Đề tài: Một số giải pháp giúp Việt Nam chủ động ứng phó với các vụ kiện
chống bán phá giá hàng hoá xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.
Bài học từ vụ kiện hàng thuỷ sản.
LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một mốc
quan trọng trong quá trình chuyển đổi của đất nước từ nền kinh tế với cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế đã mở ra những triển vọng to lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của các thành
phần kinh tế nước ta. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, thị trường mở rộng cho
hàng hoá của Việt Nam, tạo điều kiện để các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư,
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi, triển vọng to lớn, hoạt động xuất nhập
khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít rào cản về thuế quan
cũng như phi thuế quan, trong đó các vụ kiện chống bán phá giá càng ngày càng
gây thêm nhiều khó khăn cho việc thâm nhập thị trường quốc tế của các mặt
hàng vốn là thế mạnh của chúng ta.
Trên thực tế, hàng hoá Việt Nam xuất khẩu cũng đang trở thành đối tượng của
các vụ kiện chống bán phá giá ở nhiều thị trường như: Hoa Kỳ, EU, Canada,
Mexico, Peru, ... Hàng hoá bị kiện là những sản phẩm mà chúng ta có thế mạnh
xuất khẩu ( thuỷ sản, giày dép, gạo ). Nhưng những mặt hàng chúng ta xuất khẩu
với số lượng chưa đáng kể cũng đã bị kiện ( đèn huỳnh quang, ván lướt sóng.,.).
Do đó, doanh nghiệp Việt Nam cần được trang bị những hiểu biết cơ bản về thực
1
tế các vụ kiện chống bán phá giá để từ đó có biện pháp phòng tránh và giảm
thiểu thiệt hại.
Làm thế nào để ứng phó có hiệu quả đối với các vụ kiện chống bán phá giá
đang là một vấn đề hết sức mới mẻ, bỡ ngỡ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Chương II: Thực trạng và bài học kinh nghiệm ứng phó với các vụ kiện chống
bán phá giá của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá
giá hàng Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Đây là một vấn đề tương đối mới mẻ, có ít tài liệu nghiên cứu và trở thành đề tài
nổi cộm trong thời gian gần đây. Bài viết của em chỉ mang tính tổng hợp dựa
trên phân tích diễn biến hàng hoá Việt Nam đang bị kiện bán phá giá ở thị trường
Hoa Kỳ nên chắc chắn còn sơ sài và nhiều thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý
kiến của thầy giáo Th.s Vũ Thành Hưởng và các chuyên viên thuộc ban nghiên
cứu các vụ kiện chống bán phá giá thuộc Cục quản lý cạnh tranh - Bộ công
thương để bài viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HOÁ TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Bán phá giá
Theo tinh thần của Điều 2.2, GATT, một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu
như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước
khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu
dùng tại nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường.
1.1.2 Thuế chống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào một mặt
hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc
bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở
trong nước.
•
Các nguyên liệu thô được sử dụng trong sản xuất;
•
Những phương thức sản xuất và các công nghệ sản xuất được sử dụng trong
quá trình sản xuất hàng hoá;
•
Những chức năng và mục tiêu sử dụng cuối cùng của hàng hoá;
•
Phân loại ngành công nghiệp;
•
Giá cả;
•
Chất lượng;
Thông thường các cơ quan điều tra có thẩm quyền lớn hơn trong việc sử dụng
các nhân tố này để phân định một cách rõ ràng giữa các sản phẩm tương tự tiềm
năng và ít nhấn mạnh vào những nhân tố mà những nhân tố này chỉ ra những sự
khác biệt nhỏ của sản phẩm. Chính vì vậy, cái tạo thành “ ranh giới phân chia rõ
1.1.4 Giá xuất khẩu
Mặc dù Hiệp định chống bán phá giá của WTO không đưa ra định nghĩa hoặc sự
mô tả về “ giá xuất khẩu” nhưng cũng quy định các cách thức tính giá xuất khẩu
khác nhau ( tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể):
Phương pháp 1: Giá xuất khẩu là giá trong giao dịch mua bán giữa nhà sản xuất
hoặc nhà xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của nước nhập khẩu;
Phương pháp 2: Giá xuất khẩu là giá trị tính toán trên cơ sở giá bán sản phẩm
nhập khẩu đó cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu; hoặc một giá
trị tính toán theo những tiêu chí hợp lý do cơ quan thẩm quyền quyết định.
