học thuyết về hình thái kinh tế xã hội và việc nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam - Pdf 31

HỌC THUYẾT VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VIỆC NHẬN
THỨC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
I. Học thuyết về Hình thái kinh tế - xã hội – Nền tảng lý luận của chủ
nghĩa duy vật lịch sử
1. Những quan điểm xuất phát của Mác – Ăng ghen khi phân tích đời
sống xã hội
1.1. Các quan điểm trước Mác khi bàn về xã hội
Trước khi có chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duy tâm đã giữ vị trí thống trị
trong việc giải thích lịch sử. Không những các nhà triết học duy tâm mà ngay cả
những nhà tư tưởng tiên tiến trước Mác cũng đứng trên lập trường duy tâm để
giải thích các hiện tượng lịch sử xã hội. Người ta xuất phát từ một sự thật là
trong giới tự nhiên, thì lực lượng tự nhiên hoạt động tự động, không có ý thức;
còn trong xã hội, nhân tế hoạt động là con người có lý tính, có ý thức và ý trí.
Căn cứ vào sự thật ấy người ta đi đến kết luận sai lầm rằng: Trong giới tự nhiên,
thì tính quy luật, tính tất nhiên thống trị. Sự thay đổi của ngày đêm, sự thay đổi
của bốn mùa, sự biến hóa của khí hậu và những hiện tượng không phụ thuộc vào
ý và chí và ý thức của người ta, còn những sự kiện lịch sử thì do hoạt động tự
giác và ý chí của người ta, trước hết là của những nhân vật lịch sử, những lãnh
tụ, anh hùng quyết định ; ý chí của người ta có thể thay đổi tiến trình lịch sử.
Chính vì vậy, đáng lẽ phải lấy sự phát triển của các điều kiện vật chất của
xã hội để giải thích lịch sự, động lực lịch sử, bản chất của con người; giải thích
tự nhiên xã hội, quân điểm chính trị, chế độ chính trị... người ta lại đi từ ý thức
con người, từ những tư tưởng lý luận về chính trị, về triết học, pháp luật... để
giải thích toàn bộ lịch sử xã hội. Nguyên nhân giải thích của sự duy tâm về lịch
sử chính là ở chỗ các nhà triết học trước kia đã coi ý thức xã hội để ra và quyết
dịnh tồn tại xã hội.
Quan điểm này có những thiếu sót căn bản như sau: Không vạch ra được
bản chất của các hiện tượng xã hội, nguyên nhân vật chất của những hiện tường
ấy. Không tìm ra những quy luật phổ biến chi phối sự vận động và phát triển của
xã hội. Không thấy vai trò quyết định của quân chúng nhân dân trong lịch sử.
1.2. Quan điểm xuất phát của Mác – Ăng ghen:

- Nhu cầu của con người được hình thành một cách khách quan, có nhiều
thang bậc, mà trước hết là nhu cầu sống (Mác nói: “Muốn sống được thì trước
hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa”), nhu
cầu giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng, nhu cầu phát triển tâm hồn, trí tuệ. Hơn nữa
đây còn là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử à ngày nay
cũng như hàng nghìn năm về trước), người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng
giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống của con người.
- Kết quả hoạt động là nhằm thỏa mãn nhu cầu, đồng thời làm nảy sinh
nhu cầu mới và điều kiện thực hiện những nhu cầu mới.
- Con người cá nhân - hiện thực (tồn tại đơn nhất) bao giờ cũng tồn tại
trong thành phần những hệ thống xã hội như gia đình, tập thể, giai cấp, dân tộc
(tồn tại đặc thù) và rộng hơn nữa là xã hội loài người (tồn tại phổ biến). Mác cho
rằng: “cá nhân là một thực thể xã hội. Cho nên mọi biểu hiện sinh hoạt của nó là
biểu hiện và sự khẳng định của sinh hoạt xã hội.
1.2.2. Sản xuất vật chất - cơ sở của đời sống xã hội.
“Đời sống xã hội, về thực chất là có tính thực tiễn”. Để tồn tại và phát
triển, xã hội không ngừng hoạt động để tham gia vào:
Sản xuất vật chất
Sản xuất tinh thần
Sản xuất ra bản thân con
người
Ba quá trình đó tác động biện chứng lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất
là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội. Trong đó:

2


● Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác
động vào tự nhiên, cải tiến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của
cải vật chất thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.

