Luận văn
Đề tài : Vận dụng lý luận học thuyết về
hình thái kinh tế xã hội vào sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
1
A. Giới thiệu vấn đề
Trong gần 10 năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta có sự thay đổi và
đạt được nhiều thành tựu to lớn. Để đạt được những thành tựu ấy chúng ta
không thể quên được bước ngoặt lịch sử trong cơ chế chuyển đổi nền kinh
tế đất nước, mà cột mốc của nó là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
(1986) đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế Nhà nước.
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo
nàn lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất
yếu phải đổi mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Xây
dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giầu, nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh". Mục tiêu đó là sự cụ thể hoá học thuyết Mác về hình thái
kinh tế -xã hội và hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam. Nó cũng là mục
tầng, tức toàn bộ các yếu tố cấu trúc thành bộ mặt của thời đại: Chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật Do đó, nó cắt nghĩa xã hội
được sáng tỏ hơn, toàn diện hơn, chỉ ra cả bản chất và quá trình phát triển
của xã hội. Loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội theo trật tự
từ thấp đến cao đó là. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thuỷ,
chiến hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và ngày nay đang quá độ lên
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Hình thái kinh tế - xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời phát triển và diệt
phong. Chế độ xã hội lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội chế độ xã hội mới
cao hơn sẽ thay thế. Đó là khi phương thức sản xuất cũ đã trở nên lỗi thời,
hoặc khủng hoảng do mâu thuẫn của quan hệ sản xuất với lực lượng sản
xuất quá lơn không thể phù hợp thì phương thức sản xuất này sẽ bị diệt
vong và xuất hiện một phương thức sản xuất mới hoàn thiện hơn, có quan
hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất.
Như vậy bản chất của sự thay thế trên là phụ thuộc vào mối quan hệ
biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
1. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là
biểu hiện trình độ trình phục tự nhiên của con người trong từng giai đoạn
3
lịch sử nhất định. Lịch sử sản xuất là một thể thống nhất hữu cơ giữa tư
liệu sản xuất (quan hệ nhất là công cụ lao động) với người lao động với
kinh nghiệm và kỹ năng lao động nghề nghiệp. Lực lượng sản xuất đóng
vai trò quyết định phương thức sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người sản xuất vật
chất thể hiện ở quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức
quản lý trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ phân phối sản phẩm.
Trong quan hệ sản xuất quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vị trí quyết
xuất là khách quan và phổ biến của mọi phương thức sản xuất.
Sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất như sự thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của sản xuất
xã hội. Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ
sản xuất được Mác - Anghen khái quát thành quya luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất và trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành và biên đổi của quan hệ
sản xuất. Khi không thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát
triển của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn của chúng tất yếu sẽ nảy sinh. Biểu
hiện của mâu thuẫn này trong xã hội là giai cấp là mâu thuẫn giữa các giai
cấp đối kháng.
Lịch sử đã chứng minh rằng do sự phát triển của lực lượng sản xuất,
loài người đã bốn lần thay đổi quan hệ sản xuất gắn liền với bốn cuộc cách
mạng xã hội, dẫn đến sự ra đời nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã
hội.
Vào giai đoạn cuối cùng của xã hội phong kiến ở các nước Tây Âu lực
lượng sản xuất đã mang những yếu tố xã hội hoá gắn với quan hệ sản xuất
phong kiến. Mặc dù hình thức bóc lột của các lãnh chúa phong kiến được
thay đổi liên tục từ địa tô lao dịch đến địa tô hiện vật, địa tô bằng tiền song
quan hệ sản xuất phong kiến chật hẹp vẫn không chứa đựng được nội dung
mới của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất của Tư bản chủ nghĩa ra đời
thay thế quan hệ sản xuất phong kiến. Trong lòng nền sản xuất tư bản, lực
lượng sản xuất phát triển, cùng với sự phân công lao động và tính chất xã
hội hoá công cụ sản xuất đã hình thành lao động chung của người dân có tri
thức và trình độ chuyên môn hoá cao. Sự lớn mạnh này của lực lượng sản
xuất dẫn đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa. Giải quyết mâu thuẫn đó đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất tư
nhân tư bản chủ nghĩa, xác lập quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã
triết học và các thể chế tương ứng như Nhà nước Đảng phái, giáo hội và
các đoàn thể quần chúng.
