KILOBOOKS.COM
1
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA HOA KỲ
I. TÌM HIỂU VỀ BÁN PHÁ GIA
Ù
1. Khái niệm về “Bán phá giá”
Khoản 1, Điều VI của GATT 1994 đònh nghóa như sau:
“Phá giá là hành vi mà sản phẩm của một quốc giá được bán ở quốc gia khác
tại mức giá thấp hơn giá trò thông thường và làm thiệt hại hay đe doạ làm thiệt hại
về mặt vật chất của một ngành của quốc gia khác hoặc làm chậm trễ sự thiết lập
một ngành ở một quốc gia khác”.
Điều 2.1, Hiệp đònh Chống bán phá giá của WTO (The Anti-dumping
Agreement-ADA)
“Một hàng hoá được xem là bò bán phá giá, có nghóa là được đưa vào thò
trường của một nước khác ở mức giá thấp hơn giá trò thông thường, nếu giá xuất
khẩu của một hàng hoá được xuất khẩu từ một nước sang nước khác thấp hơn giá
có thể so sánh được, trong điều kiện thương mại thông thường, là giá của hàng hoá
tương tự được bán để tiêu dùng tại nước xuất khẩu đó”.
Nói tóm lại, bán phá giá được xác đònh bằng cách so sánh “giá xuất khẩu” với
“giá trò thông thường”. Bán phá giá xảy ra khi “giá xuất khẩu” thấp hơn “giá trò
thông thường”. Trên thực tế, quá trình xác đònh liệu một nhà xuất khẩu có bán
phá giá đến mức gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước tại thò
trường nước nhập khẩu hay không phức tạp hơn nhiều so với việc so sánh giá một
cách giản đơn. Nó đòi hỏi phải có một cuộc điều tra kỹ lưỡng- điều tra chống bán
phá giá (Antidumping Investigation) để hội đủ các điều kiện thực tế trước khi áp
dụng biện pháp chống bán phá giá. Trong quá trình điều tra chống bán phá giá,
Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu phải xác đònh được:
+ Có bán phá giá (“Xác đònh bán phá giá”) và biên độ bán phá giá cụ thể.
vi bán phá giá không nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh tranh như việc bán hạ giá các
sản phẩm tồn kho đã lỗi thời về kiểu dáng và công nghệ nhưng vẫn còn thời hạn
sử dụng, bán các sản phẩm sắp hết hạn sử dụng, v.v… không được xem là hành vi
bán phá giá.
2.2 Bán phá giá nhằm thu ngoại tệ để giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết
của quốc gia. Đây cũng là cách mà nhiều nước thường áp dụng, thông qua việc
khuyến khích xuất khẩu bằng cách trợ giá hay miễn giảm thuế cho các mặt hàng
xuất khẩu để thu ngoại tệ về cho đất nước.
2.3 Bán phá giá nhằm mục tiêu chính trò. Cách này thường được áp dụng để
chống lại nước đối đòch thông qua việc hạ giá để tiêu diệt các mặt hàng cùng loại
của đối phương trên cùng thò trường với mình. Cách này có thể làm cho doanh
nghiệp đối phương bò phá sản hoặc bò thiệt hại cả về kinh tế lẫn chính trò trên
trường quốc tế.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
3
3. Ý ngha kinh t ca vic bán phá giá.
Trong thương mại quốc tế, bán phá giá là hành vi “cạnh tranh không lành
mạnh” và các nước thành viên có quyền áp dụng các biện pháp thuế quan đặc
biệt (không theo quy đònh của nguyên tắc Tối huệ quốc) để chống lại hoặc ngăn
chặn những ảnh hưởng tiêu cực của nó đối với ngành công nghiệp của nước mình.
Theo các chuyên gia kinh tế thế giới, có 3 loại hành vi phá giá phổ biến sau:
Phân biệt giá quốc tế; Bán dưới giá thành và Bán phá giá nhằm tiêu diệt đối thủ
cạnh tranh.
3.1 Phân biệt giá quốc tế
Điều VI của GATT 1994 quy đònh: phân biệt giá quốc tế là trường hợp nhà
xuất khẩu bán hàng hoá sang một thò trường nước ngoài (nước nhập khẩu) với
mức giá thấp hơn mức giá thông thường họ bán trên thò trường nội đòa (nước xuất
MC: Đường chi phí biên D: Đường cầu trên thò trường.
