền thực dân lại độc quyền, công khai bán
rượu và thuốc phiện trong cả nước vừa đầu độc dân ta vừa thu lợi nhuận kếch sù [10].
Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công cho đến ngày Miền Nam hoàn
toàn giải phóng, công tác phòng chống NMT chỉ diễn ra và có kết quả khả quan ở
vùng tự do.Còn ở các vùng tạm chiến, NMT vẫn tiếp tục phát triển và ngày càng
trầm trọng[10]. Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, NMT đã có đặc điểm của NMT
hiện đại, đặc biệt nghiện Heroin đã trở thành một hiểm hoạ cho đất nước.

tạo gồm 3 lớp :
Vỏ ngoài (Pepton) : Là một màng Lipid kép.
Vỏ capsid gồm 2 lớp protein :
+ Lớp ngoài : gp18 với HIV-1 và gp17 với HIV-2.
+ Lớp trong : gp24, là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV sớm
và muộn.
Lõi : Chứa hai phân tử ARN đơn chứa 3 gen cấu trúc:
Gag (Group specific antigen).
Pol (polymerase.
Env(Envelop).


11

Ngoài 3 gen cấu trúc trên ở mọi Retrovirus, HIV còn có các gen điều hòa quá
trình nhân lên của HIV.Taf (Transaetivation gene) làm tăng. Nef (negative factor gene)
làm chậm, còn Rev (Regulative gene) điều chỉnh qua Taf và Nef. [19], [21]
1.5.1.2. Phân loại [19].
HIV1: Gây bệnh dịch phổ biến trên thế giới
HIV2: Khu trú ở một số địa phương, chủ yếu ở Tây Phi [19].
1.5.2. Nuôi cấy :
HIV nuôi cấy tốt trên tế bào lympho người và tế bào thường trực Hela có
TCD4.
1.5.3. Đặc điểm dịch tễ học của HIV [19], [21], [22], [35]
1.5.3.1. Sự xâm nhập của HIV [19], [21].
Sau khi phơi nhiễm 5 -7 ngày, những tế bào HIV di chuyển đến cơ quan
lympho ngoại vi, tại đây virus nhân lên nhanh chóng qua các giai đoạn :
- Virus gắn vào thụ thể CD4 và đồng thụ thể chemokine trên màng tế bào
lympho TCD4.
- Xâm nhập : ARN và RT của virus di chuyển vào trong nguyên sinh chất của

Thay đổi các Cytokine.
•Sự thay đổi miễn dịch tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiễm trùng cơ hội và
ung thư.
•HIV chủ yếu tấn công và gây tổn thương tế bào lympho TCD4 rồi đến đại thực
bào. Số lượng tế bào TCD4 giảm là nét đặc trưng nhất của suy giảm miễn dịch vì
TCD4 là tế bào lympho T hỗ trợ - một loại tế bào miễn dịch đặc hiệu (thường gọi là
tế bào T hỗ trợ có phân tử CD4 trên bề mặt của nó) với chức năng điều hòa sự
phòng vệ của cơ thể đối với nhiễm trùng và ung thư thông qua quá trình đáp ứng
miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào.
Cơ chế giảm tế bào lympho TCD4 ở bệnh nhân AIDS : Bệnh nhân bị suy giảm
miễn dịch nặng nề do tế bào lympho TCD4 nhiễm HIV và chưa nhiễm HIV bị tiêu
diệt trực tiếp hoặc gián tiếp.
Vì vậy sự giảm số lượng tế bào lympho TCD4 là một dấu hiệu đại diên
đáng tin cậy để đánh giá tình trạng bệnh. Theo các nghiên cứu trên thế giới số


