BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
QUẢN LÝ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI: THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khoa
: PGS.TS Lê Thị Tuấn Nghĩa
: Ngô Anh Tiến
: TTQTD - K11
: Ngân hàng
-------------000------------Hà Nội - 2012
Khóa luận tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
LỜI CẢM ƠN
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết
Từ đầy đủ
tắt
CDCS
: Chuyên gia tín dụng chứng từ (Certified Documentary Credit
Cut-off
Specialist)
: Thời hạn chót nhận hồ sơ giao dịch
time
ICC
ĐCTC
HĐQT
L/C
NK
XK
XNK
(Society for World-wide Interbank Financial Telecommunications)
: Thương mại cổ phần
: Thanh toán quốc tế
: Thanh toán viên
: Thanh toán
: Nhập khẩu
: Xuất khẩu
: Xuất nhập khẩu
DANH MUC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tài chính nổi bật của NH Quân Đội
giai đoạn 2006-2011……………………...………………………………………..24
Bảng 2.2: Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế tại NH
Quân Đội giai đoạn 2005-2011 ...........…………………………………...……….30
Bảng 2.3: Nợ quá hạn cho vay XNK tại NHQĐ (2005-2011) ……………………34
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
Học viện ngân hàng
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
7
Học viện ngân hàng
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Từ ngày 1/1/2011, theo cam kết gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO),
Việt Nam sẽ cho phép ngân hàng nước ngoài cung cấp các dịch vụ, sản phẩm như
ngân hàng trong nước. Như vậy, từ năm 2011, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng
trong nước sẽ có cùng một sân chơi sòng phẳng. Các ngân hàng nội địa không
những phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng nước
ngoài để chiếm giữ thị phần. Trong xu hướng đó, ngành tài chính ngân hàng Việt
Nam đang có những điều chỉnh căn bản nhằm phát huy thế mạnh, khắc phục nhược
điểm, từng bước tạo ra một hệ thống ngân hàng hiện đại, an toàn, hiệu quả và đạt
được chuẩn mực quốc tế vào khu vực. Là một mắt xích không thể thiếu trong hoạt
động dịch vụ của ngân hàng, hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan
trọng. Thương mại thế giới phát triển chưa từng có từ trước đến nay kéo theo sự gia
nhập sâu rộng nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp
Việt Nam mở rộng ra thị trường thế giới thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất nhập
khẩu và từ đó hoạt động thanh toán quốc tế phát triển lên tầm cao mới.
Hoạt động TTQT tại ngân hàng Quân Đội còn mới mẻ nhưng đã đạt được
những thành tựu nhất định. Sự mở rộng và phát triển đa dạng các sản phẩm thanh
toán quốc tế đã tạo tiền đề căn bản để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu và yêu cầu kiện toàn hóa hệ thống dịch vụ của ngân
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- Phương pháp diễn giải, quy nạp.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
5. Kết cấu của luận văn
Tên đề tài: “Quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội: thực trạng và giải pháp hoàn thiện”.
Ngoài phần: mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
các từ viết tắt và các phụ lục, luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Lý luận chung về rủi ro và quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế.
- Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng
thương mại cổ phần Quân đội.
- Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện việc quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế tại
ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội.
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
9
Học viện ngân hàng
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
Khóa luận tốt nghiệp
10
Học viện ngân hàng
1.1.2.2. Phương thức ghi sổ (Open account)
Khái niệm: phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất
khẩu sau khi hoàn thành giao hàng thì ghi nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một
cuốn sổ theo dõi và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường
theo định kỳ như thỏa thuận.
Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức ghi sổ có các đặc điểm:
- Không có sự tham gia của ngân hàng với chức năng là người mở tải khoản
và thực hiện thanh toán.
- Chỉ có hai bên tham gia thanh toán là nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người nhập
khẩu mở tài khoản để ghi thì tào khoản này là tài khoản theo dõi, không có hiệu lực
thanh toán.
- Hai bên mua bán phải thực sự tin tưởng nhau.
- Dùng chủ yếu trong mua bán hàng đổi hàng hay cho một loạt các chuyến
hàng thường xuyên định kỳ trong một thời gian nhất định.