MR: Đường thu nhập biên Q: Khối lượng hàng bán ra
Vấn đề ở đây không phải là chống lại việc bán giá thấp trên thò trường nước
nhập khẩu mà phải là hướng tới loại trừ mức giá cao bất hợp lý ở thò trường nội
đòa. Bán phá giá này được hình thành do lạm dụng vò thế độc quyền của doanh
nghiệp trên thò trường nội đòa chứ không phải trên thò trường nước nhập khẩu.
Độc quyền sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích kinh tế- xã hội của nước xuất khẩu
nhưng mức giá thấp thực tế sẽ là yếu tố tích cực cho lợi ích kinh tế- xã hội của
nước nhập khẩu. Do đó, nguyên lý về chống phân biệt giá quốc tế của mô hình
luật chống bán phá giá phổ biến hiện nay trên thế giới không thật sự giải quyết
hết vấn đề phá giá và mục đích mà nó đề ra, đặc biệt là xét từ góc độ lợi ích kinh
tế- xã hội của nước nhập khẩu.
3.2 Bán dưới giá thành
“Bán dưới giá thành” xảy ra khi doanh nghiệp xác đònh một mức giá thấp hơn
mức chi phí sản xuất trung bình. Việc xác đònh giá như vậy được coi là bình
thường từ góc độ kinh tế. Khi chi phí sản xuất trung bình của sản phẩm đã được
ổn đònh, chúng ta hoàn toàn có thể lý giải việc doanh nghiệp bán hàng dưới giá
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
5
, lợi nhuận của doanh nghiệp chưa được tối đa
hoá. Tăng sản lượng vượt quá q
0
sẽ tăng được lợi nhuận vì chi phí biên vẫn thấp
hơn thu nhập biên. Do đó, điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp là
thu nhập biên bằng chi phí biên ở điểm mà tại đó chi phí biên biến thiên tăng chứ
không giảm.
Trong ngắn hạn, khi thò trường suy thoái, bất kỳ doanh nghiệp nào dù là cạnh
tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn
chi phí trung bình, chỉ cần mức giá cao hơn giao điểm của chi phí biên và chi phí
biến đổi trung bình. Hành vi này chính là để bù đắp chi phí cố đònh. Doanh
nghiệp có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy giảm tạm thời, thò trường sẽ hồi
phục và doanh nghiệp có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn giản là doanh nghiệp đang cố
gắng giảm thiểu thua lỗ trước khi rút khỏi thò trường. Trong trường hợp này, ý
nghóa kinh tế của việc hạn chế phá giá chỉ trên cơ sở doanh nghiệp bán dưới giá
thành trở nên không thiết thực.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
6
Biểu đồ 3 dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hành vi này.
Trong thời gian ngắn hạn, doanh nghiệp có thể chòu lỗ nếu nó vẫn tạo ra thu
nhập đủ để bù đắp chi phiến biến đổi. Với mức giá p thấp hơn chi phí trung bình
như hình vẽ, doanh nghiệp vẫn tiếp tục sản xuất ở mức sản lượng q*. Tại mức sản
lượng này, doanh nghiệp sẽ bò lỗ với diện tích phần hình chữ nhật ABCD do giá
bán thấp hơn chi phí sản xuất trung bình.
đó, các doanh nghiệp của Hoa Kỳ dễ bò coi là bán phá giá trong thời gian cầu
trên thế giới giảm.
Nếu việc bán phá giá là do sự khác biệt về cơ cấu chi phí gây ra thì nước nhập
khẩu có thể đònh hướng nhà sản xuất trong nước thay đổi cơ cấu chi phí cho phù
hợp, qua đó góp phần làm giảm gánh nặng thuế khoá cho người tiêu dùng do
không phải chòu thuế chống bán phá giá và người tiêu dùng được hưởng lợi từ
việc tiêu dùng sản phẩm với giá thấp. Điều này được giải thích qua biểu đồ 4
dưới đây.
