LỜI NÓI ĐẦU
Thanh toán quốc tế là một lĩnh vực hoạt động gắn liền với thương mại
quốc tế với quy mô và phạm vi hoạt động rộng lớn, phức tạp, liên quan đến
nhiều chủ thể ở những quốc gia khác nhau. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu
hoá hiện nay, hoạt động thương mại quốc tế ngày càng trở nên sôi động
nhưng cũng đầy phức tạp, các đối tác tham gia hoạt động này còn nhiều bất
cập và rủi ro lớn, những vụ lừa đảo, gian lận trong Thanh toán quốc tế ngày
càng tinh vi, nó xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, nó dẫn đến những
tranh chấp giữa ngân hàng với ngân hàng, giữa ngân hàng với khách hàng,
giữa khách hàng với khách hàng. Điều này không chỉ ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng và hiệu quả hoạt động của Thanh toán quốc tế tại các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như tại các Ngân hàng thương mại
mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng an toàn trong hoạt động kinh doanh
ngân hàng nói chung và hoạt động Thanh toán quốc tế nói riêng. Nó không
những gây tổn thất, thiệt hại về tài sản, tiền bạc cho cả ngân hàng và khách
hàng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trên thương trường quốc tế.
Vì vậy, nghiên cứu để tìm ra các biện pháp đồng bộ, hữu hiệu và khả
thi nhằm góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động Thanh toán quốc tế đã và
đang trở thành một trong những vấn đề bức xúc, cả về phương diện lý luận và
thực tiễn không chỉ đối với các nhà quản trị ngân hàng, các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu mà ngay cả các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến vấn
đề này. Thời gian qua, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt
Nam là ngân hàng tham gia hoạt động Thanh toán quốc tế sớm nhất và có bề
dày kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Từ đó, em chọn nội dung nghiên cứu:
“Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong Thanh toán quốc tế tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam”
1
Hoạt động Thanh toán quốc tế rất rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực
nghiệp vụ khác nhau như thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá, thanh toán phi
mậu dịch, nghiệp vụ bảo lãnh… Với chuyên đề này, em hy vọng sẽ hoàn
thiện phần nào các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động Thanh toán
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có
liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa
các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước.
3
Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc
tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan
hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau.
1.1.2. Nội dung của hoạt động thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến
quyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được
quy định lại thành những điều kiện gọi là điều kiện thanh toán quốc tế. Các
điều kiện đó là:
-Tiền tệ thanh toán
-Địa điểm thanh toán
-Thời gian thanh toán
-Phương thức thanh toán
Nghiệp vụ TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT trên.
Các điều kiện này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để có thể vận dụng chúng
một cách tốt nhất trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán ngoại
thương, các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nước.
Các điều kiện trên khi được vận dụng một cách hợp lý sẽ đem lại hiệu quả
kinh tế, tránh được những rủi ro, tổn thất cho các bên áp dụng. Trong đó,
phương thức thanh toán là một nội dung khá quan trọng. Người ta có thể dùng
nhiều phương thức thanh toán khác nhau, nhưng việc lựa chọn phương thức
nào phải xuất phát từ yêu cầu của người bán là thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng
hạn và từ yêu cầu của người mua là nhập khẩu đủ số lượng, chất lượng, đúng
hạn. Chuyên đề xin đề cập đến ba phương thức đang được sử dụng phố biến:
- Phương thức thanh toán Thư tín dụng L/C (Letter of Credit)
- Phương thức thanh toán nhờ thu (Document Collection)
- Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance Payment)
TTQT được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và các tập quán
thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp các quốc gia,
bởi chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương, chế độ quản lý ngoại hối của
mỗi quốc gia.
1.2. Tổng quan về an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế tại các
Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm an toàn trong thanh toán quốc tế
Khái niệm về an toàn được hiểu tuỳ theo quan điểm và lĩnh vực khác
nhau. Theo quan điểm của tôi: “An toàn là không gặp nguy hiểm, không có
thiệt hại hay tổn thất nào xảy ra.”