- Giá hàng trong phương thức ghi sổ thường cao hơn giá hàng bán trả tiền
ngay (chênh lệch là do yếu tố lãi suất và rủi ro tín dụng).
1.1.2.3. Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Khái niệm: Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng
(người chuyển tiền - ordering party) yêu cầu Ngân hàng của mình (Remitting bank)
chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi - Beneficiary)
theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định.
Học viện ngân hàng
Quy trình nghiệp vụ phương thức chuyển tiền gồm các bước:
Bước 1: Nhà xuất khẩu thực hiện việc giao hàng, đồng thời chuyển giao toàn
bộ chứng từ như: hóa đơn, vận đơn, bảo hiểm đơn … cho nhà nhập khẩu.
Bước 2: Sau khi kiểm tra bộ chứng từ (hoặc hàng hóa), nếu quyết định trả tiền
thì nhà nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền (bằng M/T hay T/T) cùng với ủy nhiệm chi
(nếu có tài khoản) gửi ngân hàng phục vụ mình.
Bước 3: Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều khoản chuyển tiền, nếu thấy
hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản để chuyển
tiền và gửi giấy báo nợ cho nhà nhập khẩu.
Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng M/T hay T/T theo yêu cầu của
người chuyển tiền) cho ngân hàng đại ký (ngân hàng trả tiền) để chuyển trả cho
người thụ hưởng.
Bước 5: Ngân hàng trả tiền ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng, đồng
thời gửi giấy báo có cho người hưởng lợi.
1.1.2.4. Phương thức nhờ thu (Collection)
Khái niệm: Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (nhà xuất
khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình
xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (nhà nhập khẩu ) để
được thanh toán, chấp nhận hối phiếu haychấp nhận các điều kiện và điều khoản
khác.
Phân loại nhờ thu phụ thuộc vào tính chất chứng từ mà người mua yêu cầu
làm căn cứ trả tiền, căn cứ vào tính chất chứng từ yêu cầu, nhờ thu chia làm hai
loại:
- Nhờ thu phiếu trơn (clean collection): là phương thức thanh toán trong đó
chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính, còn các chứng từ thương mại
được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua ngân hàng.
- Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection): là phương thức thanh toán
trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu gồm:
(3)
(1)
Người ủy thác (Exporter)
(6)
(5)
Người trả tiền (Importer)
(2)
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ
Quy trình nhờ thu kèm chứng từ gồm các bước:
(1) Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định áp
dụng phương thức “nhờ thu kèm chứng từ”.
(2) Nhà xuất khẩu gửi hàng hóa cho nhà nhập khẩu.
(3) Nhà xuất khẩu lập đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng bộ chứng từ (bao gồm
chứng từ thương mại, cùng chứng từ tài chính nếu có) tới ngân hàng nhờ thu.
(4) Ngân hàng nhờ thu lập lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ tới ngân
hàng thu hộ.
(5) Ngân hàng thu hộ thông báo lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng từ cho
nhà nhập khẩu.
(6) Nhà nhập khẩu chấp hành lệnh nhờ thu bằng cách:
- Thanh toán ngay (hối phiếu trả ngay hay séc); hoặc
- Chấp nhận hối phiếu (hối phiếu kỳ hạn); hoặc
- Ký phát hành kỳ phiếu hoặc giấy nhận nợ.
(7) Ngân hàng thu hộ trao bộ chứng từ thương mại cho nhà nhập khẩu.
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Ngân hàng thông báo và NHđCD
(9)
(7) (6)
(10) (11) (2)
(1)
Người nhập khẩu (Importer)
(4)
Người xuất khẩu (Exporter)
(5)
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ L/C có giá trị thanh toán tại NHđCĐ
Quy trình nghiệp vụ L/C gồm các bước:
(1) Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán
theo phương thức L/C.