Trước khi có sản phẩm của một nước khác được bán trên thò trường với giá
thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu của sản phẩm này đạt trạng thái cân bằng tại
điểm E, với giá p
1
và lượng tiêu thụ q
1
và đây là hàng sản xuất trong nước. Tuy
nhiên, khi có hàng nước ngoài tràn vào thò trường và được bán với mức giá p
2
thấp hơn giá p
1
thì lượng tiêu thụ của sản phẩm này sẽ tăng lên q
2
, trong đó lượng
hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn q’
nghiệp đã hy sinh lợi nhuận ngắn hạn để tối đa hoá lợi nhuận dài hạn. Người tiêu
dùng của nước nhập khẩu có thể được hưởng lợi tạm thời từ mức giá thấp, tuy
nhiên, cuối cùng họ sẽ phải chòu thiệt hại khi doanh nghiệp tiến hành thu lợi từ vò
thế độc quyền.
Đây cũng là lý luận cổ điển của các học giả và nhà lập pháp ủng hộ việc áp
dụng các chính sách chống bán phá giá. Tuy nhiên, trường hợp bán phá giá này
trong thực tế rất khó có thể xảy ra bởi vì để đạt được mục tiêu tiêu diệt đối thủ
cạnh tranh đó, doanh nghiệp không những phải loại trừ tất cả các đối thủ cạnh
tranh của nước nhập khẩu mà còn phải có khả năng ngăn chặn sự xuất hiện trên
thò trường của nước nhập khẩu những đối thủ cạnh tranh mới đến từ nước khác.
Nói cách khác, họ phải thiết lập độc quyền trên phạm vi toàn cầu hoặc thuyết
phục nước sở tại ngăn cản sự thâm nhập thò trường của các đối thủ cạnh tranh
mới- điều này rất khó có thể xảy ra. Thực tế cho thấy tỷ lệ các vụ tranh chấp
thương mại quốc tế liên quan tới hành vi bán phá giá nhằm loại trừ đối thủ cạnh
tranh là rất hiếm. Theo số liệu của World Bank, kể từ năm 1947 cho đến nay, tỷ
lệ này không quá 5% tổng số vụ tranh chấp về bán phá giá trên thế giới.
Có thể nói, từ góc độ kinh tế, bán phá giá không hẳn là hành vi thương mại
tiêu cực mặc dù nó có thể gây khó khăn cho hoạt động cạnh tranh của các doanh
nghiệp nước nhập khẩu. Trong chừng mực nào đó thì bán phá giá đem lại lợi ích
kinh tế- xã hội cho nước nhập khẩu vì nó cho phép người tiêu dùng hưởng lợi từ
giá thấp và tạo ra sự tái cơ cấu các nguồn tài nguyên trong những lónh vực mà
nước nhập khẩu có lợi thế cạnh tranh.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
9
II. TÌM HIỂU VỀ “CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ”
1. Khái niệm “Chống bán phá giá”
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
10
khẩu. Thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng sau khi nước nhập khẩu điều tra
xác minh được tình trạng bán phá giá đã gây thiệt hại cho các nhà sản xuất trong
nước. Kết quả điều tra phải nêu lên được: biên độ phá giá quá mức cho phép, quy
mô thiệt hại và quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại cho sản xuất trong
nước.
Mức thuế chống bán phá giá về nguyên tắc phải cao hơn mức thuế quan (mức
thuế suất áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu chòu thuế tại cửa khẩu) và chỉ
được áp dụng tạm thời (không quá 5 năm) và phụ thuộc vào biên độ phá giá.
Hiện nay, biện pháp thuế chống bán phá giá bao gồm 3 biện pháp cơ bản sau:
2.2.1 Thuế chống bán phá giá tạm thời:
Nếu kết quả điều tra cho thấy việc bán phá giá gây ra thiệt hại cho ngành sản
xuất hàng hoá cùng loại hoặc tương tự trong nước và có quan hệ nhân quả giữa
chúng thì nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp thuế chống bán phá giá
tạm thời dưới 3 hình thức như sau:
a) Tạm thu một mức thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu bò nghi là
bán phá giá và mức thuế này không được đặt ra cao hơn biên độ phá giá ban đầu.
b) Buộc nhà nhập khẩu nộp một khoản tiền ký quỹ tương đương với khoản
thuế chống bán phá giá dự kiến. Đây là biện pháp thường được sử dụng nhằm
đảm bảo cho việc thu thuế chống bán phá giá có thể được áp dụng đối với mặt
hàng nhập khẩu đó. Tiền ký quỹ bảo đảm được hoàn lại nếu quyết đònh cuối cùng
đưa ra mức thuế chống bán phá giá chính thức thấp hơn mức thuế tạm thời.
c) Cho thông quan nhưng lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu
thông thường cũng như mức thuế chống bán phá giá dự kiến áp dụng.