TTQT là một lĩnh vực hoạt động kinh tế. Do đó khái niệm về an toàn
trong TTQT được hiểu theo góc độ kinh tế. Chúng ta có thể đưa ra khái niệm
về an toàn trong TTQT như sau:
An toàn trong thanh toán quốc tế là một quá trình thực hiện nghiệp vụ
thanh toán quốc tế được thực hiện một cách trôi chảy, bình thường, mọi
khoản thanh toán đòi tiền hoặc trả tiền cho phía đối tác được tiến hành thuận
lợi, không xảy ra mất tiền làm thiệt hại cho các bên liên quan. Người bán bán
hàng và thu được tiền, người mua mua hàng và thực hiện trả tiền. Ngân hàng
chuyển trả tiền đến đúng người hưởng và ngân hàng đòi tiền thì thu được tiền.
TTQT là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của NHTM.
Mọi rủi ro, mất an toàn trong hoạt động này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến
sự an toàn của hoạt động NH.
1.2.2. Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn trong thanh toán quốc tế:
Mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh luôn là mối
quan tâm hàng đầu trong mỗi NH. Đặc biệt, TTQT là một hoạt động tài chính
gắn liền với thương mại quốc tế và luôn nhạy cảm với diễn biến tình hình
quốc tế phức tạp hiện nay. Trong xu thế toàn cầu hoá, hoạt động này đòi hỏi
ngày càng hoàn thiện, đảm bảo sự nhanh nhạy nhưng phải an toàn và chính
6
xác cao. Mọi sơ sót trong xử lý nghiệp vụ TTQT tại NH đều có thể dẫn đến
chung và an toàn trong TTQT nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và bức
thiết hơn.
Bảo đảm an toàn trong TTQT là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của NHTM nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để NH phát triển bền vững, đủ sức
hội nhập quốc tế, góp phần thiết thực trong việc tăng trưởng kinh tế của đất
nước, nâng cao uy tín và vị thế của quốc gia trên thương trường quốc tế.
1.2.3. Mức độ an toàn của một số phương thức thanh toán quốc tế
được sử dụng phổ biến:
Hiện nay, tại các NHTM nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thương Việt Nam (NHNT) nói riêng đang sử dụng chủ yếu ba phương
thức sau:
1.2.2.1. Phương thức thanh toán Thư tín dụng L/C:
1.2.2.1.1. Khái niệm:
Phương thức thanh toán Thư tín dụng (TTD) (còn gọi là phương thức
thanh toán L/C) là phương thức thanh toán trong đó, theo yêu cầu của khách
hàng, một NH sẽ phát hành một văn bản gọi là TTD cam kết sẽ trả ngay hoặc
chấp nhận trả vào một ngày trong tương lai một số tiền nhất định cho người
hưởng lợi hoặc người được chỉ định trong TTD khi người này xuất trình cho
NH đầy đủ bộ chứng từ thanh toán hoàn toàn phù hợp với các điều khoản và
điều kiện của TTD.
Như vậy, TTD là một văn bản cam kết của NH (NH mở L/C), được
phát hành theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở L/C – nhà nhập
khẩu) cho người bán – nhà xuất khẩu hưởng (người hưởng lợi L/C) và có thể
được thanh toán theo phương thức trả ngay (at sight) hay trả kỳ hạn (usance
payment).
Một số chứng từ chủ yếu cho một TTD là:
8
- Hối phiếu (Bill of Exchange)
- Hoá đơn thương mại (Commercial invoice)
- Vận đơn (Bill of Lading)
xin
mở
L/C
(3)
Thông
báo
L/C
(5)
Xuất
trình
chứng
từ
(8)
Ghi có
người
hưởng lợi
hoặc
chuyển
hối phiếu
NH thông báo
(Advising bank)
Nhà nhập khẩu
(Importer)
(3) NH thông báo sau khi kiểm tra, xác thực L/C, chuyển TTD cho nhà
xuất khẩu.
(4) Nhà xuất khẩu nhận và kiểm tra L/C. Nếu chấp nhận thì tiến hành
giao hàng. Nếu chưa chấp nhận thì yêu cầu người mua - bên nhập khẩu sửa
đổi L/C và sau khi đã chấp nhận nội dung sửa đổi thì giao hàng.
