BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HUY HÙNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP LIÊN KẾT NHÀ TRƯỜNG VÀ
DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH
CÔNG NGHỆ MAY Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP
CHUYÊN NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, tháng 7 năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HUY HÙNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP LIÊN KẾT NHÀ TRƯỜNG VÀ
DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGÀNH
CÔNG NGHỆ MAY Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP
CHUYÊN NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN QUỐC LÂM
MỤC LỤC
1.1
1.1.1
1.1.2
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3
1.2.4
1.2.5
1.2.6
1.2.7
1.3
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngoài nước
Trong nước
Một số khái niệm cơ bản
Nhà trường
Doanh nghiệp
Liên kết
Trường trung cấp chuyên nghiệp
Đào tạo nghành công nghệ may
Quản lý và quản lý liên kết
Giải pháp và giải pháp quản lý liên kết
Một số vấn đề liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong
Một số mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
Một số mô hình liên kết nhà trường và doanh nghiệp trên thế giới
Một số mô hình liên kết nhà trường và doanh nghiệp ở Việt Nam
Kết luận chương 1
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Thực trạng hệ thống đào tạo ngành công nghệ may ở các
19
20
20
21
23
23
24
25
25
25
26
26
29
34
35
35
2.1.1
2.1.2
trường TCCN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Danh sách các trường TCCN có đào tạo ngành công nghệ may
Quy mô đào tạo ngành công nghệ may tại các trường TCCN
Kết quả nghiên cứu thực trạng
2.2.2.1 Thực trạng chung về liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
2.2.2.2 Thực trạng liên kết về tài chính và cơ sở vật chất
2.2.2.3 Thực trạng liên kết về xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình
37
38
38
40
44
đào tạo
2.2.2.4 Thực trạng liên kết về nhân sự
2.2.2.5 Thực trạng liên kết về quản lý đào tạo
2.2.2.6 Thực trạng liên kết về thông tin
2.3
Nhận định về sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong
46
49
51
51
đào tạo ngành công nghệ may
2.3.1
Những thuận lợi
2.3.2
Những hạn chế
2.3.3
Nguyên nhân của những hạn chế
58
58
59
59
đào tạo ngành công nghệ may
3.2.1
Nhóm giải pháp áp dụng cho cấp cơ sở
3.2.1.1 Giải pháp nâng cao nhận thức của nhà trường và doanh nghiệp
59
59
trong vấn đề liên kết đào tạo
3.2.1.2 Giải pháp liên kết xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình,
61
đổi mới phương pháp đào tạo ngành công nghệ may
3.2.1.3 Giải pháp liên kết nhằm tăng cường nguồn nhân – tài – vật lực
64
cho đào tạo ngành công nghệ may
3.2.1.4 Giải pháp liên kết tổ chức quá trình đào tạo ngành công nghệ may
3.2.1.5 Giải pháp liên kết phát triển công nghệ ngành may
3.2.1.6 Giải pháp liên kết về thông tin – dịch vụ
66
72
Trang
30
31
33
Bảng 2.1
trong doanh nghiệp
Danh sách các trường TCCN có đào tạo ngành công nghệ may
35
Bảng 2.2
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Quy mô đào tạo ngành công nghệ may tại các trường TCCN
37
Bảng 2.3
Bảng 2.4
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Thực trạng liên kết của nhà trường và doanh nghiệp
Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý nhà
38
39
Viết tắt
AAAS
Viết đầy đủ
Hiệp hội vì sự phát triển khoa học Mỹ
American Association for the Advancement of
BGDĐT
CBGV
CHLB
CNH - HĐH
DNSX
DNVVN
GD&ĐT
KH - CN
TCCN
THPT
TP
TP HCM
UNESCO
Science
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Cán bộ giáo viên
Cộng hòa liên bang
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Doanh nghiệp sản xuất
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Giáo dục và Đào tạo
Theo điều tra xã hội học, nguồn nhân lực của nước ta hiện nay đã cải
thiện hơn so với nhiều năm trước đây. Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nhân
lực vốn được xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền kinh
tế, của phát triển xã hội thì vẫn còn nhiều hạn chế hay nói đúng hơn là vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập.
Chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 579/QĐ-TTg
ngày 19/04/2011, phê duyệt “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam thời kỳ 2011 – 2020”, với mục tiêu đưa nhân lực Việt Nam trở thành
nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập
quốc tế và ổn định xã hội. Thủ tướng cũng chỉ đạo đến năm 2020 đạt được
một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nguồn nhân lực là: Tỷ lệ lao động qua đào
tạo là 70%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 55%. Thông qua chiến lược
này, Chính phủ kỳ vọng người lao động có đủ trình độ, có khả năng thích
ứng với môi trường làm việc mang tính cạnh tranh cao. Cạnh tranh với lao
2
động trong nước và cạnh tranh với lao động nước ngoài, khi tham gia vào
quá trình xuất khẩu lao động hay khi lao động nước ngoài trực tiếp vào làm
việc tại Việt Nam. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành cần phải chú trọng đến
các giải pháp thiết thực để phát triển nhân lực, đào tạo nhân lực phải gắn với
nhu cầu xã hội, nhu cầu của thị trường lao động; sử dụng, đánh giá và đãi
ngộ nhân lực phải dựa vào năng lực và kết quả, hiệu quả công việc; khắc
phục tâm lý và hiện tượng quá coi trọng, đề cao “bằng cấp” một cách hình
thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực…
Thủ tướng cũng giao các bộ, ngành, các địa phương và đơn vị, tổ chức
xây dựng quy hoạch, đề án phát triển nhân lực thuộc phạm vi quản lý; lồng
ghép các mục tiêu, quan điểm và giải pháp phát triển của chiến lược vào quy
hoạch, chương trình và đề án phát triển nhân lực của ngành, địa phương và
trên thế giới thì vấn đề nhà trường liên kết doanh nghiệp trong đào tạo nguồn
nhân lực có chất lượng cao, nhằm đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trên thị
trường trong và ngoài nước đồng thời giúp cho ngành Dệt - May trở thành
ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng.
Trong quá trình hoạt động, các trường TCCN ở thành phố Hồ Chí
Minh đã không ngừng nâng cao quy mô và chất lượng, nâng cao hiệu quả
đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt - May của thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên chất lượng nhân lực ngành Dệt – May vẫn chưa được như mong
muốn do mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp của các trường
TCCN trong thời gian qua vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập. Vì vậy, việc
nghiên cứu hoàn thiện phương thức kết hợp đào tạo, xây dựng các giải pháp
phù hợp, khả thi để tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
trong thực tiễn của các trường TCCN ở thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề rất
cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường trong giai
đoạn hiện nay.
4
Xuất phát từ thực tế trên và từ những điều kiện công tác và nghiên
cứu của bản thân, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Một số giải pháp liên
kết nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành công nghệ may ở
các trường trung cấp chuyên nghiệp thành phố Hồ Chí Minh”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp trong đào tạo ngành công nghệ may.
3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý hoạt động liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
Phương pháp phỏng vấn, phương pháp an-két để phục vụ cho nhiệm
vụ nghiên cứu thực tiễn về các vấn đề có liên quan.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu thập đảm bảo
độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu.
7. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
7.1. Về mặt lý luận
Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý việc
liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành công nghệ
may.
7.2. Về mặt thực tiễn
Phân tích thực trạng của các trường TCCN trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh, đề xuất các giải pháp quản lý giúp tăng cường sự liên kết giữa nhà
trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành công nghệ may.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương như sau:
6
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Các giải pháp liên kết nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo
ngành công nghệ may
7
CHƯƠNG 1
cũng tích cực hỗ trợ trong việc huấn luyện kỹ thuật, nâng cao trình độ văn
hóa cho người lao động... Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho những công nghệ có
thể tăng hiệu quả đào tạo ở các trường chính thống, đào tạo trong công
nghiệp và tại nhà; tăng thêm đầu tư của Nhà nước cho các soạn thảo chương
trình nhằm trang bị những kỹ năng cần thiết về toán, khoa học và kỹ thuật
trong các trường phổ thông, đại học, sau đại học và dạy nghề; thúc đẩy
chuyển giao kinh nghiệm đào tạo trong các trường quốc phòng sang các
trường dân sự.