Qui đònh thời gian tiến hành điều tra để đi đến một quyết đònh tạm thời là
không vượt quá 4 tháng. Tuy nhiên, nếu vụ việc phức tạp và cần nhiều thời gian
để thu thập thông tin thì thời gian trên có thể kéo dài đến 6 tháng.
Hoa Kỳ không phải là nước đầu tiên có luật Chống bán phá giá. Đạo luật đầu
tiên về vấn đề này được ban hành tại Canada năm 1904. Thành ngữ phổ biến lúc
bấy giờ là “dùng giá để chiếm đoạt” (predatory pricing)- một khái niệm có nghóa
là một công ty ngoại quốc bán với giá rẻ, thậm chí bù lỗ nhằm chiếm lónh thò
trường. Dần dần, thành ngữ này được thay thế bởi “bán phá giá” với lý do đơn
giản là dể gán ghép cho nhiều “bò cáo” hơn vì không cần phải chứng minh là
hành vi đó chứa đựng một chiến lược thao túng thò trường.
Vấn đề chống bán phá giá lần đầu tiên được đề cập đến trong Luật thuế
(Revenue Act) năm 1916 của Hoa Kỳ tại 2 điều 800-801. Sau đó, tình hình phát
triển của các quan hệ thương mại quốc tế đặt ra yêu cầu phải có một đạo luật
riêng biệt điều chỉnh vấn đề này. Năm 1921, Đạo luật “Chống bán phá giá” đã ra
đời. Đạo luật này quy đònh Kho bạc nhà nước Hoa Kỳ được giao nhiệm vụ điều
tra các hành vi bán phá giá và ấn đònh mức thuế chống bán phá giá. Quy đònh
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
12
trên tồn tại gần 60 năm cho đến khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua một đạo luật
mới về việc thực thi Hiệp đònh Thương mại (Trade Agreement Act) năm 1979 thì
nhiệm vụ điều tra và áp đặt mức thuế chống bán phá giá được chuyển giao cho
Bộ Thương mại Hoa Kỳ.Trong nhiều năm tiếp theo, pháp luật về chống bán phá
giá của Hoa Kỳ có sự thay đổi nhằm thích ứng với tình hình phát triển của các
quan hệ thương mại quốc tế. Sau khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời,
các quy đònh của Hoa Kỳ về chống bán phá giá phải tuân thủ theo Hiệp đònh về
chống bán phá giá của WTO. Trên cơ sở đó, Hoa Kỳ ban hành Quy đònh về
chống bán phá giá và chống trợ cấp (Antidumping and Countervailing Duty
Laws) vào năm 1997 với những quy đònh hướng dẫn tiến hành điều tra và áp
dụng thuế chống bán phá giá.
2. Các khái niệm:
Việc xác đònh sản phẩm tương tự liên quan trực tiếp đến việc xác đònh NV và
là một khâu quan trọng trong quá trình xác đònh bán phá giá. Thông qua LP, nước
nhập khẩu sẽ đưa ra được danh sách những nhà sản xuất/ nhà xuất khẩu bò coi là
có hành vi bán phá giá trên thò trường nước nhập khẩu; đồng thời là cơ sở để nước
nhập khẩu xác đònh phạm vi tiến hành điều tra thiệt hại; xác đònh mức độ thiệt
hại cũng như các tổn thất liên quan.
- Biên độ phá giá (Dumping margin- DM) là khoản chênh lệch giữa NV và EP
của sản phẩm được xuất khẩu. Biên độ phá giá có ý nghóa rất lớn trong việc xác
đònh có bán phá giá hay không và ở mức độ nào thì cần áp dụng các biện pháp
chống bán phá giá.
b) Nguyên tắc xác đònh phá giá
DM = (NV-EP)/EP
Nếu DM > 0%, có hiện tượng bán phá giá.