13

lượng TCD4 ở người bình thường từ 500 – 1400 tế bào/mm 3 máu (người Việt
Nam : 700 – 1200 tế bào/mm3 máu). Số lượng TCD8 từ 180 – 860 tế bào/mm 3 máu.
Tỷ lệ TCD4/ TCD8: 1,1 – 3,5 [19]. Số lượng TCD4.giảm nhiều hay ít liên quan đến
nồng độ virus trong máu. Khi nồng độ virus là 30000 – 50000/ml thì số lượng
TCD4 < 50 tế bào/mm3 máu. Ngoài ra số lượng tế bào lympho cũng giảm dần theo
sự suy giảm của hệ thống miễn dịch. Vì vậy cũng có thể dựa vào sự thay đổi số
lượng tế bào lympho để đánh giá tiến trình nhiễm HIV/AIDS [19].
1.5.5. Lâm sàng HIV/AIDS [19], [20], [21], [23].
HIV gây suy giảm miễn dịch tiến triển và hậu quả cuối cùng gây tử vong cho
bệnh nhân do nhiễm trùng cơ hội và ung thư. Thời gian nhanh nhất từ khi lây nhiễm
HIV tới khi tử vong do AIDS là 28 tuần [19]. Thời gian trung bình từ khi nhiễm
HIV tới khi phát triển thành AIDS là khoảng 10 năm liên quan đến số lượng tế bào


Hoặc HIV diễn biến tự nhiên trong cơ thể, tiêu hủy dần các tế bào miễn dịch,
diễn biến dai dẳng rồi trở thành AIDS trong vòng 5 – 7 năm.

-

Hoặc nhiễm HIV diễn biến nhanh thành AIDS trong vòng 1 – 2 năm nếu
người bệnh vẫn tiếp tục hành vi của họ.

1.5.5.3. Giai đoạn bệnh hạch dai dẳng toàn thân ( giai đoạn cận AIDS)
Sưng hạch toàn thân dai dẳng: thường sưng hạch cổ, nách. Hạch to 1 – 2 cm,
không đau, di động dễ. sinh thiết hạch thấy hiện tượng tăng sinh. Nếu hạch teo nhỏ
thì người bệnh diễn biến thành AIDS nhanh hơn.
Sụt cân: là dấu hiệu thường gặp, thường sụt 10% trọng lương cơ thể mà
không rõ lí do.
Sốt kéo dài trên 38o C không rõ nguyên nhân.
Ngứa dai dẳng, gãi đến bật máu dùng thuốc chống ngứa không khỏi.
Có thể ho hoặc tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân.
1.5.5.4 Giai đoạn biểu hiện AIDS:
Với biểu hiện lâm sàng là nhiễm trùng cơ hội và các khối u.
1.5.6. Suy nhược cơ thể trên bệnh nhân HIV/AIDS [51].
1.5.6.1. Chứng suy nhược:
Điều quan trọng là phải phân biệt được mệt mỏi và suy nhược.
Mệt mỏi là hiện tượng sinh lý xảy ra liên quan đến sự hoạt động quá mức về
thể xác và tâm thần, sẽ phục hồi khi nghỉ ngơi.


15

Chứng suy nhược hay hội chứng suy nhược mạn tính: Là tình trạng rối loạn


13. Rối loạn tính tình.

6. Suy giảm sức khỏe.

14. Mau mệt cơ bắp.

7. Triệu chứng của lo âu biểu hiện.

15. Bệnh tưởng.

8. Rối loạn ăn uống.
Cách cho điểm đối với từng triệu chứng như sau:
Không có
0

Rất nhẹ
1

Nhẹ
2

Trung bình Nặng
3
4

Rất nặng
5

Tổng điểm của các triệu chứng là điểm Bugard- Crocq.