Cách tính giá xuất khẩu thứ nhất là cách tính giá xuất khẩu chuẩn và được ưu
tiên áp dụng trước. Chỉ khi hoàn cảnh cụ thể như giá xuất khẩu không đáng tin
cậy vì lý do nhà nhập khẩu hoặc một bên thứ 3 nào đó có quan hệ với nhau ( ví
dụ như công ty liên kết…) hoặc có thoả thuận về bù trừ; hoặc nếu như sản phẩm
đó không được bán lại hoặc được bán lại nhưng không theo những điều kiện
giống với điều kiện nhập khẩu hàng hoá, không đáp ứng các điều kiện để áp
dụng cách tính 1 thì giá xuất khẩu mới được tính theo cách 2.
1.1.5 Giá trị thông thường
6
Giá trị thông thường được quy định tại Điều 2.1 của Hịêp định WTO “ giá có thể
so sánh được, trong điều kiện thương mại thông thường, đối với sản phẩm tương
tự khi được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác”.
1.1.6 Các khái niệm khác:
-
Sản phẩm bị điều tra: là sản phẩm bị cáo buộc là bị bán phá giá và được
xuất khẩu vào nứơc nhập khẩu và bị cáo buộc là gây ra sự thiệt hại cho ngành
Biên độ phá giá: Đây là mức độ mà giá trị thông thường vượt qua giá xuất
khẩu và được thể hiện bằng phần trăm hoặc một lượng cụ thể.
-
Biên độ phá giá không đáng kể (De minimis): Nếu biên độ phá giá đó thấp
hơn 2% của giá xuất khẩu.
-
Khối lượng hàng nhập khẩu bán phá giá sẽ được coi là không đáng kể:
Nếu khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ thể nào đó
chiếm ít hơn 3% tổng lượng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập
khẩu đó.
Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần đặc biệt lưu ý về quy định cộng gộp tổng kim
ngạch xuất khẩu của Hiệp định. Thông thường, việc đánh giá xem xét hàng nhập
khẩu có đang gây thiệt hại đến ngành sản xuất trong nước hay không phải được
tiến hành riêng biệt đối với từng nước. Tuy nhiên, tại Điều 5.8 của Hiệp định đã
cho phép trong một số tình huống nhất định,cơ quan điều tra sẽ xem xét, đánh
giá kết hợp những tác động của tất cả các hàng nhập khẩu đang bị điều tra để xác
định thiệt hại. Việc cộng gộp này cho phép trường hợp số lượng nhập khẩu của
các sản phẩm tương tự từ mỗi nước dưới 3% ( tức là mức không đáng kể), nhưng
tổng số các sản phẩm nhập khẩu từ những nước này chiếm trên 7% nhập khẩu
sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu thì một cuộc điều tra chống bán phá giá
vẫn có thể xảy ra.
1.2 Quy định của WTO về chống bán phá giá
1.2.1 Mục tiêu và bản chất của chống bán phá giá
Bán phá giá thường được bị coi là hành vi thương mại quốc tế không công
mục đích này thông qua một bản báo cáo của Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa
9
Kỳ (ITC) “… mục đích của pháp luật chống bán phá giá và chống trợ cấp không
phải bảo vệ người tiêu dùng mà là bảo vệ nhà sản xuất…Thực chất, chức năng
của pháp luật chống bán phá giá là bảo vệ cho các công ty và những người lao
động tham gia vào các hoạt động sản xuất ở Hoa Kỳ. Vì vậy, chẳng có gì đáng
ngạc nhiên khi người được hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế này là các nhà sản
xuất, ngược lại các chi phí kinh tế sẽ do người tiêu dùng gánh chịu. Chính phủ
Hoa Kỳ, thông qua luật pháp, đã đưa ra một sự lựa chọn chính trị tỉnh táo, khôn
ngoan để đưa những biện pháp đảm bảo công bằng này được công nhận trên thực
tế…”
Hơn nữa, các quy định chống bán phá giá là một biện pháp khắc phục thương
mại mà các thành viên của WTO đã đồng ý rằng là cần thiết để duy trì hệ thống
thương mại đa phương. Động cơ kinh tế để sử dụng biện pháp chống bán phá giá
là nhằm để duy trì thương mại công bằng. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần
đây cho thấy, có tới hơn 90% các biện pháp này không nhằm bảo vệ cạnh tranh
lành mạnh hoặc thương mại công bằng. Ngày nay, chống bán phá giá vẫn là một
vũ khí bảo hộ cho các ngành công nghiệp truyền thống như thép, hoá chất, dệt
may và các lĩnh vực khác là những ngành có sức cạnh tranh yếu do nền tảng
công nghệ của chính họ.