(5) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ và xuất trình qua
NH thông báo hoặc NH chiết khấu để đòi tiền.
kinh doanh, giao hàng không đúng hợp đồng nhưng vẫn lập chứng từ phù hợp
để đòi tiền.
* Đối với NH phát hành: Do NH cam kết thanh toán khi chứng từ hoàn
thành phù hợp với L/C nên họ cũng có thể gặp rủi ro, mất an toàn trong thanh
toán khi:
+ Nhà xuất khẩu có hành vi lừa đảo, lập chứng từ hoàn toàn phù hợp
với L/C để đòi tiền, NH đã thanh toán nhưng không đòi lại được tiền từ nhà
nhập khẩu do họ mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.
+ Do tính chất của việc thanh toán L/C chỉ dựa trên chứng từ, nếu NH
phát hành sơ suất trong kiểm tra và xử lý chứng từ, không thông báo kịp thời
về việc bất hợp lệ cho NH thông báo hoặc NH chiết khấu trong thời hạn cho
phép của UCP, họ cũng có thể gặp rủi ro mất tiền, mất an toàn trong thanh
toán. Hoặc nhà nhập khẩu cố tình từ chối thanh toán khi chứng từ phù hợp
hoặc tranh chấp với NH về sự phù hợp của chứng từ.
* Đối với NH thông báo: NH thông báo có thể bị lôi vào vòng tranh
chấp khi thông báo nhầm L/C giả.
* Đối với NH chiết khấu: Nếu NH chiết khấu thiếu thận trọng trong
kiểm tra chứng từ hàng xuất, không phát hiện bất hợp lệ chứng từ, tạo điều
kiện cho NH phát hành từ chối thanh toán khi NH đã chiết khấu.
11
Ngoài ra nếu xảy ra các nguyên nhân bất khả kháng như các sự kiện về
thiên tai, chiến tranh, nổi loạn, đảo chính, đình công, đóng cửa các hoạt động
NH do khủng hoảng kinh tế… nếu ngày xuất trình chứng từ hoặc ngày hết
hiệu lực của L/C rơi vào ngày mà các sự kiện trên xảy ra thì UCP cho phép
NH phát hành được miễn khả năng thanh toán trong khi nhà xuất khẩu đã giao
hàng và NH đã chiết khấu bộ chứng từ thì NH chiết khấu sẽ gánh chịu rủi ro.
1.2.2.2. Phương thức thanh toán nhờ thu (Documentary collection)
1.2.2.2.1.Khái niệm:
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà người
xuất khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ nào đó cho nhà nhập
hối
phiếu
hoặc
chứng
từ
(4)
Thông
báo nhà
nhập
khẩu
NH chuyển chứng từ
(Remitting bank)
NH xuất trình
(Presenting bank)
Nhà xuất khẩu
(Drawer)
Nhà nhập khẩu
(Drawee)
(8) Thanh
toán/
Thông
báo chấp
nhận hối
phiếu
hoặc
chứng từ
(1) Giao hàng
(5)
Thanh
toán/
nhận hàng nhưng đến ngày đáo hạn không thanh toán hoặc chậm thanh toán.
* Đối với người mua:
Nếu người bán thiếu trung thực trong mua bán, giao hàng kém phẩm
chất, không phù hợp với hợp đồng đã ký, hoặc người bán cố tình lừa gạt
14
người mua sẽ gửi hối phiếu hoặc chứng từ đến NH trước, gửi hàng sau thì
người mua có thể gặp rủi ro, thua lỗ do đã trả tiền cho người bán.
* Đối với các NH liên quan:
Trong phương thức thanh toán nhờ thu, NH đóng vai trò trung gian
thanh toán tiền hàng giữa người mua và người bán, không liên quan đến các
cam kết của người mua, không có trách nhiệm đối với thiện chí thanh toán
của họ. NH thu hộ hoạt động với tư cách là đại lý của NH chuyển chứng từ và
phải theo sát những chỉ thị của NH chuyển chứng từ. Tuy nhiên, nếu NH thực
hiện tài trợ nhập khẩu đối với người mua, hoặc tài trợ xuất khẩu đối với người
bán, họ cũng có thể gặp rủi ro liên đới khi có đối tác gian lận, lừa đảo hay cố
tình chây ì không thanh toán. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến an toàn và hiệu
quả trong TTQT.