Về mặt nhận thức luận: LLSX và QHSX là hai loại quan hệ (không phải
hai bộ phận) trong một thực thể thống nhất cấu thành PTSX của xã hội. Nghĩa
là, từ hai góc tiếp cận để xem xét một thực thể PTSX.
Nếu phân tích PTSX theo quan hệ giữa con người với tự nhiên thì đó là
LLSX.
Nếu phân tích PTSX theo quan hệ giữa con người với con người thì đó là
QHSX.
3


LLSX và QHSX nằm trong thể thống nhất của hai mặt đối lập trong
PTSX xã hội nhất định. Chúng quy định chế ước lẫn nhau, tác động qua lại và
thúc đảy nhau cùng phát triển theo quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính
chất và trình độ phát triển của LLSX. Nghĩa là trong sự thống nhất bao hàm sự
mâu thuẫn đó thì LLSX giữ vai trò quyết định sự vận động phát triển của
QHSX, còn QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX.
Sự thống nhất và mâu thuẫn không ngừng nảy sinh, tự giải quyết, là động lực
vận động nội tại của PTSX, là cơ sở của lịch sử xã hội loài người.
1.2.3. Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử.
Không có tự nhiên không có lịch sử xã hội thì không thể có con người.
Con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.
Lịch sử không phải do một nhân cách nào đó sử dụng con người làm
phương tiện để đạt đến mục đích của mình, mà lịch sử xã hội loài người là lịch
sử hoạt động của chính bản thân con người. Hoạt động của con người bao gồm
sự thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của quá trình lịch sử.
+ Sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan của quá trình lịch sử là
một vấn đề hết sức phức tạp. Do tính phức tạp đó mà các nhà triết học trước
Mác nhận thức và giải quyết vẫn còn nhiều hạn chế, sai lầm:
- Một là, nhấn mạnh vai trò của nhân tố chủ quan trong hoạt động của con
người đến mức cho rằng đạo đức, ý thức hoặc lý tính có thể quyết định lịch sử

chính là nhận thức và hành động theo cái tất yếu.
- Quan niệm duy vật về lịch sử khoogn phủ nhận tác động của mục đích
con người đối với tiến trình lịch sử, nhưng đòi hỏi phải nhận thức nó một cách
khoa học. Nghĩa là quan niệm DV về lịch sử xem xét nhu cầu khách quan của sự
xuất hiên các mục đích và những điều kiện để thực hiện mục đích đó. Điểm xuất
phát để định ra mục đích là những điều kiện khách quan. Chính đời sống con
người làm này sinh ở họ nhu cầu và lợi ích, đặt ra cho họ mục đích hoạt động. Ở
đó sự quy định khách quan đã chuyển hóa thành sự quy định chủ quan; mặt khác
để đạt được mục đích lại cần phải có những điều kiện khách quan thích hợp.
Hoạt động của con người là quá trình chuyển tính chủ quan thành tính khách
quan.
Như vậy, quá trình lịch sử là quá trình hoạt động của con người tuân theo
những quy luật khách quan. Quá trình lịch sử luôn là sự thống nhất giữa những
quy luật vận động khách quan của xã hội và hoạt động có ý thwucs của con
người. XÃ hội ngày càng tiến bộ, càng phát triển thì vai trò của nhân tố chủ
quan ngày càng tăng lên, đó là xu hướng có tính quy luật của lịch sử.
2. Phạm trù “Hình thái kinh tế - xã hội” và cấu trúc của nó
2.1. Khái niệm “Hình thái kinh tế - xã hội”
Theo quan điểm Mác xít thì “hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù
của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất
định, với kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình
độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiểu trúc thượng tầng tương ứng
được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Hình thái kinh tế - xã hội là sự
khái quát dùng để chỉ xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nói cách khác
nó là một nấc thang của lịch sử xã hội, là sự khái quát dùng để phân biệt giữa
giai đoạn lịch sử này với giai đoạn lịch sử khác.
2.2. Cấu trúc của “Hình thái kinh tế - xã hội”
Hình thái kinh tế-xã hội là một hệ thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu
phức tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng.