Như vậy, biện pháp này được sử dụng để làm phương tiện bảo hộ, và sẽ có
những tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại của nước xuất khẩu, nhưng
ngược lai, việc bảo hộ này làm tổn hại đến nền kinh tế của chính nước sử dụng
biện pháp chống bán phá giá, đặc biệt trong trường hợp nguồn cung không lớn
hoặc sản xuất sản phẩm bị áp thuế phá giá lại có vai trò của nguyên liệu đầu vào
quan trọng của ngành công nghiệp khác như thép, điện tử, hoá chất… cũng như
ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng.
11
càng tăng của Hoa Kỳ. Điều này làm xói mòn lòng tin của các nước đang phát
triển trong hợp tác tự do hóa thương mại ”.
1.2.2.2 Các quy định về chống bán phá giá còn phức tạp và chứa đựng nhiều yếu
tố bất lợi
Theo luật chống bán phá giá của WTO và một số nước như Hoa Kỳ, EU,
Canada… trong trường hợp số lượng sản phẩm nhập khẩu từ một nước thấp hơn
3% tổng số lượng sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác trên thế giới thì đơn
khởi kiện sẽ bị bác bỏ và vụ kiện sẽ được chấm dứt. Vì số lượng “ không đáng
kể ” này không thể là nguyên nhân gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho
ngành công nghiệp nội địa nước nhập khẩu.
Chính vì vậy, khi số lượng sản phẩm nào đó của một nước xuất khẩu cao hơn
3% thì đó sẽ là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để ngành công
nghiệp nội địa khởi kiện.
Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật chống bán phá giá nêu trên còn cho
phép cộng gộp thị phần xuất khẩu của các nước cùng xuất khẩu sản phẩm bị kiện
vào nước nhập khẩu. Điều đó đã giúp cho các ngành công nghiệp nội địa có
thêm cơ hội trong việc chứng minh hàng nhập khẩu là nguyên nhân gây ra hoặc
đe doạ gây ra thiệt hại cho ngành công nghiệp nội địa của họ. Bằng phương pháp
này các cơ quan điều tra sẽ cộng gộp tất cả các hàng hoá nhập khẩu tương tự từ
tất cả các nước bị điều tra để đánh giá tác động gộp đối với ngành sản xuất nội
địa. Mặc dù quy định này đã được hợp pháp hoá trong WTO, đây vẫn là một
vấn đề lớn trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng
các phương pháp cộng dồn đã đem đến lợi thế đáng kể cho các quyết định khẳng
định có thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa. Theo các nghiên cứu của cơ sở dữ
liệu chống bán phá giá WTO về việc điều tra của Hoa Kỳ, cộng dồn đã làm thay
12
biến nó thành rào cản thương mại, duy trì chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Nói
cách khác, biện pháp được coi là hợp pháp của WTO, đến lượt nó, quay lại bóp
méo dòng chảy thương mại quốc tế và hạn chế sự phát triển nội tại khách quan
của hoạt động này, đi ngược lại mục đích của WTO là giảm đáng kể thuế và các
rào cản thương mại khác theo hướng loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối
quan hệ thương mại quốc tế.
1.2.2.3 Vấn đề chính trị trong các vụ kiện chống bán phá giá
Nếu nhìn vào sự linh hoạt, biến đổi liên tục của hệ thống pháp luật chống bán
phá giá của EU, Hoa Kỳ, Canada thông qua việc cải cách, sửa đổi, bổ sung của
các văn bản pháp luật, chúng ta sẽ thấy yếu tố chính trị có vai trò không nhỏ
trong các vụ kiện chống bán phá giá.
Chúng ta sẽ thấy rõ hơn qua một vi dụ điển hình sau
Dưới sức ép mạnh mẽ từ ngành công nghiệp nội địa và với động cơ chính trị
nhằm giành được sự ủng hộ của cử chi trong ngành công nghiệp nội địa như
thép, nông nghiệp, điện tử, điện tử bán dẫn,…, ngày 28/10/2000 Tổng thống Bill
Clinton ký sắc lệnh ban hành tu chính án Byrd bất chấp sự phản đối mạnh mẽ và
đe doạ trả đũa từ các đối tác thương mại lớn như EU, Nhật Bản, Canada…Theo
quy định của văn bản pháp luật này thì hàng năm ngành công nghiệp nội địa Hoa
Kỳ có thể thu về một khoản tiền khổng lồ từ thuế chống bán phá giá hàng nhập
khẩu. Theo ước tính của hãng luật này thì trong vụ kiện chống bán phá giá tôm
đến khoảng tháng 1/2006 ngành công nghiệp tôm Hoa Kỳ có thể nhận được một
khoản tiền từ 100-120 triệu USD theo quy định này.