Thông thường, biên độ phá giá được xét đến trong các tính toán của cơ quan
có thẩm quyền phải không nhỏ hơn 2%. Nếu DM < 2%, không có hiện tượng bán
phá giá, đây là việc đònh giá không sát với thực tế và chỉ bò điều chỉnh cho phù
hợp mà không bò áp dụng thuế chống bán phá giá. Cơ quan có thẩm quyền sẽ
không tiến hành cuộc điều tra nếu kiểm tra sơ bộ thấy biên độ phá giá thấp hơn
2%. Nếu như cuộc điều tra đã bắt đầu thì cơ quan có thẩm quyền sẽ đình chỉ việc
điều tra.
Biên độ phá giá được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan.
Trên cơ sở biên độ phá giá, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu sẽ tính
toán mức thuế chống bán phá giá- mức này không bao giờ được cao hơn biên độ
phá giá. Nếu số lượng nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan quá lớn khiến cho việc
tính toán biên độ phá giá đơn lẻ không thể thực hiện được thì cơ quan có thẩm
quyền nước nhập khẩu có thể chỉ lựa chọn một số lượng thích hợp các nhà sản
xuất, xuất khẩu để điều tra. Những nhà sản xuất, xuất khẩu được chọn sẽ được
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
3.2. Xác đònh thiệt hại:
Để xác đònh thiệt hại, cần xem xét hai nhân tố sau:
a) Khối lượng hàng nhập khẩu bò bán phá giá và ảnh hưởng của việc này đến
giá của sản phẩm tương tự tại thò trường nội đòa của nước nhập khẩu.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
15
Về khối lượng của sản phẩm nhập khẩu bò điều tra, cơ quan điều tra phải xem
xét trên thực tế có sự gia tăng đáng kể của hàng nhập khẩu bán phá giá so với
mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng trong nước của nước nhập khẩu hay không.
Về ảnh hưởng của hàng nhập khẩu bán phá giá đối với giá của sản phẩm
tương tự tại thò trường nước nhập khẩu, cơ quan chức năng sẽ xem xét trên hai
phương diện:
a.1) Hàng nhập khẩu bán phá giá có phải đã được bán với giá thấp hơn một
cách đáng kể so với giá của sản phẩm tương tự tại thò trường nước nhập khẩu hay
không; hoặc
a.2) Việc hàng nhập khẩu bán phá giá có làm giảm giá bán của sản phẩm
tương tự trên thò trường nước nhập khẩu ở mức đáng kể hoặc ngăn không cho giá
tăng đáng kể hay không.
Tuy nhiên, nước nhập khẩu sẽ không tiến hành điều tra phá giá nếu sản phẩm
nhập khẩu thuộc các diện sau đây:
+ Nếu sản phẩm bán phá giá được nhập khẩu từ một quốc gia: khối lượng
nhập khẩu sản phẩm này nhỏ hơn 3% tổng lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự;
hoặc
+ Nếu sản phẩm bán phá giá được nhập khẩu từ nhiều quốc gia: khối lượng
nhập khẩu sản phẩm này từ từng quốc gia nhỏ hơn 3% tổng lượng nhập khẩu sản
phẩm tương tự và khối lượng nhập khẩu gộp của những quốc gia này phải nhỏ
hơn 7% tổng lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự.
+ Biên độ phá giá nhỏ hơn 2%.
sở tổ chức và cá nhân đại diện cho ngành sản xuất tương tự trong nước nộp đơn
đề nghò điều tra phá giá đối với mặt hàng nhập khẩu. Điều kiện hợp lệ của đơn là
sản lượng của các nhà sản xuất ủng hộ đơn phải chiếm ít nhất 25% tổng sản
lượng của toàn ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước và lớn hơn sản
lượng của các nhà sản xuất phản đối đơn. Đơn đề nghò điều tra bán phá giá sẽ
được gửi đồng thời đến hai cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra bán phá giá
và áp đặt thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ, đó là Bộ Thương mại (Department
of Commerce- DOC) và Uỷ ban Thương mại quốc tế (International Trade
Committee- ITC). Và số liệu thực tế, các đơn này ít khi bò bác bỏ hay bất hợp lệ
bởi vì ITC và DOC thường yêu cầu các doanh nghiệp trong nước gửi đơn nháp
trước để xem xét không chính thức và góp ý về khía cạnh kỹ thuật cũng như bổ
sung một số thông tin cần thiết.
