Một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hóa - Pdf 31

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước Việt Nam coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
Giáo dục được các quốc gia trên thế giới coi như chìa khoá để mở cửa
vào tương lai. Trong báo cáo "Học tập của cải nội sinh" của UNESCO nêu lên
các nguyên tắc để xác định nội dung của Giáo dục và đào tạo, đã chỉ rõ 4 trụ
cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học để sống chung với nhau, học để
tự khẳng định mình.
Để khẳng định vai trò của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới, ngay
từ Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam (tháng 12/1996) đã nêu “Giáo dục là quốc sách hàng đầu,
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”. Bên cạnh đó, về định hướng
chiến lược phát triển GD&ĐT, Đảng ta cũng đã chỉ rõ những thành tựu đạt
được cùng với sự yếu kém cả về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng, hiệu
quả của GD&ĐT mà một trong những nguyên nhân của sự yếu kém đó là công
tác quản lý thiếu hiệu quả. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Hiện nay sự nghiệp GD&ĐT
đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phát triển quy mô GD&ĐT,
vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong khi khả năng và điều
kiện đáp ứng yêu cầu còn hạn chế. Đó là mâu thuẫn trong quá tình phát triển,
những thiếu sót chủ quan, nhất là yếu kém về quản lý đã làm cho mâu thuẫn
đó ngày càng thêm gay gắt”. Để khắc phục yếu kém này Nghị quyết cũng đã
chỉ rõ cần phải làm: “Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ, sắp xếp chấn
chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy GD&ĐT”.[3]
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng xác định tiếp tục đổi mới công tác
cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản
lý các cấp: Vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối




3

Giáo dục THCS là một cấp học quan trọng của hệ thống giáo dục quốc
dân, là cầu nối của giáo dục tiểu học và giáo dục trung học phổ thông, trung
học chuyên nghiệp. Cấp học này nhằm giúp học sinh hình thành nhân cách nền
tảng của con người mới xã hội chủ nghĩa, có học vấn phổ thông cơ sở, những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật về một số nghề nghiệp có thể đi vào cuộc sống
lao động, học nghề hoặc tiếp tục học lên trung học phổ thông.
Giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng ở tỉnh Thanh Hóa trong
những năm gần đây có nhiều thành tựu trên tất cả các mặt. Đội ngũ CBQL nhà
trường, đặc biệt là CBQL trường THCS đã có những bước tiến bộ, tuy nhiên so
với yêu cầu mới cần phải có một đội ngũ CBQL trường THCS có đủ phẩm
chất chính trị, trình độ nghiệp vụ, năng lực quản lý ở một tầm cao mới, đảm
đương được nhiệm vụ được giao và những mục tiêu đặt ra. Chính vì vậy việc
bồi dưỡng nâng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ CBQL trường THCS trong giai
đoạn hiện nay là rất cần thiết.
Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hóa được thành lập theo
Quyết định số: 1847/QĐ-CT ngày 06/6/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh
Hóa với nhiệm vụ chính là: Bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ quản lý, năng lực
quản lý cho đội ngũ CBQL trường Mầm non, Tiểu học và THCS. Tuy nhiên,
trong thời gian qua công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD cho đội ngũ CBQL
trường Mầm non, Tiểu học và THCS đang thực hiện theo chương trình của Bộ
GD&ĐT ban hành tại quyết định số 3481/GD-ĐT năm 1997; thực chất chương
trình này rất nặng về lý thuyết, phần thực hành nghiệp vụ quản lý, tình huống
quản lý trường học tại TT GDTX tỉnh còn hạn chế, không phát triển năng lực
quản lý trường học trong thực tiễn, các kỹ năng quản lý nhà trường ít được chú
trọng. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề
tài “Một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo
dục tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hóa”.

tại TTGDTX tỉnh Thanh Hóa.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết


5

Phân tích- tổng hợp, phân loại- hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên
quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, lấy ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm giáo
dục về quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD cho đội ngũ CBQL các
trường THCS tại TTGDTX tỉnh Thanh Hóa nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn của
đề tài và tổ chức thăm dò về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp quản lý
được đề xuất.
6.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được.
7. Đóng góp mới của luận văn
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận vể quản lý công tác bồi
dưỡng nghiệp vụ QLGD tại TTGDTX cấp Tỉnh; Làm rõ thực trạng quản lý
công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD tại TTGDTX tỉnh Thanh Hóa; Chỉ ra
một số biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi
dưỡng nghiệp vụ QLGD tại TTGDTX tỉnh Thanh hóa.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD cho
đội ngũ CBQL các trường THCS tại TTGDTX tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ
QLGD cho đội ngũ CBQL các trường THCS tại TT GDTX tỉnh Thanh Hóa.