Điều đáng chú ý hơn nữa là Chính phủ Hoa Kỳ vẫn thường áp dụng chính sách
kép kín trong thương mại quốc tế, đặc biệt trong ngành thương mại nội địa thép
và nông nghiệp, Chính phủ Hoa Kỳ một mặt vẫn trợ giá, đồng thời sử dụng vũ
14
Tình hình còn phức tạp hơn khi hệ thống pháp luật và bộ máy thực thi các quy
định chống bán phá giá đối xử một cách thiếu công bằng đối với các nước bị coi
là có nền kinh tế phi thị trường (NME). Ví dụ, số nhân viên của bộ phận điều tra,
tính toán biên độ phá giá của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) là 129 người, trong
đó 2/3 lực lượng này (80 người) có nhiệm vụ điều tra 7 nước mà theo luật pháp
của Hoa Kỳ bị coi là có nền kinh tế phi thị trường. Trong khi đó chỉ có 40 nhân
viên điều tra những nước có nền kinh tế thị trường ( hơn 100 nước), trong đó có
những nước kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ rất lớn và cũng là
những nước bị Hoa Kỳ kiện bán phá giá rất nhiều đó là Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan, Đức… Câu hỏi được đặt ra ở đây là, tại sao phải cần đến một lượng
nhân viên lớn như vậy để xử lý các vụ kiện bán phá giá tư các nước NME. Câu
trả lời ở đây rất đơn giản “ đó là sự phức tạp từ các nước NME “ . Nhưng sự
phức tạp trong quá trình xử lý lại nằm trong chính sự phức tạp, cồng kềnh và yêu
cầu quá cao của các quy định trong hệ thống pháp luật chống bán phá giá của
nước này nhằm chống lại hàng hoá xuất khẩu giá rẻ từ các nước NME.
Có lẽ chỉ có các bên có lợi ích liên quan như ngành công nghiệp nội địa là ưa
thích sự phức tạp của hệ thống pháp luật này vì như thế vô hình chung đã tạo
thêm gánh nặng nghĩa vụ chứng minh lên vai của các nhà sản xuất và xuất khẩu
nước ngoài.
1.2.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp (DSB) của WTO
Trong 25 năm, qua nhiều nước đã bắt đầu nhận thức được vai trò quan trọng
của việc giải quyết tranh chấp tại WTO. Nhìn chung, cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO được đánh giá là khá hữu hiệu. Tuy nhiên, trong lĩnh vực chống
16
bán phá giá, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này nhận xét rằng: “ giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực phá giá sẽ là một trong những thách thức chính đối với
hệ thống WTO…Nhận thức được sự phức tạp về sự kiện cũng như tính pháp lý
này, đang bị mất đi hoặc suy giảm; hoặc
(ii)
Bất kỳ mục đích nào bị ngăn cản bởi thành viên khác.
17
Thành viên yêu cầu tham vấn có thể đưa vấn đề ra cơ quan giải quyết tranh
chấp (DSB) nếu:
(i)
Thành viên đó nhận thấy việc tham vấn không giúp đạt được một
(ii)
Thành viên khác đã đánh thuế chống bán phá giá chính thức hoặc đã
chấp nhận cam kêt giá; hoặc
(iii)
Trong trường hợp biện pháp tạm thời có tác động nghiêm trọng và đã
bị áp dụng trái với quy định của Hiệp định này về biện pháp tạm thời như quy
định tại Điều 7.1.
Trên cơ sở đó, DSB sẽ thành lập Ban hội thẩm xét xử theo đúng các thủ tục đã
định. Ban hội thẩm xem xét vấn đề căn cứ vào:
(i)
hội thẩm WTO và đưa ra sự hạn chế quá mức đã làm giảm tính hiệu quả của việc
xem xét lại.
Hầu hết các vụ kiện chống bán phá giá đều liên quan nhiều nội dung khiếu nại.