1.2.2.3. Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remitance Payment)
1.2.2.3.1. Khái niệm:
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách
hàng yêu cầu NH phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người
hưởng lợi ở nước ngoài. NH chuyển tiền thông qua NH đại lý của mình ở
nước người hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ.
Phương thức thanh toán này có thể áp dụng để thanh toán tiền hàng
mậu dịch và các khoản tiền phi mậu dịch. Chuyển tiền để thanh toán tiền hàng
mậu dịch có thể được thực hiện trước lúc giao hàng (người mua ứng trước
cho người bán), ngay lúc giao hàng, hoặc sau khi giao hàng. Chuyển tiền
trong thanh toán phi mậu dịch được thực hiện theo yêu cầu của người chuyển
tiền.
Có hai phương tiện thanh toán của phương thức chuyển tiền:
Lập
lệnh
thanh
toán
(4)
Ghi
có
(1) Giao hàng và chứng từ
Nhà nhập khẩu
(Importer)
+ Hàng đã giao nhưng không nhận được tiền thanh toán vì người mua
mất khả năng thanh toán hoặc cố tình không thanh toán.
+ Nhận được tiền thanh toán không đúng thời hạn quy định trong hợp
đồng vì người mua gặp khó khăn về tài chính nên trì hoãn thanh toán.
* Đối với người mua:
Trường hợp người mua đã chuyển tiền ứng trước, họ có thể gặp rủi ro,
mất an toàn khi:
+ Người bán giao hàng không đúng quy định trong hợp đồng đã ký.
+ Người bán không giao hàng trong trường hợp họ bị phá sản, hoặc
không có hàng để giao, hoặc hàng hoá có xu hướng tăng thì họ sẽ bán cho
khách hàng khác với giá cao hơn.
* Đối với NH:
Trong phương thức thanh toán này, NH chỉ đóng vai trò trung gian
thanh toán và hưởng phí trung gian chuyển tiền. Vì vậy, nó chỉ được sử dụng
trong thanh toán tiền hàng khi các bên có độ tin cậy lớn. Tuy nhiên, nó được
sử dụng khá phổ biến trong thanh toán phi mậu dịch như chuyển tiền kiều hối
từ nước ngoài, thanh toán cước phí, hoa hồng…. Nó cũng chính là phương
thức hỗ trợ các phương thức TTQT khác.
1.2.4. Các biện pháp đảm bảo an toàn trong Thanh toán quốc tế:
Đề đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT, mỗi
THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1. Khái quát về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương:
Tiền thân là Cục quản lý Ngoại hối, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam (NHNT) được thành lập từ ngày 01.04.1963 với tên giao dịch quốc tế là
Bank for Foreign Trade of Vietnam, tên điện tín là Vietcombank (VCB). Năm
2008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp giấy phép hoạt động số 138/GP-
NHNN cho NHNT sau khi cổ phần hoá, chuyển đổi Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam từ Ngân hàng thương mại Nhà nước sang Ngân hàng thương mại cổ
phần.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, tên đầy đủ
bằng tiếng Anh là Joint Stock Commercial Bank For Foreign Trade Of
Vietnam, tên giao dịch là Vietcombank và tên viết tắt là VCB. NHNT có địa
chỉ trụ sở chính tại số 198 Trần Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; được
thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, có tư cách pháp nhân, có con dấu
riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
NHNT được Nhà nước xếp hàng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt,
là thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Châu Á,
thành viên của tổ chức thanh toán viễn thông tài chính liên NH toàn cầu
SWIFT, thành viên của hai tổ chức thẻ tín dụng quốc tế Mastercard và
Visacard, là tổ chức độc quyền phát hành thẻ Amex tại Việt Nam.