17/10/1986 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa mà tiền thân là Trường Bồi
dưỡng giáo viên.
Năm 1993, thực hiện Nghị quyết số 109/ HĐBT (Nay là Chính phủ)
ngày 12/04/1991 về việc "sắp xếp tổ chức biên chế hành chính sự nghiệp" của
Hội đồng Bộ trưởng ngày 12/04/1991 và chỉ thị số 225/CT ngày 01/08/1991 về


8

việc "tổ chức sắp xếp lại mạng lưới các trường trong hệ thống giáo dục quốc
dân", Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thanh Hóa trở thành Khoa cán bộ quản lí
giáo dục của trường Cao đẳng sư phạm Thanh Hóa.
Năm 1997, Trường Đại học Hồng Đức được thành lập theo quyết định
số 797/TTg ngày 24/09/1997 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sáp nhập các
trường Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế của
tỉnh Thanh Hóa. Ban giám hiệu trường ra quyết định thành lập Trung tâm cán
bộ quản lý với 15 cán bộ giáo viên, chịu sự quản lý chỉ đạo trực tiếp của Ban
Giám hiệu nhà trường.
Tháng 6 năm 2003, do nhu cầu cần có một Trung tâm Giáo dục thường
xuyên cấp tỉnh nhằm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trong thời kì công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa các hình thức
và loại hình đào tạo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, Trung tâm Giáo dục
thường xuyên cấp tỉnh Thanh Hóa ra đời trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị: Trung
tâm bồi dưỡng cán bộ quản lý (Đại học Hồng Đức), Trung tâm Giáo dục thường
xuyên (Đại học Hồng Đức) và Trung tâm Bồi dưỡng Giáo dục (Sở Giáo dục và đào
tạo Thanh Hóa), thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quyết định số 1847/QĐ-CT
của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc thành lập Trung tâm Giáo
dục thường xuyên tỉnh. Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa giao nhiệm
vụ bồi dưỡng cán bộ quản lý trường Mầm Non, Tiểu học và Trung học cơ sở cho
Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh.

Prederiek Winslow Tay lor (1856 - 1915) tác giả của:"The sienthife
Principles of management" (1991) - là một trong những người đầu tiên khởi
công việc hình thành lý luận quản lý hiện đại. Đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản để
quản lý một cách khoa học:
+ Nghiên cứu khoa học mỗi yếu tố của một công việc được xác định
phương pháp tốt nhất để hoàn thành;
+ Tuyển chọn công nhân cẩn trọng, huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ
theo các phương pháp đã chọn;
+ Hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân;


10

+ Phân công công việc và trách nhiệm rõ ràng.
- Tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ coi ý
thức và năng lực chính trị của nhân dân phải là sản phẩm của hoạt động quản
lý, tham gia quản lý nhà nước và quản lý xã hội của nhân dân. Người nói:
“Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân
dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia vào công việc
Nhà nước” mà ngày nay thể hiện tư tưởng đó là khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra”. Về lựa chọn cán bộ lãnh đạo, Người cho rằng: “Người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được
nhiệm vụ vẻ vang. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách
mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không đào tạo
nhân dân được”.
Tư tưởng đạo đức của người cán bộ là lời nói phải đi đôi với việc làm,
nêu gương làm việc tốt, đấu tranh và khắc phục thói hư tật xấu. “Quần chúng
chỉ quý trọng những người có tư cách đạo đức, muốn hướng dẫn nhân dân
mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.
Tu dưỡng, rèn luyện trong sự nghiệp phục vụ nhân dân là cơ sở quan

đời sống xã hội. Do đối tượng quản lí phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào từng
lĩnh vực hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những
cách hiểu khác nhau về quản lí.
Theo từ điển tiếng Việt: “Quản lí là trông coi và giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định”. [15]
Nhiều tác giả quan niệm: Quản lí là sự tác động vừa có tính khoa học,
vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt được các mục tiêu.
Khi nói về vai trò của quản lí trong xã hội, O.V. Kozlova và I.N.
Kuznetsov định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có mục đích đến những tập thể
con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình sản xuất”.
[8].
Theo lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, QL xã hội một cách khoa học là
sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống


12

khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật
và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và
phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra. [14].
Theo Harold Koonl, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”
đã được dịch ra tiếng Việt của nhà xuất bản KH - KT Hà Nội 1994: “Quản lý
là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm
đạt được các mục đích của nhóm”. [6].
Với cách tiếp cận ấy, Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác
động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người
lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu
dự kiến”. [12].
Theo giáo trình “Tâm lý học trong quản lý Nhà nước” (1993) tác giả
Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người

hiện mục tiêu đó trong khoảng thời gian nhất định của hệ thống quản lý.
Xác định mục tiêu là khâu đầu tiên của chức năng kế hoạch, vì mục tiêu
là đích cần đạt được mà mọi hoạt động của tổ chức phải hướng tới. Các nhà
quản lý có thể xác định một cách tốt nhất số lượng các mục tiêu xuất phát từ
bản chất công việc của hệ thống. Như vậy, mục đích của kế hoạch là hướng
mọi hoạt động của tổ chức vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt mục tiêu có
hiệu quả nhất và cho phép nhà quản lý kiểm soạt được quả trình thực hiện các
nhiệm vụ.
Thực hiện chức năng kế hoạch sẽ tạo ra tầm nhìn chiến lước cho các nhà
quản lý, giúp họ lựa chọn những biện pháp đúng đắn phù hợp với nguồn lực
của hệ thống sao cho hiệu quả nhất. Chức năng kế hoạch cũng là căn cứ để
hình thành và thực hiện các chức năng: tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Chức năng tổ chức
Chức năng tổ chức là xác định một cơ cấu, sắp xếp nguồn nhân lực theo
những hình thức nhất định để thực hiện tốt mục tiêu đề ra. Cơ cấu nêu rõ về
vai trò, nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong hệ thống với sự tham gia
thực hiện của những người làm việc với nhau phải thực hiện vai trò và chức


14

năng, nhiệm vụ đó. Chức năng tổ chức đảm bảo cho sự thành công hay thất bại
của hệ thống quản lý.
- Tổ chức làm cho các chức năng khác thực hiện có hiệu quả.
- Từ khối lượng công việc của hệ thống QL mà sắp xếp nhân lực hợp lý.
- Tạo điều kiện cho hoạt động tự giác, sáng tạo của các thành viên trong
tổ chức, tạo nên sự đoàn kết, phối hợp làm việc của mọi người trong hệ QL.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm tra, đánh giá.
Một tổ chức được coi là hiệu quả khi nó được áp dụng để thực hiện các
mục tiêu của hệ thống QL với chi phí cho hoạt động của hệ thống là thấp nhất.

các vấn đề do thực tiễn quản lý đặt ra. Sự quản lý có hiệu quả chỉ đạt được trên
cơ sở của sự vận dụng sáng tạo các lý thuyết quản lý vào những tình huống cụ
thể trong mỗi tổ chức.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là sự điều hành, điều chỉnh và
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường
xuyên trong xã hội, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho
mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo
dục được hiểu là sự điều hành, điều chỉnh hoạt động của toàn bộ hệ thống giáo
dục quốc dân được thực hiện bởi các cơ quan QLGD của Nhà nước nhằm thực
hiện mục tiêu năng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và hoàn
thiện nhân cách công dân.
Hệ thống giáo dục, mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng
xã hội, do vậy, quản lý giáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế xã hội
nhằm thực hiện đồng bộ, hài hoà sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao
động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Nguyễn Ngọc Quang, vấn đề cốt lõi của quản lý nhà trường, quản
lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ chức được các hoạt động dạy
học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục; tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của