6
Kiến trúc thượng tầng được hình thành trên tổng hợp toàn bộ những
quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một chế độ xã hội nhất định
người ta gọi đó là cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng bao gồm những quan hệ sản xuất đang giữ địa vị thống
trị nền kinh tế nhóm những quan hệ sản xuất tàn dư và những quan hệ sản
xuất mới là quan hệ mầm mống của xã hội sau.
Bất kỳ một cơ sở hạ tầng nào cũng bao gồm những thành phần kinh tế
khác nhau, mỗi thành phần kinh tế này đều gắn liền với một kiểu quan hệ
sản xuất trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi
phối các thành phần kinh tế khác. Ở xã hội có giai cấp đối kháng giai cấp
này nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, từ những mâu thuẫn và xung đột kinh tế. Đó
chính là cơ sở nẩy sinh giai cấp đối kháng trong kiến trúc thượng tầng, giai
cấp thống trị về kinh tế sẽ thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị
về mặt tư tưởng đối với xã hội, trong đó hệ tư tưởng chính trị và bộ máy
quản lý nhà nước có vị trí quan trọng nhất.
a) Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Vai trò quyết định của
cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng được thể hiện ở một số mặt:
Cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng đó (giai cấp nào giữ vị trí
thống trị về mặt kinh tế thì đồng thời cũng là giai cấp thống trị xã hội về tất
cả các lĩnh vực khác).
Quan hệ sản xuất nào thống trị cũng sẽ tạo ra kiến trúc thượng tầng
tương ứng. Mâu thuẫn giai cấp mâu thuẫn giữa các tập đoàn trong xã hội và
đời sống tinh thần của họ đều xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ mâu thuẫn
kinh tế, từ những quan hệ đối kháng trong cơ sở hạ tầng.
vụ đấu tranh thủ tiêu cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ, xây dựng
bảo vệ củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng mới. Kiến trúc thượng tầng
chính là công cụ của giai cấp thống trị, các bộ phận khác của kiến trúc
thượng tầng cũng có tác dụng mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng nhưng thường
những tác động ấy phải thông qua hệ thống chính trị, pháp luật hay các thể
chế tương ứng khác.
Trong điều kiện ngày nay vai trò của kiến trúc thượng tầng không
giảm đi, mà ngược lại tăng lên và tác động mạnh đến tiến trình lịch sử. Trái
lại kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa bảo vệ cơ sở hạ tầng xã hội chủ
nghĩa nhằm xây dựng xã hội mới, chính mục đích đó quyết định tính tích
cực càng tăng của kiến trúc thượng tầng của xã hội chủ nghĩa.
8
Tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng được thể hiện
trong hai trường hợp trái ngược nhau nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp
với quan hệ kinh tế tiến bộ thì sẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội. Ngược lại
nếu kiến trúc thượng tầng là cơ sở của những quan hệ kinh tế lỗi thời thì sẽ
kìm hãm sự phát triển của kinh tế xã hội, những sự tác động kìm hãm đó
chỉ là tạm thời sớm muộn cũng sẽ bị cách mạng khắc phục về cơ bản, bản
chất giữa cơ sở hạ tầng và cơ sở thượng tầng chính là bản chất giữa kinh tế
và chính trị trong đó kinh tế đóng vai trò quyết định còn chính trị là biểu
hiện tập trung của kinh tế và có tác dụng mạnh mẽ trở lại. Cần tránh
khuynh hướng quá thổi phồng hoặc hạ thấp vai trò của kiến trúc thượng
tầng. nếu tuyệt đối hoá vai trò của kiến trúc thượng tầng thì sẽ rơi vào tả
khuynh còn ngược lại sẽ rơi vào hữu khuynh.
II. SỰ VẬN DỤNG HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀO SỰ
NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM
Dựa trên cơ sở những lý luận chung trên đây, phần tiếp theo của đề tài
xin phép được đi sâu vào vấn đề "hình thái kinh tế xã hội với sự nghiệp
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa có những đặc điểm riêng nhưng nó đều
là chế độ có khác những mâu thuẫn đối kháng không thể điều hoà giữa giai
cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, và dựa trên sự tư hữu về sản xuất. Giai
cấp bóc lột là giai cấp thống trị, mọi hoạt động về mặt kinh tế chính trị xã
hội đều chỉ phục vụ cho quyền lợi của chính họ.