Tại Italia, hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp diễn ra
chủ yếu dưới 2 hình thức: Thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ;
Các doanh nghiệp tuyển mộ các nhà khoa học của các trường đại học vào
làm việc tại các doanh nghiệp theo thời hạn.
Từ những năm 1960, Chính phủ Italia đã hỗ trợ các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (DNVVN) thực hiện các hợp đồng nghiên cứu hỗ trợ thành lập các cơ
quan chuyển giao công nghệ. Năm 1977, Chính phủ Italia đã đưa ra một loạt
biện pháp mới nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các DNVVN, tập
trung vào việc khuyến khích các DNVVN tuyển mộ các nhà khoa học có
trình độ tiến sĩ và những người được giải thưởng vào thực hiện các hoạt
động nghiên cứu trong doanh nghiệp, với thời hạn làm việc tối thiểu là 2
năm và mức lương lên tới hàng chục ngàn USD/năm. Gần đây, Chính phủ
Italia có một số cải cách giao nhiều quyền tự chủ để các cơ quan nghiên cứu
và các trường đại học được độc lập hơn trên phương diện quy chế, tổ chức và
tài trợ vốn, từ đó tạo động lực khuyến khích các trường đại học đóng vai trò
chủ động hơn trong chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp. Tại Italia,
có rất nhiều cơ quan địa phương và khu vực (bao gồm các phòng thương mại
9
và công nghiệp cũng như các hội liên hiệp ngành) có thể hỗ trợ chuyển giao
các ngành. Các trường đại học đa số có văn phòng liên lạc nghiên cứu. Mục
đích của các văn phòng liên lạc nghiên cứu này là hỗ trợ chuyển giao công
nghệ giữa các viện và ngành. Các văn phòng đề xuất đàm phán về các điều
khoản tài chính và điều khoản khác, các điều kiện hợp đồng nghiên cứu, tư
vấn và các dịch vụ khác. Các trường đại học cũng có lợi từ hoạt động của các
văn phòng liên lạc nghiên cứu thông qua tư vấn về việc thương mại hóa
quyền sở hữu trí tuệ và thẩm định chuyên môn.
Trong những năm 1995-1997 hơn một nửa có sở giáo dục đại học tại
Anh có công ty (sở hữu toàn bộ hay một phần) để khai thác các kết quả
nghiên cứu. Nhiều trường đại học đã tham gia vào các “công viên khoa học”
với nhiều mục tiêu như: tạo doanh thu, nắm bắt nhiều hơn quyền sở hữu trí
tuệ bị rò rỉ từ các trường đại học, thu hút các công ty là khách hàng tiềm
năng của mình đóng vai trò tái sinh kinh tế địa phương. Tuy nhiên, do thiếu
sự tham gia thực sự của các trường đại học trong chuyển giao công nghệ,
nhiều “công viên khoa học” không có khả năng duy trì các cơ sở hỗ trợ tại
chỗ nhằm kích hoạt hay hỗ trợ phát triển công nghệ.
Tại Trung Quốc, để tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu chuyển giao
công nghệ phù hợp nguyên tắc thị trường, đồng thời với việc cắt giảm bao
cấp tài chính từ ngân sách cho các cơ quan nghiên cứu, Trung Quốc khuyến
khích thành lập các quỹ đầu tư với vốn góp từ 3 nguồn: 10% từ các trường
đại học; 30% từ các nhà nghiên cứu, nhà giáo, trong đó 2/3 đóng góp bằng tri
thức công nghệ và 1/3 từ đóng góp đầu tư của các cá nhân; 60% từ ngân sách
nhà nước và tài trợ của các công ty. Khi dự án thành công, lợi nhuận được
chia đều theo tỷ lệ góp vốn. Cho đến nay, để tài trợ cho các nghiên cứu cơ
bản, Trung Quốc đã có quỹ khoa học tự nhiên quốc gia với số vốn hơn 600
triệu nhân dân tệ. Ngoài ra, còn có hơn 50 quỹ khoa học khác với tổng số
vốn hơn 250 triệu nhân dân tệ, do các bộ và chính quyền địa phương thành
11
bàn tỉnh Nghệ An, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
của hoạt động này.