4.2 Quá trình điều tra
- Bộ Thương mại- DOC là cơ quan chòu trách nhiệm tiến hành điều tra về việc
bán phá giá.
- Uỷ ban Thương mại quốc tế- ITC là cơ quan chòu trách nhiệm điều tra về
mức độ thiệt hại xảy ra hoặc có nguy cơ xảy thiệt hại đối với ngành sản xuất
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
17
trong nước, mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá với thiệt hại hoặc nguy
cơ xảy ra thiệt hại.
Khi nhận được đơn yêu cầu điều tra bán phá giá, trong vòng 20 ngày, DOC
phải ra quyết đònh có tiến hành điều tra hay không và giải trình cụ thể lý do dẫn
tới quyết đònh này. Trong trường hợp đặc biệt, với những vụ việc phức tạp, không
được quá 40 ngày kể từ ngày nhận đơn.
Đối với ITC, sau 45 ngày (trường hợp đặc biệt, tối đa là 60 ngày) kể từ ngày
nhận đơn, sẽ phải đưa ra đánh giá sơ bộ về thiệt hại xảy ra hoặc có nguy cơ xảy
ra thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước theo những thông tin được cung cấp
hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ.
Quá trình điều tra này là một vũ khí lợi hại mà Hoa Kỳ sử dụng để chống lại
một cách triệt để những hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến
ngành sản xuất nội đòa. Trên thực tế, trong nhiều vụ giải quyết tranh chấp liên
quan đến hành vi bán phá giá, DOC đã sử dụng thẩm quyền này của mình để gây
khó dễ cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài. Sau khi thụ lý đơn kiện, bước
đầu tiên trong quá trình điều tra là DOC sẽ gửi đến các doanh nghiệp bò kiện một
hoặc nhiều bảng câu hỏi (Questionaires) để họ có cơ hội trả lời và tự bào chữa.
Nếu xét về mặt câu chữ của quy đònh này thì chẳng có vấn đề gì nhưng trên thực
tế, những bảng câu hỏi ấy đều rất phức tạp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp
xuất khẩu ở những nước chưa có kinh nghiệm cọ sát trong thương trường quốc tế
và chưa phải đối phó những vụ kiện bán phá giá trước đây. Chẳng hạn, không
hiểu hoặc hiểu không rõ câu hỏi mà đưa ra những con số không đầy đủ, không
theo những tiêu chuẩn, mẫu qui đònh. Do đó, DOC có thể căn cứ vào những số
liệu có sẵn hoặc những số liệu thu thập được qua các “kênh” khác gây bất lợi cho
bên bò kiện. Hơn nữa, thời gian để trả lời những câu hỏi này thường rất ngắn. Cho
nên, các doanh nghiệp nước ngoài thường rơi vào thế bò động khi bò kiện. Nếu
không có kinh nghiệm thì họ không thể đối phó kòp thời trong khi các doanh
nghiệp Hoa Kỳ lại chủ động thuê luật sư, thu thập thông tin bất lợi cho đối
phương. Nếu bên bò kiện có những chứng cứ xác đáng, DOC sẽ cử phái đoàn điều
tra đến tận nơi nghiên cứu và xem xét. Liệu sự phản ánh của phái đoàn này có
trung thực hay không là một vấn đề không rõ ràng trong quá trình điều tra.
Hoa Kỳ còn áp dụng quy chế nền kinh tế thò trường vào trong việc xác đònh
phá giá. Nếu các doanh nghiệp bò kiện không chứng minh được họ có đủ điều
kiện để hưởng quy chế đó, DOC có quyền lựa chọn một nước thứ ba hay còn được
gọi là nước thay thế để xác đònh giá trò thông thường của sản phẩm. Nước thứ ba
đó phải có điều kiện tương đồng với nước bò kiện về trình độ phát triển kinh tế,
quan hệ thương mại, v.v… DOC sẽ dùng số liệu về giá cả của nước này để áp cho
nước bò kiện và xác đònh biên độ phá giá. Thông thường, việc dùng nước thay thế
http://kilobooks.com
nếu việc bãi bỏ thuế chống bán phá giá sẽ làm cho ngành sản xuất trong nước sẽ
bò thiệt hại. Do đó, các nhà sản xuất của Hoa Kỳ luôn tìm cách kéo dài thời gian
áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu càng lâu càng tốt.