Điều này thể hiện một thức tế là một quyết định chống bán phá giá là một chuỗi
các quyết định về nhiều vấn đề khác nhau như về thiệt hại, phương pháp tình
toán sai, quy trình xử lý… Ở đây câu hỏi đặt ra là liệu Ban hội thẩm của của
WTO có bị ràng buộc bởi thời gian nghiên cứu nghiêm ngặt của DSU hay
không. Đặc biệt là thời hạn 6 tháng theo quy định tại Điều 12.8. Thực tế cho thấy
phần lớn các quyết định của WTO thường kéo dài đến 1 năm và dễ bị quá tải nếu
cùng một lúc có quá nhiều vụ tranh chấp. Điều này có thể phương hại tới chất
lượng và tính nhất quán của các quyết định của Ban hội thẩm chống bán phá giá.
Thêm vào đó, do quy chế giải quyết tranh chấp của WTO không đề cập tới
NME nên vấn đề xác định giá trị thông thường trong các vụ kiện chống bán phá
giá thương gây tranh cãi nhiều lại không thể giải quyết tại DSB.
Khi chưa là thành viên của WTO, Việt Nam chưa có cơ hội sử dụng cơ chế
giải quyết tranh chấp chống bán phá giá để tự bảo vệ mình trong thời gian qua.
Khi gia nhập WTO, chúng ta sẽ hoàn toàn bình đẳng với các thành viên khác
19
trong sử dụng cơ chế tham vấn và giải quyết tranh chấp trong thương mại nói
chung, tranh chấp chống bán phá giá nói riêng theo DSU. Điều này sẽ hạn chế
bớt các hành vi đối xử thiếu công bằng, bớt tình trạng lạm dụng các biện pháp
chống bán phá giá chống lại hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu những điểm trình bày trên đây có thể hoàn toàn đúng về mặt lý
thuyết thì về mặt thực tiễn chúng ta vẫn cần nhận thức rõ các khó khăn, thách
thức không chỉ về mặt lý luận, kiến thức, kinh nghiệm, nguồn nhân lực được đào
tạo cơ bản…mà còn cả về tiềm lực tài chính để theo đuổi các vụ tranh chấp này .
Chính vì vậy, công tác chuẩn bị ngay từ bây giờ, cần phải được quan tâm thích
thuế chống bán phá giá khi nhập khẩu các sản phẩm tôm, cá hay da giày từ Việt
Nam. Điều này đồng nghĩa với việc khả năng tiếp cận thị trường này đã bị thu
hẹp lại ngay trong quá trình diễn ra điều tra. Ví dụ: trong vụ tôm, ngay khi có
quyết định chính thức của DOC và ITC, các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ đã chuẩn bị
những dự phòng rủi ro khi có quyết định chính thức về bán phá giá. Đồng thời,
họ đã chuyển sang nhập tôm thẻ chân trắng có giá thấp hơn. Đặc biệt khi Hải
quan Hoa Kỳ có dự thảo yêu cầu các nhà nhập khẩu phải ký quỹ cho cơ quan hải
quan theo tỷ lệ 10% giá trị nhập khẩu ( từ các năm trước ) của các nước bị kiện,
các nhà nhập khẩu càng e ngại nhập khẩu tôm từ Việt Nam. Chính những phản
ứng của các nhà nhập khẩu này đã làm cho các mặt hàng đang bị điều tra của
Việt Nam khó có thể thâm nhập vào thị trường xuất khẩu chủ yếu này.
Sự tác động này thể hiện ngày càng rõ nét khi có quyết định áp thuế chống bán
phá giá. Khi có quyết định áp thuế, các sản phẩm của Việt Nam sẽ bị bất lợi về
giá cả trong cạnh tranh với các hàng hoá của nước khác không bị áp thuế hoặc bị
áp thuế ở mức thấp hơn. Hơn nữa, do người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng phải mua
hàng với giá cao hơn, nhu cầu tại thị trường này đã giảm xuống và điều này đã
21
tác động đến nhu cầu nhập khẩu các hàng hoá bị áp thuế sẽ giảm. Trong trường
hợp tôm của Việt Nam, rất nhiều hợp đồng nhập khẩu giữa các doanh nghiệp
Hoa Kỳ và Việt Nam đã giảm đáng kể vào dịp tháng 9-10/2004 so với cùng kỳ
2003 do tác động của giá tôm tăng. Kim ngạch xuất khẩu tôm trong năm 2004 đã
giảm xuống một cách rõ rệt.