Luận án tiến sỹ của tác giả Trần Khắc Hoàn đã phân tích và đưa ra vấn
đề ”Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất” là
một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. Song, do hướng
nghiên cứu của đề tài nên tác giả phân tích các cơ sở khoa học, đề cập đến
các cách tiến hành tăng cường quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản
xuất, đề cập phương thức kết hợp đào tạo tổng quát ở Việt nam, và đưa ra
các giải pháp đồng bộ để thực hiện kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX
Do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giải pháp nâng cao chất lượng
đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội, nên không đi sâu vào
giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợp đào tạo.
Nghiên cứu “Gắn đào tạo sử dụng, nhà trường với doanh nghiêp” của
tiến sỹ Trần Anh Tài, năm 2009 đã nêu lên thực trạng mối quan hệ giữa nhà
trường với doanh nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp gắn kết đào tạo với
sử dụng, gắn nhà trường với xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả phân
tích về mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các trường đại học, chưa đề cập
đến các trường TCCN.
Nghiên cứu “Phát triển mô hình liên kết bền vững giữa cơ sở đạo tạo
và các doanh nghiệp dệt may trong xu hướng hội nhập WTO” của tác giả
Nguyễn Thị Bích Thu, trường Đại học Đà Nẵng đã đề xuất một số giải pháp
phát triển mô hình liên kết bền vững giữa các cơ sở đào tạo và các doanh
nghiệp dệt may. Tuy nhiên các giải pháp chưa được phân tích sâu về nội
dung và cách thức thực hiện.
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề chưa có tác giả nào
nghiên cứu trực tiếp.
13
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện các
hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ bằng phương
pháp quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người, trên cơ sở tối
đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở
hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Cũng theo Luật Doanh nghiệp 2005: Kinh doanh là việc thực hiện liên
tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích
sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một
số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu
lợi nhuận.
Tại Việt Nam có 05 loại hình doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp tư nhân;
- Công ty cổ phần;
- Công ty trách nhiệm hữu hạn;
- Công ty hợp danh;
- Hợp tác xã.
1.2.3 Liên kết
Theo tự điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học). Liên kết là gắn chặt với
nhau.
Trong khuôn khổ luận văn này, để thuận tiện trong việc diễn đạt, khái
niệm liên kết được hiểu là liên kết đào tạo.
Liên kết đào tạo là sự hợp tác, phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các cơ
sở sản xuất để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trình
đào tạo nhằm góp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước
đồng thời mang lại lợi ích cho mỗi bên.
15
- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và
bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
1.2.5. Đào tạo ngành công nghệ may
Chương trình đào tạo TCCN ngành công nghệ may được thiết kế để
đào tạo kỹ thuật viên trình độ TCCN ngành công nghệ may, có trình độ đạo
đức và lương tâm nghề nghiệp, có thái độ hợp tác với đồng nghiệp, có sức
khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đồng
thời có khả năng học tập vươn lên, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội.
Chương trình trang bị cho người học kiến thức và kỹ năng kỹ thuật
trong việc phân tích và thiết kế sản phẩm may mặc, tính chất cơ lý của các
loại vật liệu, phối hợp màu sắc cho sản phẩm. Chương trình khóa học bao
gồm những nội dung cơ bản về thiết kế và cắt may các loại trang phục từ đơn
giản đến phức tạp, quần áo sơ mi nam, nữ và áo khoác ngoài, đọc và lập bản
vẽ chuyên ngành, kết cấu sản phẩm, quy cách tiêu chuẩn đường may và
phương pháp lắp ráp sản phẩm, sử dụng các loại thiết bị, cữ gá dùng trong
ngành may, kiểm tra phân loại nguyên liệu, phụ liệu, chuẩn bị sản xuất, giác
sơ đồ, tính toán định mức nguyên vật liệu, phụ liệu và kiểm tra chất lượng
sản phẩm. Chương trình khóa học cũng bao gồm các nội dung về chính trị,
pháp luật, ngoại ngữ, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng, công nghệ
thông tin, kỹ năng giao tiếp.
17
Sau khi tốt nghiệp, người học trở thành kỹ thuật viên ngành công nghệ