Như vậy, với các nhà sản xuất hàng hoá tương tự trong nước của Hoa Kỳ thì
luật Chống bán phá giá của Hoa Kỳ là công cụ bảo hộ hiệu quả.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
20
5. Xác đònh bán phá gia
ù
5.1 Mô hình so sánh giá trò thông thường (NV) và Giá tại Hoa Kỳ (UP) a) Giá tại thò trường Hoa Kỳ (U.S Price- UP) được tính dựa vào giá xuất khẩu
(Export price- EP) hoặc giá xuất khẩu suy đònh (Constructed export price- CEP).
b) Giá trò thông thường (Normal Value- NV) của sản phẩm được xác đònh
thông qua giá bán tại thò trường nội đòa của nước xuất khẩu (Home market price-
HMP) hoặc một nước thứ ba tương đồng (Third country price- TCP) hoặc giá trò
suy đònh (Constructed Value- CV).
* Các nguyên tắc so sánh:
Khi tiến hành so sánh NV và UP, cần phải tuân thủ 4 điều cơ bản sau:
@ Hai giá này phải được so sánh trong cùng một cấp độ thương mại (tức là
cùng là giá bán sỉ hay giá bán lẻ hay giá xuất xưởng, v.v…);
@ Hai giá này phải được xác đònh tại cùng thời điểm (hoặc tại các thời điểm
gần nhau);
@ Phải tính đến sự khác biệt có thể ảnh hưởng đến việc so sánh để điều chỉnh
nhập khẩu.
Nếu LP chỉ đơn thuần được chuyển cảng qua nước trung gian thì:
NV của LP ở nước sản xuất so với giá bán LP từ nước xuất khẩu sang nước
nhập khẩu.
5.2 Xác đònh & tính toán giá xuất khẩu và giá xuất khẩu suy đònh:
Giá xuất khẩu EP là giá bán cho người mua đầu tiên ở Hoa Kỳ, độc lập với
nhà sản xuất/ xuất khẩu hoặc cho người mua đầu tiên, độc lập với nhà sản xuất/
xuất khẩu để xuất vào thò trường Hoa Kỳ trước khi hàng hoá được nhập khẩu. Ví
dụ, doanh nghiệp Hoa Kỳ muốn phân phối sản phẩm nào đó tại thò trường Hoa
Kỳ và họ tự liên lạc với nhà sản xuất/ xuất khẩu nước ngoài và đàm phán thực
hiện các cam kết về giá cả, số lượng, thời gian giao hàng, v.v… Để xác đònh EP,
cần xác đònh giá cơ sở ban đầu của giao dòch. Giá cơ sở này sẽ được điều chỉnh
theo qui đònh tại mục c khoản 772 của Luật thuế 1930 Hoa Kỳ trước khi đem so
sánh với giá trò thông thường. Có 3 cách tính EP như sau:
a) Cách 1 (Cách tính EP chuẩn): EP là giá trong giao dòch mua bán giữa nhà
sản xuất hoặc nhà xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu của Hoa K.
Việc xác đònh EP được thực hiện thông qua các chứng từ mua bán giữa nhà sản
xuất, nhà xuất khẩu nước ngoài với nhà nhập khẩu như: Hợp đồng mua bán
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
22
(Sales Contract), Hoá đơn thương mại (Commercial Invoice), Vận đơn (Bill of
Lading), Thư tín dụng (Letter of Credit), v.v…
Để áp dụng được cách tính EP chuẩn này, hoạt động mua bán, trao đổi hàng
hoá giữa nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu của nước xuất khẩu với nhà nhập khẩu
của Hoa Kỳ phải đáp ứng được hai điều kiện cơ bản sau:
a.1) Có giá xuất khẩu, tức là sản phẩm được xuất khẩu theo Hợp đồng mua
bán giữa nhà sản xuất/xuất khẩu với nhà nhập khẩu.
a.2) Giá xuất khẩu là giá trong Hợp đồng mua bán thông thường.