Một ví dụ khác cho sự suy giảm kim ngạch nhập khẩu do tác động của thuế
chống bán phá giá là ngành sản xuất xe đạp. Kim ngạch xuất khẩu xe đạp của
Việt Nam trong tháng 7/2005 chỉ còn 10tr USD, giảm từ 18tr USD trong tháng
trước do tác động từ việc EU quyết định áp thuế chống bán phá giá với mức thuế
suất từ 15,8- 34,5% trong tháng 7.
rất cố gắng chuyển hướng sang tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới như Nhật
Bản, các nước Trung Đông nhưng khó khăn về giá cả và quy mô thị trường xuất
khẩu mới này vẫn không thể bù đắp được những thiệt hại do các vụ kiện chống
bán phá giá gây ra, kéo theo sự ảnh hưởng tới chính các nhà nuôi trồng. Các vụ
kiện chống bán phá giá còn gây tác động tiêu cực đến tình hình đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam. Sau các vụ kiện xe đạp, đèn huỳnh quang và hiện tại là giày
mũ da, không ít doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực nói
trên đã hoặc đang tính đến phương án đóng cửa các cơ sở sản xuất tại Việt Nam
và dịch chuyển đi nơi khác. Như vậy, nguy cơ mất thị trường xuất khẩu cũng
như hiểm hoạ phá sản đối với nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành sản xuất khácxuất khẩu sẽ tác động tiêu cực tới nhiều vấn đề kinh tế - xã hội khác.
Từ khi vụ kiên da giày xảy ra, đơn hàng giảm, sản lượng giảm dẫn đến thu
nhập doanh nghiệp bị giảm 15 đến 60%. Bên cạnh đó, thu nhập doanh nghiệp
giảm còn do phải trả lương chờ việc, bù lương cho công nhân trong khi không có
23
đơn hàng hoặc đơn hàng có giá trị thấp. Cùng với hậu quả thu nhập giảm, các
doanh nghiệp còn bị thiệt hại nặng nề về kinh tế do chỉ sử dụng được tối đa 6070% công suất thiết kế, thiệt hại trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng, hao mòn vô
hình, hao mòn hữu hình… Vụ kiện phá giá đang đẩy các chủ doanh nghiệp vào
tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” đầu tư tiếp hay dừng lại hẳn vẫn là câu hỏi chưa
có câu trả lời.
Tuy nhiên nếu chỉ nhìn thấy các tác động tiêu cực của các vụ kiện chống bán
phá giá e rằng việc đánh giá sẽ quá đơn giản và một chiều. Thực tế cho thấy, các
vụ kiện này, đặc biệt là vụ kiện lớn như cá tra, cá basa, tôm, xe đạp, giày mũ da
cũng có những tác động tích cực của chúng đó là:
•
Khẳng định sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên trường quốc
lên vị trí thứ hai là 23,4%, Hoa Kỳ chỉ còn 18,1%.
1.4 Bài học kinh nghiệm của một số nước
1.4.1 Trung Quốc
Trong những năm 90, Trung Quốc là nước chịu nhiều vụ kiện chống bán
phá giá nhất trên thế giới. Chỉ trong hơn 10 năm ( từ năm 1987 - 1998) đã có 262
vụ điều tra chống phá giá của các nước trên thế giới đối với Trung Quốc, chiếm
1/6 tổng số các vụ điều tra chống phá giá trên thế giới. Tính trong thời kỳ WTO,
từ 1995 – 2005, Trung Quốc là bị đơn của 469 vụ kiện chống bán phá giá trong
đó phần lớn các vụ kiện đều đi đến kết quả là các sản phẩm của Trung Quốc bị
áp dụng thuế chống bán phá giá, bị buộc nâng giá hoặc bị hạn chế về số lượng
xuất khẩu. Điều đáng lưu ý là mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm xuất
khẩu của Trung Quốc thông thường rất cao do Trung Quốc vẫn bị coi là một
nước có nền kinh tế phi thị trường.
Sức ép từ các vụ kiện chống bán phá giá đối với Trung Quốc gia tăng sau
thời điểm Trung Quốc gia nhập WTO. Thực tiễn cho thấy, việc gia nhập WTO
đã tạo cho các doanh nghiệp cơ hội về thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, cùng với
tăng trưởng xuất khẩu, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng phải đối mặt với
nhiều nguy cơ bị kiện chống bán phá giá hơn. Theo thống kê của WTO, trong
giai đoạn 1995 – 2000, trung bình Trung Quốc phải chịu 34,5 vụ kiện/năm. Con
số này đã tăng lên đến 51,25 vụ kiện/năm kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO.
Sức ép từ các vụ việc chống bán phá giá càng trở nên nặng nề hơn khi Chính phủ
25