Một hình thái kinh tế xã hội tồn tại được thì nó phải có những mặt tốt
nhất định của nó chúng ta cũng không thể phủ nhận những thành quả mà
các hình thái kinh tế xã hội nói trên đã đạt được. Xã hội cộng sản nguyên
thuỷ là chế độ xã hội đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của loài
người. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ giai cấp thống trị bắt đầu tích luỹ của
cải cho xã hội, quan trọng nhất là nó đưa con người ra khỏi thời kỳ mông
muội hoang dã. Hình thái kinh tế xã hội là chế độ xã hội bước đầu vừa phát
huy thừa kế những thành quả của chủ nghĩa tư bản, đồng thời khắc phục
những mâu thuẫn những hạn chế của tư bản chủ nghĩa. Một xã hội mà
quyền lực nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động - một
tầng lớp đông đảo của xã hội. Mọi hoạt động kinh tế - văn hoá - chính trị
phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Không còn tình trạng bóc lột, mọi
người đều bình đẳng, sinh hoạt lao động dưới sự quản lý của Nhà nước
thông qua pháp luật thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ
tập chung dân chủ công bằng xã hội. Quan hệ sản xuất được xây dựng trên
cơ sở của lực lượng sản xuất và trình độ phát triển cao cơ sở hạ tầng phù
hợp với kiên trúc thượng tầng.
10
Đây là hình thái kinh tế xã hội ưu việt một đỉnh cao của văn minh loài
người.
Từ hai con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, một con đường tư bản chủ
nghĩa và con đường đi từ tiến tư bản chủ nghĩa.
Việt Nam từ một nền kinh tế tiểu nông muốn thoát ra khỏi nghèo nàn
phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả để thực sự có tác dụng chủ đạo với các
thành phần kinh tế khác.
Chúng ta phải khắc phục quan niệm bỏ qua chủ nghĩa tư bản một cách
giản đơn. Phải khai thác sử dụng tối đa chủ nghĩa tư bản làm khâu "trung
gian" để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội như Lênin đã chỉ ra.
Chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và việc sử dụng
các hình thức kinh tế trung gian quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta mà Đại hội VI vạch ra là đúng đắn. Đại hội VII của Đảng
cũng đã chỉ rõ " phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất thiết lập
từng bước quan hệ sản xuất từ xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa
dạng về hình thức sở hữu phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng sản xuất chủ nghĩa tiên hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý Nhà nước". Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng của kinh tế quốc doanh. Thực hiện nhiều hình thức phân
phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Đó là một trong
những phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ đất nước ta. Hơn nữa sự vận dụng đúng đắn của các quy luật quan
hệ sản xuất, phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là cần thiết. Bên cạnh đó từng bước cơ sở xây dựng hạ tầng và cơ
sở thượng tầng. Đặc biệt là xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Thực hiện đa dạng hoá về tình hình sản xuất quản lý và phân phối theo
lao động.
3. Thực trạng sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam
Trước đây trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước
chúng ta đã xác định công nghiệp hoá "là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội" song nước ta vẫn mắc phải sai lầm bằng cách
nhận thức về công nghiệp hoá.
Từ cuối những năm 70, đất nước đã lâm vào khủng hoảng kinh tế xã
hội với những khó khăn gay gắt lạm phát.
Khi đó do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận và thực tiễn có
kinh tế tuy đạt được độ tăng trưởng nhất định nhưng sự tăng trưởng đó
không có phát triển vì dựa vào bao cấp, bởi chi ngân sách lạm phát vay nợ
nước ngoài. Con người không được giải phóng và bị lầm vào tình trạng
khủng hoảng lạc hậu trì trệ làm tăng chi phí lớn của cải xã hội.
Đến khi áp dụng chính sách khoán đất cho nhân dân tự trồng trọt, phá
bỏ hợp tác thì nên Nhà nước đã có những bước chuyển mình rất rõ rệt.