5.3 Điều chỉnh giá về giá cơ sở
Các thông số giá cả cần được điều chỉnh trước về mức giá cơ sở để phục vụ
cho việc tính EP và CEP trước khi đem so sánh với giá trò thông thường của sản
phẩm. Những sự điều chỉnh giá này sẽ là một phần giá trò ròng mà người mua đã
thực sự chi trả. Thuật ngữ “điều chỉnh giá” được hiểu là những sự điều chỉnh đối
với giá danh nghóa (chẳng hạn như giá ghi trên catalogue hay bảng giá niêm yết),
ví dụ như các khoản giảm giá hay trích giảm. Và sự điều chỉnh này có thể là điều
chỉnh giảm hoặc điều chỉnh tăng.
Sau đây là những sự điều chỉnh giá được qui đònh trong Luật thuế 1930 Hoa Kỳ:
a) Các khoản bổ sung
a.1 Đóng gói (Packing): Nếu giá bán cho người mua độc lập đầu tiên tại Hoa
Kỳ chưa bao gồm chi phí đóng gói thì giá cơ sở sẽ được cộng một khoản bằng với
chi phí cho tất cả bao bì, nhãn mác và các khoản chi khác để sản phẩm được hoàn
thiện trước khi xuất vào Hoa Kỳ.
a.2 Hoàn/trích giảm thuế nhập khẩu (Import Duty Drawback)
Nếu vì lý do khuyến khích hàng hoá xuất khẩu vào Hoa Kỳ, nước xuất khẩu
hoàn/ trích giảm thuế nhập khẩu cho nhà sản xuất đối với nguyên vật liệu nhập
khẩu dùng để sản xuất sản phẩm xuất khẩu thì giá cơ sở để tính EP hay CEP sẽ
được điều chỉnh tăng bằng với khoản hoàn/ trích giảm ấy.
Để DOC quyết đònh xem liệu có nên điều chỉnh tăng với khoản hoàn/ trích
giảm này không thì nhà sản xuất cần phải chứng minh mối quan hệ hữu cơ giữa
Xét về điều kiện giao hàng: Các khoản chi phí cho việc di chuyển hàng hoá
cần được thể hiện rõ trong điều kiện giao hàng của từng giao dòch. Sau đây là các
điều kiện giao hàng thường gặp và các khoản phí được tính:
+ Ex-work/ Ex-factory: không có khoản phí di chuyển nào được tính.
+ F.O.B (Free On Board): Bao gồm cước vận tải nội đòa & bảo hiểm đến cảng
xuất, các khoản phí tác nghiệp và đưa hàng lên tàu.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM
25
+ F.A.S (Free along side): Bao gồm cước vận tải nội đòa và bảo hiểm hàng
hoá đến cảng xuất.
+ C&F (Cost & Freight): Bao gồm cước vận tải nội đòa và bảo hiểm hàng hoá
đến cảng xuất, chi phí tác nghiệp và đưa hàng lên tàu, chi phí môi giới nước
ngoài và cước vận tải quốc tế.
+ C.I.F (Cost, Insurance and Freight): Bao gồm các khoản phí trong điều kiện
C&F và phí bảo hiểm vận tải quốc tế.
+ C.I.F- Duty paid: Bao gồm các khoản phí trong điều kiện C.I.F và khoản
thuế tại Hoa Kỳ và có thể có chi phí môi giới tại Hoa Kỳ.
+ Delivered: Bao gồm các khoản phí trong điều kiện C.I.F- Duty paid và chi
phí vận tải nội đòa và bảo hiểm hàng hoá tại Hoa Kỳ.
Nếu nhà sản xuất đóng tại nền kinh tế phi thò trường thì DOC sẽ dựa vào chi
phí tại nước thay thế để tính toán. Chẳng hạn, với Việt Nam, để xác đònh cước
vận tải nội đòa từ xưởng sản xuất của công ty CFL đến cảng Sài Gòn, DOC sẽ lấy
khoảng cách thực tế từ xưởng CFL đến cảng Sài Gòn sau đó nhân với mức cước
vận tải trung bình của phương tiện tương ứng tại nước thay thế.
Tuy nhiên, nếu nhà sản xuất tại nền kinh tế phi thò trường dùng dòch vụ của
các nhà cung cấp ở nước có nền kinh tế thò trường và thanh toán bằng đồng tiền
của nước có nền kinh tế thò trường thì DOC sẽ dùng các chi phí thực tế phát sinh
chứ không dựa vào chi phí của nước thay thế. Ví dụ, các doanh nghiệp Việt Nam