16

Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của
đất nước.[13]
Có thể đưa ra khái niệm quản lý giáo dục theo 2 cấp độ: Quản lý hệ
thống giáo dục và quản lý trường học
Ở cấp độ quản lý hệ thống giáo dục có thể hiểu: Quản lý giáo dục là

nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn
nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp.
Như vậy, bồi dưỡng là quá trình làm biến đổi nhận thức, hành vi của con
người thông qua việc học tập một cách có hệ thống, có mục đích nhằm lĩnh hội
tri thức, kỹ năng, nâng cao năng lực cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của
tổ chức, xã hội.
1.2.4. Nghiệp vụ quản lý giáo dục
Mọi quá trình QLGD đều phải trả lời được ba câu hỏi:
- Quản lý nhằm đạt được mục tiêu gì?
- Nó phải tác động vào những yếu tố nào?
- Nó tác động bằng những biện pháp nào để đạt được mục tiêu đặt ra?
Để trả lời được ba câu hỏi đó, ngoài những kiến thức khoa học về QL
và QLGD, người CBQL còn phải nắm vững các vấn đề về phương pháp và kỹ
thuật thực hiện các chức năng QL, việc cải tiến và áp dụng những thành tựu
mới của khoa học QL, các phương pháp hiện đại để hoàn chỉnh và nâng cao
hiệu quả của QL…(quy trình, kỹ thuật lập kế hoạch, quy trình xác định mục
tiêu và ra quyết định, phương pháp thu thập, xử lý, bảo quản, lưu trữ thông
tin, quy trình lưu chuyển thông tin quản lý, công tác cán bộ, quy trình thực
hiện kiểm tra, tổng kết, phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý...).
Như vậy, có thể hiểu nghiệp vụ QLGD là công việc chuyên môn của
nghề quản lý, bao gồm các kiến thức và kỹ năng về: Công tác kế hoạch hóa,
công tác tổ chức thực hiện kế hoạch, công tác chỉ đạo, công tác kiểm tra,
công tác thông tin trong quá trình quản lý giáo dục.


18

1.2.5. Quản lý công tác bồi dưỡng
Quản lý công tác bồi dưỡng là hệ thống tác động có hướng đích của chủ
thể quản lý các cấp đến các thành tố của công tác bồi dưỡng, từ đó công tác

+ Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,...
- Điều tra nhu cầu người học trên địa bàn, xác định nội dung học tập,
điều chỉnh chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.
- Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển giáo dục thường xuyên.
- Tổ chức liên kết đào tạo.
Riêng nhiệm vụ bồi dưỡng CBQL hiện nay trên toàn quốc, chỉ có TT
GDTX tỉnh Thanh Hóa và TT GDTX tỉnh Thái Nguyên là được UBND tỉnh và
Sở GD&ĐT giao nhiệm vụ: Bồi dưỡng CBQL.
1.3.2. Mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức công tác
bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD tại Trung tâm GDTX cấp Tỉnh
1.3.2.1. Mục đích của công tác bồi dưỡng
Bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD nhằm giúp cho đội ngũ CBQL phát triển và
trang bị thêm những năng lực cần thiết, phù hợp để thực hiện tốt các yêu cầu
hoạt động nghề nghiệp thông qua việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cơ bản về
quản lý trường học, nâng cao năng lực về lãnh đạo và quản lý nhà trường trong
môi trường có nhiều thay đổi, biết gắn tầm nhìn với hành động, phát huy
những giá trị của tổ chức và xã hội theo định hướng đổi mới căn bản và toàn
diện GD&ĐT, nâng cao chất lượng GD&ĐT phục vụ công cuộc đổi mới phát
triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD bao gồm kiến thức, kỹ năng
cần thiết để thực hiện các công việc quản lý nhân sự, quản lý tài chính, tài sản,
quản lý hoạt động dạy học hay đào tạo, quản lý công tác kiểm tra đánh giá…
giúp người học có được các kiến thức, kỹ năng, thái độ tương ứng với yêu cầu
thực hiện công việc đó. Mọi kiến thức được trang bị trong chương trình bồi
dưỡng đều liên quan đến khả năng thực hiện một công việc chuyên môn cụ thể,