1.2. Các hình thái kinh tế - xã hội đã vận động biến đổi như thế nào
* Làm rõ cụm từ “lịch sử - tự nhiên”:
Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lý luận cấu trúc hình
thái kinh tế - xã hội, C.Mác cho rằng: “sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.23, t.r21. ).
Phạm trù tự nhiên được dùng đi liền với từ “lịch sử” ở đây được đề cập ở
góc độ tính tất yếu của sự vận động phát triển lịch sử. Đó là sự phát triển vận
động không ngừng của lịch sử xã hội từ thấp đến cao, không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của con người hoặc bất cứ một lực lượng xã hội nào mà nó do
các quy luật kinh tế - xã hội khách quan vốn có của bản thân xã hội quyết định
mà trong đó trước hết và cơ bản là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của sự phát triển xã hội chẳng
những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự mà còn bao hàm cả trường hợp
bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong những hoàn cảnh lịch sử cụ
thể nhất định.
* Quá trình “lịch sử - tự nhiên” của xã hội là như thế nào:

6


Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tếxã hội được thể hiện ở các nội dung sau:
Một là, sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách
quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tếxã hội mà
trước hết là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng.
Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội đều có
nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất xã
hội. Theo V.I.Lênin: “Chỉ có đem quy các quan hệ xã hội vào những quan hệ
sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng
sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát

hơn” trình độ lực lượng sản xuất. Cả 2 trường hợp này đều kìm hãm sự phát
7


triển của lực lượng sản xuất, nhưng không có nghĩa là lực lượng sản xuất đứng
im tại chổ
Quy luật thứ hai chi phối sự vận động và phát triển của hình thái KT-XH
là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (quan hệ sản xuất) và
kiến trúc thượng tầng. Quy luật này khẳng định rằng cơ sở hạ tầng là quan hệ cơ
bản quyết định kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng sinh ra từ cơ sở
hạ tầng nhưng nó có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại cơ sở hạ tầng. Cơ sở
hạ tầng với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực sản sinh ra một kiến trúc thượng
tầng tương ứng qui định tính chất, cơ cấu và mục đích hoạt động của kiến trúc
thượng tầng. Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì kiến trúc thượng tầng phải thay đổi
theo nhưng sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng diễn ra khá lâu dài, một cách
biện chứng. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
thể hiện qua vai trò định hướng chính trị cho hoạt động kinh tế theo yêu cầu mục
đích của giai cấp thống trị, mà trong đó Nhà nước là thiết chế quan trọng nhất
khi tác động trở lại kinh tế. Kiến trúc thượng tầng cũng có nhiệm vụ bảo vệ và
phát triển cơ sở kinh tế đã sinh ra nó. Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến
cơ sở hạ tầng có thể diễn ra 2 khả năng sau đây : một là phù hợp với tính tất yếu
kinh tế, với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác dụng thúc đẩy
kinh tế phát triển; hai là do yếu kém và sai lầm của kiến trúc thượng tầng tác
động không phù hợp với quy luật kinh tế thì sẽ kìm hãm sự phát triển của đời
sống kinh tế. Trong những trường hợp đặc biệt, kiến trúc thượng tầng có thể tác
động làm đảo lộn nhanh chóng cơ sở hạ tầng nhưng suy đến cùng thì kiến trúc
thượng tầng vẫn bị kinh tế quyết định
* Quá trình vận động, thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã
hội là 1 tất yếu hay ngẫu nhiên:
Trong các quy luật khách quan chi phối sự hoạt động, phát triển của hình

