Tổng hợp tài liệu, đề thi, câu hỏi TTHS - Pdf 31

Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

PHẦN I: CÁC BÀI VIẾT THAM KHẢO TRÊN TẠP CHÍ – SÁCH – BÁO
Một số ý kiến về phạm vi giám đốc thẩm theo quy định tại điều 284 BLTTHS
TS. Phan Thị Thanh Mai *
Khoa Luật Hình sự – Trường ĐH Luật HN
Các bản án và quyết định của toà án mang tính quyền lực nhà nước sâu sắc, được toà án tuyên nhân danh Nhà
nước, thể hiện trực tiếp thái độ của Nhà nước đối với vụ án, quyết định những vấn đề có liên quan trực tiếp đến
quyền lợi, nghĩa vụ của công dân và những chủ thể khác. Vì vậy, việc đảm bảo tính đúng đắn của các bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của toà án là đòi hỏi thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Yêu cầu này đặc biệt quan
trọng trong tố tụng hình sự, khi mà toà án có quyền ra bản án hình sự, quyết định những vấn đề về trách nhiệm hình
sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo, ảnh hưởng đến tự do, danh dự, tài sản, nhân thân và thậm
chí cả tính mạng của con người. Việc quy định nguyên tắc xét xử vụ án theo nhiều cấp (thông lệ chung là hai cấp xét
xử) và tổ chức toà án theo thứ bậc để toà án cấp trên có thể xem xét lại phán quyết của toà án cấp dưới là một trong
những giải pháp về mặt pháp luật để giải quyết vấn đề này. Mặc dù đã có cơ chế để đảm bảo tính hợp pháp của các
bản án hoặc quyết định trước khi có hiệu lực pháp luật nhưng những bản án hoặc quyết định này vẫn có thể không
hợp pháp và đòi hỏi phải có thủ tục giải quyết. Trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, thủ tục này được gọi là thủ tục
giám đốc thẩm. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về giám đốc thẩm cũng như nghiên cứu, đánh giá thực
tiễn giám đốc thẩm trong những năm gần đây; qua tham khảo tài liệu pháp lí và Bộ luật tố tụng hình sự của một số
nước trên thế giới và trong khu vực, chúng tôi nhận thấy quy định của pháp luật về giám đốc thẩm ở Việt Nam và
các quốc gia khác từ trước đến nay đều có đặc điểm chung là hạn chế việc giám đốc thẩm. Việc hạn chế này nhằm
tránh tình trạng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị hủy bỏ hiệu lực trong những trường hợp không
thực sự cần thiết; đảm bảo tính ổn định của các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đảm bảo các quan hệ
pháp luật đã được thiết lập bởi các phán quyết của toà án sau khi xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Pháp luật mỗi
nước có những quy định hạn chế riêng, phù hợp, thống nhất với các quy định khác trong một chế định pháp luật
hoàn chỉnh. Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định hạn chế về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng
nghị giám đốc thẩm theo hướng bất lợi cho người bị kết án; chủ thể có quyền kháng nghị giám đốc thẩm; thẩm
quyền giám đốc thẩm và quyền hạn của hội đồng giám đốc thẩm… Những quy định pháp luật có tính hạn chế thủ tục
giám đốc thẩm là phù hợp với lí luận và thực tiễn tố tụng. Tuy nhiên, riêng quy định về phạm vi giám đốc thẩm lại
không theo xu hướng hạn chế mà lại mở rộng phạm vi giám đốc thẩm.
Điều 284 BLTTHS năm 2003 quy định về phạm vi giám đốc thẩm như sau: “Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét

nội dung của kháng nghị giám đốc thẩm;
- Theo Từ điển tiếng Việt, “xem xét” là “tìm hiểu, quan sát kĩ để đánh giá, rút ra những nhận xét, những kết luận cần
thiết khác”,([iv]) vì vậy, nội dung Điều 284 BLTTHS năm 2003 về phạm vi giám đốc thẩm đã bao hàm cả quyền đánh
giá và ra quyết định. Điều 241 BLTTHS về phạm vi xét xử phúc thẩm quy định: “Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội
dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị
kháng cáo, kháng nghị của bản án”. Trong quy định này, từ “xem xét” được dùng theo nghĩa này và không ai đặt vấn
đề phân biệt quyền xem xét với quyền quyết định.
- Việc BLTTHS quy định toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án là trách nhiệm có tính bắt
buộc của toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Với những nội dung như trên, chúng tôi nhận thấy Điều 246 BLTTHS có một số bất cập sau:
Thứ nhất, Điều 284 BLTTHS quy định hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án… Theo chúng tôi, “toàn
bộ vụ án” là khái niệm không rõ ràng. Thông thường, trong TTHS, những giới hạn hoặc phạm vi được phép tiến
hành hoạt động tố tụng được xác định cụ thể bởi các quyết định tố tụng cụ thể như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, quyết định đề nghị truy tố, quyết định truy tố, bản án, kháng nghị
v.v.. Trong một số trường hợp đặc biệt còn có thể xác định bởi những cơ sở khác, các cơ sở này mặc dù không phải
là các quyết định tố tụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng được luật tố tụng xác định giá trị pháp lí về
mặt tố tụng. Những cơ sở này là đơn yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại trong
trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại được quy định tại Điều 105 BLTTHS hay kháng cáo của bị
cáo và những người tham gia tố tụng khác. Như vậy, khái niệm toàn bộ vụ án trong Điều 284 BLTTHS phải được
hiểu như thế nào; căn cứ vào phạm vi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; vào kết luận điều tra đề nghị truy tố
của cơ quan điều tra; vào nội dung quyết định truy tố của viện kiểm sát; vào nội dung bản án sơ thẩm hay bản án
phúc thẩm? Trong quá trình tố tụng, phạm vi vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết trong từng giai
đoạn tố tụng rộng hẹp khác nhau, vì vậy, theo chúng tôi, cần phải xác định rõ văn bản tố tụng cụ thể nào là cơ sở
pháp lí để xác định phạm vi giám đốc thẩm.
Thứ hai, từ “xem xét” trong Điều 284 BLTTHS cũng không rõ ràng. Nếu hiểu xem xét không có nghĩa là có quyền
quyết định như cách giải thích của một số tác giả thì Điều 284 BLTTHS chưa xác định được phạm vi giám đốc thẩm
được quyền quyết định vấn đề gì. Còn nếu hiểu xem xét là có quyền quyết định thì phạm vi giám đốc thẩm là quá
rộng. Giả sử chúng ta xác định “toàn bộ vụ án” ở mức độ phạm vi hẹp nhất của khái niệm này là căn cứ vào nội
dung bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm thì quy định này cũng có thể dẫn
đến hậu quả bất lợi cho những người không liên quan đến kháng nghị giám đốc thẩm. Nếu toà án có thẩm quyền

Cũng có ý kiến cho rằng, nếu giới hạn phạm vi giám đốc thẩm theo nội dung kháng nghị có thể dẫn đến tình trạng
không khắc phục hết những sai lầm trong hoạt động xét xử và việc bản án có thể bị giám đốc thẩm nhiều lần. Để
tránh tình trạng này, theo chúng tôi, khi kiểm tra tính hợp pháp của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật,
toà án và viện kiểm sát phải kiểm tra toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Khi giải quyết đơn đề nghị
giám đốc thẩm, toà án và viện kiểm sát cũng phải xem xét toàn bộ bản án, quyết định mà không phụ thuộc vào nội
dung của đơn đề nghị, trên cơ sở đó ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Để kháng nghị giám đốc thẩm đầy đủ,
không bỏ sót vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần phải xem xét toàn bộ bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng khi giám đốc thẩm thì phạm vi giám đốc thẩm cần phải được giới hạn trong phạm vi của kháng nghị để đảm
bảo nguyên tắc phối hợp, chế ước trong tố tụng hình sự. Nếu trong khi giám đốc thẩm phát hiện vi phạm pháp luật
nghiêm trọng chưa có kháng nghị thì hội đồng giám đốc thẩm thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị để
kháng nghị. Tuy nhiên, vấn đề này không cần thiết phải quy định trong Điều 284 BLTTHS về phạm vi giám đốc thẩm
mà cần được quy định cụ thể hơn về quyền bổ sung kháng nghị tại Điều 277 BLTTHS về kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm.
Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 284 BLTTHS như sau: “Hội đồng giám đồng thẩm chỉ xét
lại những vấn đề được nêu trong kháng nghị giám đốc thẩm”./.
([i]).Xem: PGS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên) , “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự”, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2004, tr. 769.
([ii]).Xem: Nguyễn Văn Trượng, “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự”, Luận văn thạc sĩ (1996), tr. 84; Đinh Văn
Quế, “Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự – Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997, tr. 69.
([iii]).Xem: Đinh Văn Quế, “Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự – Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.73.
([iv]).Xem: Trung tâm từ điển học, “Từ điển tiếng Việt”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr.1107.
([v]).Xem: Hoàng Quảng Lực, “Bàn về thời điểm phát sinh hiệu lực của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị”, Tạp chí TAND số 5/1997, tr.22; Nguyễn Văn Trượng, Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự, Luận văn thạc sĩ
(1996), tr.82; Đinh Văn Quế, Giám đốc thẩm, tái thẩm về hình sự – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.72.
([vi]).Xem: Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC (1998), “Luật tố tụng hình sự Hàn Quốc”, (bản dịch tiếng Việt), tr.100.
([vii]).Xem: Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC (1993), “Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản”, (bản dịch tiếng Việt)., tr.
74., tr. 220, 22