Thận - Bàng quang, Phế - Đại trường. Sau đó phải dựa trên thể trạng: Hàn - Nhiệt,
Hư - Thực của từng bênh nhân mà chia ra hai hội chứng khác nhau là: [41], [46].
Hội chứng thịnh (Chứng Thực):


17

+ Triệu chứng: Thần kinh hưng phấn, nằm ngồi không yên, mất ngủ, vật vã, đập
phá, nhức đầu, co giật chân tay, thở mạnh, nói lung tung, đau bụng đi ngoài, tim đập
nhanh, hồi hộp, nhức trong xương và tứ chi, nam giới thì di mộng tinh, nữ giới thì
kinh nguyệt không đều, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày.
Mạch: Dương mạch (Phù, huyền, hồng, hoạt, sác)
Hội chứng thực thường bao gồm các chứng trạng: Tâm nhiệt, tâm bào nhiệt,
Can hoả vượng, Vị Trường nhiệt, Đởm nhiệt, Bàng quang nhiệt.
Hội chứng suy (chứng hư):
Triệu chứng: Người gầy yếu, mệt mỏi, đi lại yếu, sắc sạm, môi thâm, sợ
nước, sợ lạnh, tim đập nhanh, hồi hộp, sợ hãi, nhiều mồ hôi, ỉa chảy, có thể phù hai
chi dưới, tinh thần chậm chạp không ăn được, nam giới thì di mộng tinh, liệt dương,
nữ giới thì khí hư nhiều, đi tiểu nhiều lần, nhức trong xương tuỷ, chất lưỡi hồng
nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng ướt. Mạch: Âm mạch (trầm, huyền, tế, vi, nhược)
Hội chứng hư thường gồm các chứng trạng: Thận dương hư, Tỳ hư, Can hư.
Với lý luận phân tích ở trên thì cơ chế cắt cơn nghiện ma tuý bằng điện châm
của YHCT là do tác dụng điều khí và điều hoà âm dương của chức năng sinh lý các
tạng phủ là nhằm đưa cơ thể trở lại trạng thái bình thường. Đối với mỗi nhóm
chứng trạng phải chọn dùng các kinh huyệt thích hợp đồng thời phải tuỳ theo hội
chứng thịnh, suy mà Tả (hội chứng thực) và Bổ (hội chứng hư).
Trong nhiều công trình nghiên cứu của Nguyễn Tài Thu và cs [38], [45], [46],
[48], ma tuý gây tổn hại đến các tạng phủ gây ra các nhóm chứng trạng và công
thức điều trị của từng thể bệnh như sau:
Gây rối loạn chức năng Can-Đởm [34]:

mỏng. Mạch: Trầm, sác, nhược.
Pháp điều trị: Bổ Thận, thông kinh hoạt lạc.
Châm tả các huyệt: Đại trường du, Ân môn, Uỷ trung, Thừa sơn, Côn lôn,
Giáp tích L2 - L3.
Châm bổ các huyệt: Thận du, Thái khê
Gây rối loạn chức năng Phế - Đại trường:
Triệu chứng: Thèm ma tuý, đau bụng, bứt rứt, khó thở, ho, tức ngực, cảm
giác nghẹt ở cổ, vã mồ hôi, háo khát, đại tiện táo. Lưỡi đỏ, nứt nẻ, rêu vàng dày.
Mạch: Phù, thực, khẩn, sác.


19

Pháp điều trị: Thanh nhiệt, tuyên phế khí, thông kinh hoạt lạc.
Châm tả các huyệt: Khúc trì, Phù đột, Trung phủ, Hợp cốc, Đản trung, Thiên
đột, Quyền liêu xuyên Nghinh hương.
Châm bổ các huyệt: Liệt khuyết, Túc tam lý.
Ngoài ra còn có nhiều bệnh nhân biểu hiện bệnh không chỉ ở một cặp tạng phủ mà
ảnh hưởng đến hai hay nhiều cặp tạng phủ như thể Can - Tỳ, Tỳ - Thận, Tâm - thận…
Đặc biệt là thể Tỳ - Thận đây là một thể bệnh hay gặp trên lâm sàng.
Thể Tỳ - Thận dương hư là thể kết hợp giữa thể Tỳ và thể Thận, theo lý luận
của Đông y: “Tiên thiên là gốc của sinh mệnh người ta, hậu thiên là nguồn sinh hóa
của con người.” Hai bộ phận đó có quan hệ rất khăng khít với nhau, nếu thiếu đi một
bộ phận người ta không thể sống được. Trong đó bộ phận quan trọng của hậu thiên là
Tỳ Vị. Đó là cơ quan sinh hóa của hậu thiên, đứng đầu các cơ quan của con người và
cũng là nguồn gốc của bát mạch, là bể của thủy cốc.
Năm tạng sáu phủ đều được sự chuyển vận và tưới nhuần của nó, để sinh tinh,
sinh huyết, thấm nhuần ra kinh mạch, điều dưỡng vinh vệ, đều nhờ vào Tỳ Vị. Vị bại
thì làm cho dương suy.Vị mạnh thì thận đầy đủ mà tinh khí vượng. Không có thủy cốc
thì không thể khỏe mạnh được. Thận không những bài tiết, thanh lọc đào thải trong