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
14
Học viện ngân hàng
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
15
Học viện ngân hàng
1.2. Rủi ro trong thanh toán quốc tế
1.2.1. Khái niệm
Kinh doanh là một hoạt động đầy rủi ro, mạo hiểm và chấp nhận rủi ro trong
kinh doanh là điều tất yếu. Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị thiệt hại, tổn
thất. Nhà kinh tế học Allan Willett cho rằng “rủi ro là bất trắc cụ thể liên quan đến
việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”
Thông qua việc xem xét những quan điểm về rủi ro cũng như xuất phát từ
thực tiễn hoạt động TTQT, có thể đưa ra định nghĩa về rủi ro trong TTQT như sau:
“rủi ro trong TTQT là những bất trắc ngoài ý muốn có thể xảy ra trong giao dịch
TTQT gây thiệt hại cho các bên liên quan như: ngân hàng, người yêu cầu, người
hưởng lợi,… Sự bất trắc ở đây không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ
không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra là bất kỳ một sự chậm trễ nào
trong các khâu của quá trình TTQT”.
1.2.2. Các loại rủi ro
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, ta có thể phân loại rủi ro như sau:
a. Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro về mất khả năng thanh toán của một trong các
bên tham gia phương thức thanh toán quốc tế. Thực tế rủi ro này được thể hiện rõ
nhất trong phương thức tín dụng chứng từ.
Rủi ro tín dụng từ phía NHPH L/C : trường hợp NHPH mất khả năng thanh
toán vì một lý do nào đó hoặc phải đóng cửa hoặc vỡ nợ thì cũng dẫn tới rủi ro cho
nhà xuất khẩu và ngân hàng chiết khấu chứng từ. Vì vậy, để tránh xảy ra tình huống
lại nhà xuất khẩu số tiền họ đã thanh toán và lãi phát sinh. Tuy nhiên, nếu nhà xuất
khẩu không còn khả năng hoàn lại số tiền đó thì ngân hàng chiết khấu đã gặp rủi ro.
b. Rủi ro đạo đức: là rủi ro xảy ra khi một bên tham gia thanh toán quốc tế cố
tình không thực hiện nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại tới quyền lợi của các bên còn
lại. Đây là loại rủi ro mà các bên tham gia khó có thể lường trước và kiểm soát
được.
Rủi ro đạo đức từ phía ngân hàng: nhiều ngân hàng cố tình lợi dụng những sai
sót nhỏ của bộ chứng từ để trì hoãn hay từ chối thanh toán trong phương thức L/C.
Rủi ro từ phía nhà xuất khẩu: khi nhà xuất khẩu giao hàng không đúng hợp
đồng hoặc không giao hàng nhưng lại giả mạo chứng từ để xuất trình đòi tiền thanh
toán. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, do giá cả trên thị trường quốc tế tăng lên,
người bán không muốn giao hàng, điều này sẽ gây thiệt hại cho người mua vì đã
phá vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ và họ vẫn phải chịu những chi phí
ngân hàng liên quan.
Rủi ro từ phía nhà nhập khẩu: trong nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu lợi dụng
những sai sót nhỏ của chứng từ, những lỗi không ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà
nhập khẩu theo hợp đồng mua bán để trì hoãn thanh toán, ép người bán giảm giá,
đặc biệt khi giá cả hàng hóa biến động theo hướng bất lợi cho nhà nhập khẩu.
Rủi ro từ phía người chuyên chở: đã có trường hợp, người chuyên chở nhận
hàng từ người bán, lấy tiền cước rồi biến mất. Khi đó, ngân hàng vẫn phải có trách
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
17
mâu thuẫn nhau trong hệ thống luật pháp của một nước.
f. Rủi ro ngoại hối: phát sinh do biến động về giá cả của các đồng tiền.
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
18
Học viện ngân hàng
Nếu ngoại tệ lên giá thì bất lợi cho nhà nhập khẩu và có lợi cho nhà xuất khẩu
và ngược lại. Sự biến động của tỷ giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chính sách
tỷ giá, tốc độ lạm phát, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, cung cầu ngoại hối,…
của từng quốc gia. Đối với ngân hàng, trường hợp thường xảy ra nhất đối với loại
rủi ro này là trạng thái ngoại hối về đồng tiền thanh toán khác không. Nếu trạng
thái ngoại tệ đoản thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro khi đồng tiền thanh toán lên
giá. Nếu trạng thái ngoại tệ trường thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro khi đồng
tiền thanh toán giảm giá so với đồng bản tệ.
g. Rủi ro tác nghiệp: đây là những rủi ro về sai sót kỹ thuật nghiệp vụ do
chính bản thân các bên tham gia gây nên.