20


- Quản lý tài chính và tài sản nhà trường


21

- Kỹ năng ứng xử và giao tiếp
- Xử lý thông tin và năng lực tư duy…
1.3.2.3. Phương pháp bồi dưỡng
Ngoài các phương pháp dạy học truyền thống (nhóm phương pháp trực
quan, dùng lời, thực hành) trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD cần hết
sức coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho người học :
hướng dẫn họ cách nhận diện và phân tích vấn đề để tìm cách giải quyết phù
hợp với thực tiễn luôn thay đổi.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định trong dạy học các chuyên đề bồi dưỡng
về QLGD việc sưu tầm, thiết kế các tính huống học tập là rất cần thiết và dạy
học thông qua giải quyết tính huống rất hiệu quả.
- Nội dung lý thuyết nên trình bày cô đọng và hướng dẫn học tập qua
việc trả lời các câu hỏi mấu chốt để người học nắm được các kiến thức cốt lõi.
- Với nội dung phát triển kỹ năng: tăng cường thảo luận, làm bài tập
thực hành, giải quyết tình huống, đóng vai, nghiên cứu trường hợp… Xây
dựng các mô hình, quy trình hay hướng dẫn các thao tác cụ thể để người học
tìm được sự liên hệ giữa kiến thức với việc thực hiện, vận dụng linh hoạt kiến
thức vào giải quyết vấn đề nêu ra phù hợp với bối cảnh, nhờ đó có được các kỹ
năng cần thiết.
- Thực hiện dạy học tích cực để học viên học tập chủ động và học qua
trải nghiệm thực tế. Trong thực tế khi giảng dạy, người học quan tâm nhiều
đến việc tổ chức cho họ thảo luận, trao đổi về những thuận lợi, khó khăn và
thực trạng quản lý ở cơ sở; xác định những công việc cần làm và cách làm
trong thực hiện quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Sau trao đổi, học viên cho rằng
vai trò của giảng viên tổng hợp, khái quát, hệ thống lại những vấn đề cốt lõi từ

công việc”, yêu cầu giáo viên, CBVC trình bày lại danh mục kiến thức / kỹ
năng chính được cung cấp trong khoá học hoặc phỏng vấn sâu“Tác động của
khoá học đến hiệu quả công tác giáo dục”. Có thể kiểm tra bằng hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm khách quan sau mỗi module của quá trình học tập. Cho học
viên làm bài tập tình huống hay báo cáo thu hoạch dưới dạng đề án vận dụng


23

vào hoạt động cụ thể trong quản lý trường học/ cơ sở giáo dục của mình. Kết
hợp tự kiểm tra, đánh giá với kiểm tra, đánh giá của giảng viên và cơ quan
quản lý trực tiếp (Sở Giáo dục và Đào tạo).

Tiêu chí đánh
giá

Đánh giá
trước bồi
dưỡng

Kiểm tra sau
bồi dưỡng

Tổ chức bồi
dưỡng

Tác động đến
công việc

Đánh giá sau

trường, kỹ năng quản lý và chỉ đạo chuyên môn, kỹ năng và chất lượng quản
lý tài chính, tài sản công,.. của đội ngũ CBQL các trường THCS trong tỉnh và
những phân tích sư phạm về trạng thái đó.
- Xác định nhu cầu bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD, tôn trọng nhu cầu, lợi
ích và khả năng của đội ngũ CBQL các trường THCS, nhiệm vụ và các mục
tiêu của công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD ở TT GDTX cấp Tỉnh
- Xây dựng hệ thống biện pháp tối ưu để thực hiện mục tiêu bồi dưỡng
đã xây dựng, không xác lập chương trình quá xa rời công việc quản lý.
- Lập chương trình hoạt động cho công tác bồi dưỡng nghiệp vụ QLGD
cho đội ngũ CBQL các trường THCS tại TT GDTX cấp Tỉnh; coi trọng công
việc tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm ở các trường trong và ngoài tỉnh
trong khóa học
- Thông qua tập thể sư phạm, tạo được sự thống nhất và trình cấp trên.
- Điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch bồi dưỡng như:
+ Sát mục tiêu bồi dưỡng
+ Sát đối tượng bồi dưỡng
+ Sát nhu cầu bồi dưỡng
+ Sát khả năng bồi dưỡng
1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng


25

Trong chu trình quản lý đây chính là giai đoạn thực hiện hóa ý tưởng đã
được kế hoạch hóa. Chính là sự sắp đặt một cách khoa học những con người,
những công việc một cách hợp lý để mỗi người đều thấy hào hứng để công
việc diễn ra trôi trảy, sự phối hợp các tác động thành phần tạo ra tác động tích
hợp, hiệu quả cao. Như vậy tổ chức chính là nhân tố sinh thành ra hệ toàn vẹn
và tạo ra cái gọi là hiệu ứng tổ chức. Trong công tác này người quản lý của
các TT GDTX cấp Tỉnh cần phải thực hiện được các hoạt động sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status