năng, hiểu được tâm lý bệnh nhân.
- Liệu pháp tâm lý gián tiếp: Tạo môi trường chăm sóc tận tình ấm áp. Thầy
thuốc và gia đình hết lòng nâng đỡ bệnh.
- Liệu pháp tâm lý trực tiếp: Thuyết phục, thư giãn, liệu pháp hành vi.
* Phương pháp cai bo (cai khô):
Phương pháp này được áp dụng ở Hoa Kỳ từ năm 1938, hiện nay ở Malaixia
vẫn áp dụng. Việt Nam cũng có một số gia đình dùng phương pháp này để điều trị.
Phương pháp cai bo làm người bệnh phải trải qua một thời kỳ hết sức vất vả,
khó khăn, tuy không tốn kém về thuốc men, nhưng rất nguy hiểm vì bệnh nhân vật
vã, kích thích, đập phá…đôi khi gây ra các triệu chứng nặng nề như suy hô hấp, suy
tuần hoàn đe doạ tính mạng của bệnh nhân [15], [54].
*Phương pháp đối kháng:


21

Sau khi đã được điều trị HCC dùng phương pháp này để điều trị duy trì
trống tái nghiện. Một số tác giả trên thế giới sử dụng các chất như: Naloxon,
Natrexon để tranh chấp receptor với Morphin. Các thuốc này là các thuốc đối kháng
thực thụ với các CDTP, chúng có ái lực mạnh với thụ thể của Morphin, nhưng lại có
hiệu lực yếu. Phương pháp này có ưu điểm là giảm các triệu chứng của HCC, cắt
cơn êm dịu. Bệnh nhân dễ chấp nhận nhưng giá thành lại cao [18], [64].
*Phương pháp thay thế bằng Methadone [57], [65]:
Methadon hydroclorid là một chất dạng thuốc phiện (CDTP) được tổng hợp
đầu tiên ở Đức năm 1941 và được sử dụng như một thuốc giảm đau mạnh [59].
Năm 1964 Dole và Nyswenderr ở Hoa Kỳ đã bắt dầu sử dụng Methadone để điều trị
chứng nghiện các chất dạng thuốc phiện (Morphin, Heroin, Dolargan…) và nhận
thấy Methadone là chất thay thế có tác dụng làm giảm nhẹ cơn đói ma tuý, phong
toả tác dụng gây khoái cảm của các CDTP, làm mất tập tính luôn tìm CMT và đối
tượng NMT có thể tập trung vào các liệu pháp tái thích ứng xã hội [42]. Nhược

1.8.1. Châm cứu hỗ trợ cai nghiện ma tuý trên thế giới:
Từ năm 1972, H.L. Wen, nhà giải phẫu thần kinh của Hồng Công đã tình cờ
phát hiện điện châm có thể làm dịu các triệu chứng của HCC khi tiến hành châm tê
cho một bệnh nhân nghiện ma tuý trước khi mổ [54].