Trong phương thức chuyển tiền: có thể số tiền được chuyển không khớp với
số tiền thực chuyển, hoặc sai tên hoặc sai số tài khoản người hưởng lợi làm cho
người hưởng lợi không hoặc chậm nhận được tiền. Một rủi ro khác nữa là NH
chuyển tiền sơ xuất không cập nhật danh sách OFAC đưa ra cấm vận, chuyển tiền
đến các nước, tổ chức, cá nhân bị cấm vận, và khoản thanh toán đó bị giữ lại,
không thể hoàn lại cho khách hàng.
khó khăn trong việc đáp ứng những yêu cầu khắt khe đó.
Đối với nhà nhập khẩu, đó là rủi ro do không nắm vững về nghiệp vụ tín dụng
chứng từ nên quy định các điều khoản về chứng từ xuất trình theo L/C không chặt
chẽ, khiến nhà xuất khẩu dễ dàng lập được bộ chứng từ hoàn hảo mặc dù giao hàng
không theo đúng quy định của hợp đồng.
h. Rủi ro công nghệ: là những bất trắc xảy ra do công nghệ thấp kém, không
đáp ứng hoặc đáp ứng không tốt yêu cầu đặt ra.
Công nghệ lạc hậu, thủ công sễ gây sai sót trong quá trình lập chứng từ,
chuyển tiền, tìm kiếm thông tin và tốn kém chi phí cho nhà xuất khẩu, nhập khẩu.
Đối với ngân hàng, việc đầu tư cho công nghệ, đặc biệt là công nghệ ngân hàng đòi
hỏi chi phí rất cao. Nhìn chung, các ngân hàng nhỏ, vốn ít không có điều kiện để
trang bị công nghệ hiện đại thường gặp rủi ro này. Ví dụ: rủi ro trong quá trình
truyền điện đi nước ngoài, trong lưu chuyển hồ sơ, chứng từ trong nội bộ ngân
hàng hay sai sót trong hạch toán, thu phí dịch vụ.
i. Rủi ro uy tín: là những bất trắc xảy ra gây ảnh hưởng, làm giảm uy tín của
các bên.
Đối với nhà xuất khẩu, nhập khẩu khi uy tín giảm sút, các ngân hàng đánh giá
hệ số tín nhiệm của các nhà xuất khẩu, nhập khẩu thấp thì ngân hàng sẽ không tiến
hành cho vay, mở L/C cho nhà nhập khẩu hay ngừng chiết khấu chứng từ cho các
nhà xuất khẩu.
Đối với ngân hàng, việc phát hành L/C là việc ngân hàng dùng uy tín của
mình để tài trợ cho khách hàng, đứng ra cam kết thanh toán cho nhà xuất khẩu khi
xuất trình phù hợp. Uy tín của ngân hàng phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ, tính
chuyên nghiệp, việc thực hiện các cam kết, tình hình tài chính cũng như lịch sử
phát triển,… Nếu một ngân hàng vì lý do nào đó bị giảm uy tín thì sẽ gặp nhiều khó
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Tỷ lệ =
x 100%
Chỉ tiêu phản ánh rủi ro về uy tín của ngân hàng phát hành của nước nhập
khẩu trên trường quốc tế. Khi người xuất khẩu, ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
không tin tưởng vào khả năng thực hiện cam kết theo L/C của ngân hàng phát hành,
hay lo sợ những rủi ro quốc gia của nước người nhập khẩu thì họ không chấp nhận
L/C được phát hành hoặc yêu cầu L/C phải được xác nhận bởi một ngân hàng có uy
tín khác hoặc tại một quốc gia khác.
- Tỷ lệ điện lỗi trong tổng số điện thanh toán quốc tế:
Tỷ lệ =
x 100%
Chỉ tiêu phản ánh độ chuyên nghiệp trong soạn điện thanh toán. Tỷ lệ này
càng nhỏ thể hiện tính chính xác trong tác nghiệp càng cao, các giao dich thanh
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
21
Học viện ngân hàng
toán quốc tế sẽ được phục vụ một cách nhanh chóng, đồng thời ngân hàng cũng tiết
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
22
Học viện ngân hàng
d. Thể chế chính trị
Rủi ro thanh toán quốc tế còn bị gây ra bởi sự bất ổn định về chính trị như nổi
loạn, đảo chính và các biến cố chính trị khác. Do nổi loạn, đảo chính nên các ngân
hàng không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, người xuất khẩu không thể
thực hiện nghĩa vụ giao hàng, người nhập khẩu không thể nhận hàng. Đây là những
nguyên nhân bất khả kháng.
e. Thiên tai
Động đất, bão, dịch bệnh, sóng thần,… là nhân tố gây thiệt hại về hàng hóa
trên đường vận chuyển, gây chậm trễ các khâu trong quy trình thanh toán. Đây là
một trong những nguyên nhân mang lại rủi ro trong thanh toán quốc tế.