Trong công nghiệp.
13
Trong lựa chọn bước đi, đã có lúc chúng thiên về "ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng coi đó là giải pháp cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công
nghiệp. Mà không coi trọng đúng mức của phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ. công nghiệp hoá cũng được hiểu một cách giản đơn là quá
trình xây dựng một nền sản xuất được cơ khí hoá trong tất cả các ngành
kinh tế quốc dân. Chúng ta thực hiện chủ nghĩa xã hội ồ ạt với quy mô lớn.
Quốc hữu hoá toàn bộ các xí nghiệp tư nhân.
Kế hoạch kinh tế của nước ta hầu như dậm chân tại chỗ với những
viện nghiên cứu bao cấp chỉ đạo thì làm sao không thể phát huy được năng
lực sáng tạo với đồng vốn ít không đủ để cho nghiên cứu không cung cấp
đầy đủ kinh phí cho các việc ứng dụng nó vào thực tiễn sản xuất. Trong khi
đó nhìn ra bên ngoài khoa học kỹ thuật của các nước phát triển như vũ bão
và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thấm vào tất cả các yếu tố của con
người.
Một hạn chế nữa là chúng ta mắc phải đó là ta đã phủ nhận quy luật
giá trị sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường. Thực chất ở đây cũng là do
những nhận thức sai lầm, chủ quan nóng vội mà chúng ta đã cho rằng kinh
tế nước ta phải tuân theo quy luật giá trị sản xuất hàng hoá và cơ chế thị
trường mà không hiểu điều quy luật nhất đó là: nước ta mới ở giai đoạn của
thời kỳ quá độ.
Kết cấu khoa học - kỹ thuật ngày càng lớn.
Thuận lợi :
Nhờ chuyển giao công nghệ nên ta chỉ việc ứng dụng những thành tựu
khoa học - công nghệ. Có thể chọn công nghệ mới, phù hợp để phát triển.
Ta có những bài học kinh nghiệm từ các nước đi trước, không mắc
phải sai lầm như những nước đó
Dễ hợp tác để tiến hành công nghiệp hoá.
Chúng ta có lực lượng lao động dồi dào, con người Việt Nam thông
minh sáng tạo lại có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước
thông qua pháp luật.
Chính sách cụ thể của Nhà nước ta
Sự phát triển của các nước trên thế giới và sự nghiệp đổi mới ở nước
ta củng cố cho chúng ta những bài học lớn về nhận thức.
Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - quan điểm cơ bản và
hàng đầu của triết học Mác xít - cũng như nguyên tắc thống nhất giữa lí
luận và thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Mục tiêu
15
mà Đại hội Đảng lần VIII của Đảng đề ra chính là sự cụ thể hoà hợp thống
nhất về hình thức kinh tế - xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của xã hội chủ
nghĩa. Ta phải luôn nhận thức vận dụng đúng đắn sáng tạo hai mối quan hệ
cơ bản là quan hệ bản chất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất;
quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Sự đổi mới với tính chất mới mẻ khô khan và phức tạp của nó - đòi
hỏi phải có lí luận khoa học soi sáng. Song phải kết hợp hài hoà giữa lí luận
và thực tiễn.
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã nhận định và đánh giá tình
hình một cách đúng đắn, điều này ở ĐH Đảng khoá VII đã nêu rõ ràng:
trong xu hướng quốc tế hoá sản xuất và đời sống khoa học - công nghệ trên
dịch vụ chỉ có như vậy sẽ xoá bỏ được trạng thái trì trệ của nền kinh tế
nông nghiệp sản xuất nhỏ xoá đói giảm nghèo nâng cao mức tạo nhập bình
quân.
Chính sách đường lối phát triển:
Trong khu vực nông thôn và nông nghiệp phương hướng hàng chiến
lược đó là thay thế nhập khẩu và có hiệu quả thấp đến hàng mạnh ra xuất
khẩu. Nhiều người cho rằng đây là hướng sai lầm nhưng thực tế không phải
vậy.
Nông nghiệp là ngành sản xuất có đặc trưng là sản phẩm của nó cần
thiết cho mọi cuộc sống hàng ngày.