là con đường phát triển rút ngắn, phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa - con
đường từ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong quan
niệm của V.I.Lê-nin, tất cả các loại hình khác nhau của sự phát triển xã hội phát triển tuần tự hay phát triển rút ngắn - đều phải tuân theo quy luật khách
quan và đều là con đường phát triển lịch sử - tự nhiên. Phát triển rút ngắn đòi
hỏi phải có những điều kiện khách quan và chủ quan mới có thể thực hiện được.
2. Vai trò phương pháp luận của Học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội
2.1. Đối vối nhận thức khoa học về xã hội:
* Phạm trù HTKT-XH là mô hình lý luận về xã hội, đồng thời phản ánh
cái lôgíc của lịch sử nhân loại.
- Giữa lý luận và thực tế không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Thực tế là
tất cả những gì đang diễn ra trong hiện thực với những chi tiết, đặc điểm, trạng
thái mang tính phong phú, nhiều vẻ của nó. Lý luận là nhận thức trừu tượng,
khái quát về bản chất và quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thực tế. Lý
luận chỉ tập trung phản ánh cái bản chất, cái mang tính quy luật của thực tế, vì
vậy lý luận bao giờ cũng sâu sắc hơn, chính xác hươn và có hệ thống hơn.
Gần giống như vậy, phạm trù lịch sử và lôgíc cũng không đồng nhất với
nhau
+ Phạm trù lịch sử chỉ toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong
của một sự vật. Đặc điểm của lịch sử loài người là nó diễn ra theo một trật tự
thời gian, với những biểu hiện cụ thể, nhiều hình nhiều vẻ, trong đó không chỉ
có cái bản chất, cái tất nhiên mà còn có cả cái không bản chất, cái ngẫu nhiên, cả
những bước quanh co của sự phát triển.
+ Phạm trù lôgíc là sự tái tạo tạo dưới dạng hình ảnh tinh thần về lịch sử.
Nó không sao chép nguyên xi lịch sử mà nắm bắt cái bản chất của lịch sử, vạch
ra quy luật phát triển của lịch sử, tước bỏ những cái bề ngoài, ngẫu nhiên, không
bản chất của lịch sử và tái hiện lại lôgíc khách quan của lịch sử.
- Phạm trù HTKT-XH, với tư cách là cái lôgíc, là mô hình lý luận về lịch
sử, không sao chép máy móc giản đơn lịch sử mà là sự phản ánh rút gọn và sáng

9

trình lịch sử. Tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà có thể xuất hiện sự phát triển
vượt trội của một nhân tố nào đó, thúc đảy các yếu tố khác, trước hết là SXVC
phát triển theo, phá vỡ tính cân bằng của hệ thống cũ và thiết lập trạng thái cân
bằng mới cao hơn. Tiến trình lịch sử thì luôn xuất hiện các nhân tố mới đóng vai
trò là động lực thúc đảy lịch sử phát triển mạnh mẽ như cuộc cách mạng khoa
học – công nghệ hiện nay.
- Trong quá trình phát triển của các hình thái KT-XH, hình thái mới ra dời
không xóa bỏ mọi yếu tố của hình thái cũ mà trong khi phá vỡ cấu trúc của hệ
thống cũ lại có sự bảo tồn, kế thừa, đổi mới những yếu tố của nó. Điều đó vừa
đảm bảo sự liên tục , sự phát triển lại vừa tạo ra tình trạng đan xen giữa những
yếu tố của nhiều hình thái xã hội khác nhau, nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau
trong một giai đoạn cụ thể.
- Sự phát triển của các HTKT-XH là một quá trình lịch sử tự nhiên. Quy
luật chung của lịch sủ là các quốc gia, dân tộc luôn luôn phát triển từ hình thái
thấp đến hình thái cao hơn. Quy luật chung đó có thể được thực hiện bằng con
10


đường tuần tự, kế tiếp từ hình thái thấp đến cao, nhưng cũng có thể thực hiện
bằng con đường rút ngắn, bỏ qua một hình thái nào đó. Tại sao có tình trạng đó?
2.2. Đối với việc phân tích 1 giai đoạn lịch sử, một hình thái kinh tế - xã
hội:
Tiến trình lịch sử cụ thể của một dân tộc, một quốc gia cụ thể thường
xuyên bị những yếu tố bên trong và những yêu tố bến ngoài chi phối như hoàn
cảnh địa lý, truyền thống văn hóa, tâm lý dân tộc, tình trạng chiến tranh hay hòa
bình, quan hệ giao lưu với các dân tộc khác. Tất cả những yếu tố đó đều có thể
kìm hãm hay thúc đảy sự phát triển của một quốc gia, dân tộc nhất định. Do sự
tác động tổng hợp của nhiều nhân tố làm cho quá trình cho quá trình lịch sử của
nhân loại diễn ra không đồng đều, thường xuất hiện những trung tâm phát triển
cao hơn về SXVC, kỹ thuật, văn hóa. Chính từ những trung tâm ấy có sự phát