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan
a. Năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của các bên tham gia
Đối với NH, năng lực quản lý, trình độ nghiệp vụ non kém của cán bộ nhân
viên NH trong việc xét duyệt mở L/C, chiết khấu chứng từ, thẩm định tính chân
thực của hồ sơ chuyển tiền là nhân tố khiến NH không lựa chọn được những khách
hàng tốt, những dự án khả thi. Nhiều L/C được mở ra với các điều kiện mập mờ,
không rõ nghĩa có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng ngân hàng phát hành
lại không đủ trình độ tư vấn cho khách hàng, ngân hàng thông báo lại không yêu
với rủi ro trong thanh toán quốc tế. Nhiều cán bộ do không thẩm định kỹ năng lực
tài chính, phương án kinh doanh của khách hàng, không nghiên cứu kỹ hồ sơ nên
không phát hiện ra rủi ro để tìm giải pháp phòng ngừa dẫn đến hậu quả nghiêm
trọng. Nhiều cán bộ do cẩu thả trong khâu soạn điện, khâu kiểm tra chứng từ nên
không phát hiện ra những lỗi nghiêm trọng, không theo dõi thời hạn thanh toán để
dẫn đến tình trạng chậm thanh toán cho người XK và bị phạt chậm thanh toán,…
d. Thiếu thông tin
Thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong TTQT. Tình trạng thiếu thông tin,
thông tin không chính xác, không đầy đủ về đối tác là một nguyên nhân dẫn đến rủi
ro. Vì thế, việc thu thập, kiểm tra thông tin phải được các bên quan tâm đúng mực
để tránh những rủi ro không đáng có.
1.3. Quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế
1.3.1. Khái niệm
Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về quản lý rủi ro. Có nhiều trường
phái nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro, đưa ra những khái niệm về quản lý rủi
ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau.
Quan điểm của trường phái hiện đại có thể coi là một quan điểm “quản lý rủi
ro toàn diện”. Theo đó, có thể hiểu: “Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một
cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa
và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”.
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
24
hợp đồng quy định nhà nhập khẩu mở một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng, trong đó
Sinh viên: Ngô Anh Tiến
Lớp: TTQTD – K11
Khóa luận tốt nghiệp
25
Học viện ngân hàng
bộ chứng từ yêu cầu xuất trình có vận tải đơn theo lệnh nhà nhập khẩu. Đây chính
là nguyên nhân gây rủi ro cho ngân hàng phát hành do nhà nhập khẩu không cần
hoàn thành nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng vẫn có thể nhận hàng. Để ngăn ngừa
rủi ro này, NHPH phải yêu cầu vận tải đơn theo lệnh (To order of) của NHPH.
b.Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro
Ngăn ngừa rủi ro là sử dụng các biện pháp để giảm thiểu số lần xuất hiện rủi
ro. Nhóm biện pháp ngăn ngừa rủi ro bao gồm:
- Các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa rủi ro.
Chẳng hạn trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, để hạn chế thiệt hại,
doanh nghiệp có thể chủ động thuê tư vấn luật, nhờ các chuyên gia giỏi nghiệp vụ
ngoại thương thương thảo hợp đồng.
- Các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro: môi trường rủi ro ở
đây có thể là môi trường văn hoá, chính trị, luật pháp,… Rủi ro sẽ xảy ra nếu nhân
viên của ngân hàng, doanh nghiệp không có những hiểu biết cần thiết về môi
trường văn hoá, chính trị,… của nước đối tác, dẫn đến hành xử không đúng và gặp
rủi ro. Biện pháp phòng ngừa: đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ,
đặc biệt là kiến thức về văn hoá, luật pháp và cách ứng xử.