Năm 1995 Cui M. [45] kết luận về châm cứu đối với cai nghiện ma tuý
là có hiệu quả, đơn giản, dễ thực hiện và ít có tác dụng phụ. Cùng thời gian đó
có nhiều kết luận cùng quan điểm với kết luận của Cui.M. nghiên cứu cai
nghiện ma tuý bằng hai phương pháp: Nhóm 1 dùng Methadon, Nhóm 2 dùng
châm cứu. Các tác giả đã nhận xét rằng không có sự khác biệt về kết quả ở hai
nhóm điều trị [49].
Năm 2000 tác giả Zhang và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu điều trị cai
nghiện Heroin bằng điện châm và châm cứu không kích thích một số huyệt như:
Hợp cốc, Lao cung, Nội quan, Ngoại quan, Túc tam lý, Tam âm giao và đưa ra nhận
xét là điện châm có tác dụng cai nghiện ma tuý tốt hơn nhóm không sử dụng điện
châm [73].
Zeng X và cs [72] so sánh tác dụng cai NMT của châm cứu với điều trị bằng
Methadone. Các tác giả nhận thấy triệu chứng HCC giảm sau 10 ngày sau điều trị.
Các triệu chứng của HCC như lo lắng, đau nhức cơ xương ở nhóm châm cứu giảm


23

nhiều hơn so với nhóm sử dụng Methadone từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 9 trong quá
trình điều trị.
1.8.2. Châm cứu hỗ trợ cai nghiện ma tuý ở Việt Nam:
Điều trị cai NMT bằng châm cứu là phương pháp điều trị vận dụng theo lý
luận YHCT. Hiện nay trong y học có xu hướng đi vào nghiên cứu tác dụng của
phương pháp này vì nó có nhiều ưu việt. Châm cứu kích thích cơ thể con người,
điều chỉnh sự mất cân bằng tạng phủ, phục hồi các chức năng sinh lý [14], [24],

Khi cai nghiện ma tuý tức là không cho Morphin từ bên ngoài vào cơ thể,
nhưng ngay lúc đó Morphin nội sinh chưa được sản xuất ra, không điều hoà được
hoạt động bình thường của tạng phủ, nên tạo ra các phản ứng bệnh lý mà ta gọi là
HCC.
Với tác dụng điều khí châm cứu có thể điều hoà lại và chấm dứt các biểu
hiện bệnh lý (Biểu hiện của HCC), sự sản xuất Morphin nội sinh được châm cứu
kích thích, khởi động và dần hồi phục - cơ thể trở lại trạng thái hoạt động bình
thường. Trong khoảng 3 - 4 ngày lượng Morphin nội sinh sản xuất ra dáp ứng được
hoạt động bình thường của cơ thể [30], [48].
Năm 1998 Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Quốc Khoa, Trần Văn Thanh và cộng
sự đã tiến hành nghiên cứu điện não của bệnh nhân NMT và sự phục hồi của nó
dưới tác dụng của điện châm và đưa ra kết luận các CMT có ảnh hưởng sâu sắc lên
sự biến đổi não, theo dõi sự phục hồi của các sóng điện não cơ bản có thể đánh giá
và tiên lượng được quá trình điều trị
Năm 2002 Nguyễn Diên Hồng tiến hành nghiên cứu dùng điện châm cắt cơn
đói ma túy bằng phương pháp điện châm trên 81 bệnh nhân đã đưa ra kết luận điện
châm trong điều trị cắt cơn đói ma túy đạt kết quả loại tốt chiếm 92,59%, loại khá
chiếm 7,41% và hàm lượng opiat trong nước tiểu giảm đáng kể. ], [48].
1.9. Phương pháp điện châm:
Mục đích của châm cứu là nhằm điều khí, đưa sự mất cân bằng âm dương
của cơ thể về trạng thái cân bằng. Người xưa đã dùng tay vê kim nhằm bổ tả.
Nhưng thực tế cho thấy rằng vê kim bằng tay thì sự điều khí không mạnh, không
nhanh, không sớm đưa được sự vận hành của khí huyết về trạng thái cân bằng và
thường làm cho bệnh nhân đau đớn. Nhưng ngược lại thì các xung điện của máy


25

điện châm rất đều đặn, nhịp nhàng không làm cho bệnh nhân đau lại có tác dụng
điều khí nhanh chóng có thể chữa được nhiều bệnh [26].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status