Việc sai lầm do “bỏ qua những bước đi cần thiết” được thể hiện trong các
chủ trương chính sách lớn của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới. Trước nhất đó
là việc bỏ qua bước trung gian quá độ kinh tế hàng hóa TBCN, phủ nhận các
hình thức, bước đi mang tính quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn - nội dung
mà trước đây CNTB ra đời nó đã từng thể hiện. Chính vì vậy, việc phát triển lực
lượng SX không được chú trọng , đã để kéo dài quá lâu trình độ SX thấp, thủ
công, đầu tư công nghiệp nặng không đúng hướng, đầu tư dàn đều, tràn lan
không chú ý chiều sâu. Trong việc đề ra chủ trương, chính sách, Đảng và Nhà
nước ta đã bỏ qua không chú ý vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật,
những quy luật của SX hàng hóa đang tồn tại khách quan vàp việc chế định các
chủ trương, chính sách kinh tế.
Cũng trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước ta do chủ quan, nóng vội
muốn cải tạo nhanh quan hệ SX nên đã áp đặt một mô hình quan hệ sản xuất
“cao hơn” trình độ lực lượng sản xuất. Nó thể hiện qua việc “nóng vội muốn xóa
bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN” để chỉ còn lại 2 thành phần kinh tế :
quốc doanh và tập thể. Trong việc tổ chức hình thức sản xuất, chúng ta đã có xu
hướng tổ chức quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn, hợp tác xã … với quy mô
lớn mà không tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực
của cán bộ. Đồng thời việc xác lập quan hệ SX cũng không đồng bộ “về nội
dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
mà không coi trọng giải quyết các vấn đề tổ chức quản lý và chế độ phân phối”.
Bên cạnh đó, việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương, chính
sách kinh tế đối ngoại khép kín ... đã làm kìm hãm, phá hoại sự phát triển của
lực lượng sản xuất dẫn đến sản xuất đình trệ, kinh tế không phát triển, lạm phát
gia tăng. Mặt khác trong kiến trúc thượng tầng, đã buông lỏng chuyên chính vô
sản, bộ máy nhà nước nặng nề, nhiều tầng, nhiều nấc, cồng kềnh kém hiệu lực..
dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội.

chặng đường, bước đi thích hợp và nhiều hình thức trung gian về tổ chức kinh tế
- xã hội.
Như chúng ta biết, trong quan niệm triết học Mác - Lênin, tiến trình phát
triển của lịch sử nhân loại được qui định bởi sự phát triển của lực lượng sản
xuất. Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sự
phát triển vượt bậc, thậm chí là nhảy vọt của lực lượng sản xuất và do vậy, về
thực chất, phát triển rút ngắn chỉ có thể là rút ngắn các giai đoạn hay bước đi
trong tiến trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất. Nước ta còn nghèo,
lực lượng SX kém phát triển nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế là rất lớn cho nên
phải tập trung sức phát triển LLSX. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và
công nghệ sản xuất, trình độ sản xuất, kỹ năng lao động, trình độ tổ chức và
quản lý sản xuất của con người được tăng lên đáng kể. Điều đó cho phép chúng
ta có thể rút ngắn các giai đoạn phát triển hay hình thức công nghệ của sự phát
triển lực lượng sản xuất
Đồng thời với việc tạo ra sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất
qua con đường CNH-HĐH, Đảng cũng đã xác định việc phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần trong giai đoạn quá độ là một tất yếu khách quan, đây là bước
đi tuần tự trong việc phát triển Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước ta từ sau Đại hội VI đến nay đã khẳng định : các thành phần kinh tế là
những bộ phận cấu thành phần kinh tế thống nhất, được phát triển lâu dài, hợp
tác và cạnh tranh lành mạnh với nhau. Trong xu hướng vận động chung, thành
phần kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, hỗ trợ các thành phần kinh tế
khác phát triển. .
Sự phát triển của LLSX đòi hỏi phải có quan hệ SX phù hợp. Đại hội 9 đã
xác định : “Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ
sản xuất trên cả 3 mặt : sở hữu, quản lý và phân phối”
Đại hội Đảng lần VII đã nêu : để phù hợp với sự phát triển của LLSX,
chúng ta phải thiết lập từng bước quan hệ SX XHCN từ thấp đến cao với sự đa
dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo


15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status