Trong 46 năm hoạt động, NHNT VN đã phát triển thành một NH đa
năng. Trong hệ thống NH Việt Nam, NHNT là NHTM phục vụ đối ngoại lâu
đời nhất, có uy tín trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh
doanh ngoại hối, bảo lãnh NH, các dịch vụ tài chính, NH quốc tế, là NH chủ
lực trong thực hiện chính sách tỷ giá của NHNN, thay mặt Chính phủ đàm
19
phán, tiếp nhận quản lý các khoản vốn vay nước ngoài và viện trợ của nước
ngoài.
NHNT được tổ chức theo mô hình tổng công ty đặc biệt, có đơn vị
Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Dư nợ tín dụng 39,678 50,831 61,044 67,743 97,532 125,816
Tốc độ tăng trưởng 28.1% 20.09% 10.97% +43.97% +29%
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo thường niên các năm 2003-2007 và báo
cáo tài chính năm 2008 của NHNT)
Đây cũng là một trong những mặt hoạt động có quan hệ hữu cơ với
hoạt động TTQT tại NHTM. Hoạt động TTQT không chỉ hỗ trợ cho hoạt
động tín dụng phát triển mà còn ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Nhìn chung,
21
hoạt động tín dụng của NHNT đã góp phần cùng ngành NH tích cực phục vụ
cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước rất nhiều.
2.1.3. Về lợi nhuận của NH:
Tổng lợi nhuận hợp nhất trước thuế là 3.352 tỷ đồng
1
. Nhìn chung, kết
quả hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống NHNT là khá ổn định và đạt hiệu
quả cao. Trong đó, hoạt động TTQT cũng góp phần tạo hiệu quả chung cho
hoạt động kinh doanh của NHNT. Ta có thể thấy hiệu quả hoạt động qua các
chỉ số ROA và ROE sau:
Biểu đồ 2.2: Chỉ số ROA của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam (2003-2008)
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2007 và báo cáo tài chính năm 2008
của NHNT.
Biểu đồ 2.3: Chỉ số ROE của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt Nam (2003-2008)
1
Tạp chí Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam sô 3/2009(188)
22
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2007 và báo cáo tài chính năm 2008
của NHNT.
Doanh số TTQT
của cả nước
40.017 57.561 68.521 80.010 95.210
111.52
4
Thị phần của
NHNT
31,21% 28,53% 30,65% 28,17% 37,64% 29%
Nguồn: Báo cáo thường niên NHNN và NHNT
Về hoạt động chuyển tiền, doanh số chuyển tiền của NHNT trong năm
2008 đạt hơn 22 tỷ USD. Chuyển tiền đến đạt doanh số 16 tỷ USD, tăng 2,1
tỷ USD so với năm trước; trong đó doanh số chuyển tiền đến cho đối tượng cá
nhân cũng tăng, nhờ kết quả của việc hợp tác với các công ty chuyển tiền và
NH đại lý ở nước ngoài. Chuyển tiền đi của tất cả các đối tác đạt 8,5 tỷ, tăng
1,5 tỷ USD so với 7 tỷ của năm 2007.
Khi mới thành lập, NHNT chỉ có khả năng cung cấp các dịch vụ TTQT
truyền thống như chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ. Cho đến nay, NH
đã nghiên cứu đề xuất và áp dụng một số sản phẩm thanh toán mới để phục vụ
cho nhu cầu đa dạng của khách hàng cũng như đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển lĩnh vực TTQT trên thế giới như Factoring, Forfaiting, Packing Credit…
Số lượng NH có quan hệ đại lý với NHNT VN đã ngày một tăng lên.
Tính đến năm 2008, NHNTđã có quan hệ đại lý với hơn 1400 NH tại hơn 85
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Điều đó chứng tỏ sự lớn mạnh không
ngừng, mở rộng hoạt động của NHNT ra ngoài phạm vi quốc gia.
24
Hoạt động TTQT đòi hỏi các cán bộ tác nghiệp phải có trình độ chuyên
môn cao, nhạy bén và cập nhật thông tin thường xuyên. Trải qua quá trình
vừa làm vừa đào tạo, NHNT đã xây dựng được đội ngũ cán bộ thanh toán có
trình độ chuyên môn cao, ngoại ngữ giỏi, giàu kinh nghiệm và sự nhạy bén
trong việc tiếp cận cái mới.