Phát triển sản xuất nông nghiệp cung cấp sản phẩm đủ trong nước rồi
mới xuất khẩu là một lẽ đương nhiên những công cụ sản phẩm chỉ trong
nước còn với xã hội là một lẽ đương nhiên bởi ta không thể nhập lương
thực mà lại không tự sản xuất được ra.
Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp cần được quá trình đầu tư khoa học -
công nghệ để đem lại chất lượng sản lượng cao cho sản phẩm. Công nghiệp
nhẹ cần được phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp là công nghệ để sản
xuất thuốc trừ sâu phân bón vi sinh không gây độc hại.
Cơ khí hoá là điều kiện đưa kỹ thuật máy móc vào sản xuất nông
nghiệp.
c) Xây dựng mới kết cấu hạ tầng kinh tế:
Kết cấu hạ tầng vừa là điều kiện vừa là mục tiêu của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
d) Phát triển kinh tế nhiều thành phần
17
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi sự tham gia của mọi thành
phần kinh tế. Sau những năm mở cửa, nền kinh tế cùng với những chính
sách của Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát
18
Trong quá trình tiến hành cách mạng có những lúc thuận lợi, bên cạnh
đó có rất nhiều khó khăn đòi hỏi chúng ta phải có cách nhìn nhận và
phương pháp khoa học sáng tạo, phải có quan điểm khách quan toàn diện
phát triển đưa chính sách cụ thể là thực tiễn.
Luôn luôn đề cao vai trò thực tiễn nhiều không coi nhẹ lí luận. Phải
luôn xây dựng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng
tư tưởng của Đảng làm kim chỉ nam cho công nghiệp ta, cho cách mạng
nước ta, cho dân tộc, phát triển đổi mới kinh tế tư duy ở nước ta, đưa nước
ta lên con đường xã hội chủ nghĩa.
Một điều quan trọng nữa là phải khắc phục một số tư tưởng hữu
khuynh không tiến hành cách mạng, tả khuynh chủ quan nóng vội, duy ý
chí
Bệnh chủ quan, duy ý chí là sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, gây tác hại nghiêm trọng với xây dựng xã
hội chủ nghĩa.
Sai lầm là ở lối suy nghĩ và hình thức giản đơn, nóng vội, chạy theo
nguyện vọng chủ quan thể hiện trong một số chủ trương và chính sách xã
hội với hiện thực khách quan. Để khắc bệnh này cần sử dụng đồng bộ
nhiều biện pháp. Trước hết là đổi mới tư duy, lý luận, nâng cao nhân lực trí
tuệ trình độ lý luận của Đảng. Trong hoạt động trực tiếp phải tôn trọng và
hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý và đổi
mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chống bảo
thủ, trì trệ quan liêu.
Song để làm được tất cả những chính sách đề ra, phải có một Nhà
nước chuyên chính vô sản, một nhà nước thực sự của dân do dân và vì dân.
Cho đến nay, không phải mọi vấn đề về con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội hoá ở nước ta đều được hoàn toàn làm rõ, thậm chí nhiều vấn đề còn trở
khăn, lạc hậu, nợ nần chồng chất, bùng nổ dân số, xung đột triền miên về
tôn giáo và sắc tộc Cho nên một lần nữa đòi hỏi chúng ta phải sáng suốt,
linh hoạt trong sự đổi mới nhưng luôn luôn phải bám sát lý luận hình thái
kinh tế - xã hội Mác - Lênin.
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác – Lê Nin tập 2.
(Nhà xuất bản chính trị Quốc gia)
2. Tạp chí triết học số1 (101) tháng 2-1998.
3. Tạp chí triết học số2 (96) tháng 4-1997.
4. Tạp chí triết học số1 (107) tháng 2-1999.
5. Tạp chí triết học số3 (103) tháng 6 -1998.
6. Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường .
(Học viện chính trị Quốc gia)
7. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII .
(Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà nội 1996 )
8. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII .
(Nhà xuất bản sự thật Hà nội 1991 )
9. Hồ Chí Minh toàn tập .
(Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà nội )
10. Bài phát biểu của tổng bí thư Đỗ Mười nhân dịp về giỗ
tổ Hùng Vương , ngày 1 tháng 4 năm 1995 .
(Báo nhân dân ngày 8 tháng 4 năm 1995)