kháng nghị; thông báo về việc mở phiên tòa hay chưa và giải quyết yêu cầu hoãn phiên tòa nếu họ yêu cầu vì chưa
được giao những thông báo này đúng thời hạn luật định.
Cơ sở phát sinh thủ tục phúc thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm là căn cứ vào kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Vì
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người
tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn bảy ngày bằng công văn đối với Viện kiểm
sát và bằng giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với người tham gia tố tụng (được quy định tại Điều 236 BLTTHS và
hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết số 05 của HĐTP TANDTC ngày 8/12/2005).[1] Việc thông báo này rất cần thiết
để những chủ thể có liên quan đến kháng cáo kháng nghị có thể chuẩn bị tốt cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của họ tại phiên tòa. Họ có quyền được gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng
nghị và ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phải hỏi xem họ đã được thông báo về kháng cáo,
kháng nghị đúng thời hạn luật định hay chưa, nếu họ chưa được giao hoặc được giao không đúng thời hạn luật định
thì phải hỏi xem họ có yêu cầu hoãn phiên tòa hay không, nếu họ yêu cầu, HĐXX phải hoãn phiên tòa.
Ngoài thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị, chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày mở phiên tòa, Tòa án cấp
phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian,
địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án để họ tham gia phiên tòa phúc thẩm. Tại phiên tòa, HĐXXPT cũng phải hỏi xem họ
đã được thông báo trong thời hạn luật định hay không; có yêu cầu hoãn phiên tòa nếu chưa được giao hoặc giao
không đúng thời hạn hay không. Thủ tục này phải được bổ sung vào Điều 247 BLTTHS về thủ tục phiên tòa phúc
thẩm.
Nội dung của thông báo tham gia phiên tòa xét xử phúc thẩm theo chúng tôi cũng chưa đầy đủ. Điều 242 BLTTHS
quy định nội dung thông báo chỉ có thông tin về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án. Để Viện kiểm sát có thể
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; bị cáo, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa có thể
thực hiện tốt các quyền và nhĩa vụ tố tụng tại phiên tòa, theo chúng tôi, cần phải thông báo cho những chủ thể này
đầy đủ những nội dung tương tự như nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử ở cấp sơ thẩm. Trong nội dung của
thông báo phải nêu rõ xử công khai hay xử kín; họ tên thẩm Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, họ tên thẩm phán
dự khuyết, nếu có; họ tên kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên dự khuyết, nếu có; họ tên người bào chữa,
nếu có; họ tên người phiên dịch, nếu có; họ tên người được triệu tập để xét hỏi tại phiên tòa; vật chứng cần đưa ra
S.K
4
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự


thì việc trình bày kháng cáo, kháng nghị phải do các chủ thể đã kháng cáo kháng nghị tự mình trình bày và bổ sung
ý kiến, nếu có. Nếu người kháng cáo vắng mặt, một thành viên của HĐXX trình bày nội dung kháng cáo của người
đó. Việc các chủ thể kháng cáo, kháng nghị tự mình trình bày kháng cáo, kháng nghị như vậy theo chúng tôi tạo cho
Viện kiểm sát và người kháng cáo (là những chủ thể của hoạt động tranh tụng) vai trò chủ động hơn, đồng thời làm
cho vai trò của HĐXX (cơ quan tài phán) trở nên vô tư, khách quan hơn.
Thứ ba, nên sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm.
Điều 247 BLTTHS không quy định cụ thể về trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm mà quy định áp
dụng tương tự như thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Trình tự đó như sau: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội; bị cáo, người
bào chữa trình bày lời bào chữa; người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự , người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án; đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi của những người này trình bày ý kiến (Điều 217
BLTTHS). Quy định này là phù hợp với phiên tòa sơ thẩm, trên cơ sở buộc tội của Viện kiểm sát để tiến hành việc
xét hỏi cũng như tranh luận. Nhưng nếu áp dụng tương tự vào phiên tòa phúc thẩm là không hoàn toàn hợp lý. Cơ
sở cho việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, vì vậy, chủ thể kháng
cáo, kháng nghị phải là người trình bày ý kiến của mình bắt đầu quá trình tranh luận tại phiên tòa. Nếu Viện kiểm sát
kháng nghị, Kiểm sát viên là người phát biểu đầu tiên nhưng nếu Viện kiểm sát không kháng nghị mà bị cáo kháng
cáo thì bị cáo phải được phát biểu đầu tiên. Nếu có nhiều chủ thể cùng kháng cáo, kháng nghị thì trình tự phát biểu
do HĐXX xem xét và quyết định. Theo chúng tôi nên theo nguyên tắc Viện kiểm sát trình bày trước người tham gia tố
tụng và bên có ý kiến buộc tội trình bày trước. Trong luật tố tụng hình sự của một số nước cũng có quy định về vấn
đề này với những nội dung khác nhau nhưng đều theo nguyên tắc xác định trình tự phát biểu căn cứ vào chủ thể
kháng cáo, kháng nghị mà không phải luôn theo thủ tục Kiểm sát viên trình bày lời luận tội. Điều 206 BLTTHS Thái
Lan quy định: nếu một bên yêu cầu được trình bày trước thì bên đó sẽ nói trước; nếu cả hai bên đều xin nói trước thì
bên kháng cáo trình bày trước; nếu nếu cả hai bên đều xin nói trước và cả hai bên đều có đơn kháng cáo thì người
buộc tội được trình bày trước sau đó tới lượt bị cáo.[4] Điều 377 BLTTHS Liên bang Nga năm 2002 cũng quy định:
thẩm phán nghe ý kiến của bên kháng cáo hoặc kháng nghị về căn cứ đưa ra lý lẽ của mình và ý kiến phản đối của
phía bên kia. trong trường hợp có nhiều kháng cáo, kháng nghị thì trình tự phát biểu do Tòa án quyết định trên cơ sở
cân nhắc ý kiến của các bên.[5]
S.K
5
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự


hoạt động xét xử, không xem xét đánh giá các tình tiết về nội dung thực chất của vụ án hình sự mà là hoạt động xét
lại, kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định sơ thẩm. Điều 230 BLTTHS về tính chất của phúc thẩm cũng quy định:
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết
định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Vì vậy, theo chúng tôi, thủ
tục phúc thẩm các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm cần được tiến hành tương tự như thủ tục xét lại: không cần
mở phiên tòa công khai, nếu xét thấy cần thiết có thể triệu tập những người tham gia tố tụng cần thiết. Cần bổ sung
thêm vào khoản 1 Điều 253 nội dung sau: Tại phiên tòa, một thành viên của HĐXX trình bày tóm tắt nội dung vụ án,
nội dung quyết định bị kháng cáo, kháng nghị, các thành viên của HĐXX phát biểu ý kiến, đại diện Viện kiểm sát phát
biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nếu đã triệu tập người tham gia tố tụng thì những người
này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Trong trường hợp họ vắng mặt, HĐXX vẫn tiếp
tục tiến hành việc xét xử.
3. Bổ sung quy định về việc áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt của tố tụng hình sự được áp dụng để giải quyết những vụ án hình sự đối với tội
phạm ít nghiêm trọng, có tính chất quả tang, đơn giản, chứng cứ rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội có căn
cước, lai lịch rõ ràng. Thủ tục này có sự rút ngắn về thời gian, đơn giản về thủ tục nhằm giải quyết nhanh chóng vụ
án hình sự, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm nhanh chóng, hiệu quả, là một trong những giải pháp giải
quyết tình trạng tồn đọng án kéo dài và các vi phạm các quy định của BLTTHS về thời hạn có xu hướng gia tăng;
khắc phục tình trạng quá tải trong các trại tạm giam và những khó khăn trong tổ chức tạm giữ, tạm giam. Việc giải
quyết vụ án nhanh chóng sẽ tạo điều kiện để những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhanh chóng được khắc
phục, góp phần đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Thủ tục này còn tạo
điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, công sức trong việc giải quyết vụ án
những vụ án đơn giản, rõ ràng, ít nghiêm trọng, tập trung vào việc giải quyết những vụ án nghiêm trọng, phức tạp
hơn; đồng thời cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí cho những người tham gia tố tụng và giúp họ nhanh chóng
S.K
6
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

ổn định cuộc sống và tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Thủ tục này cũng đáp ứng yêu cầu của nhân dân về
việc xử lý kịp thời, nhanh chóng, chính xác các hành vi phạm tội và người phạm tội, qua đó nhanh chóng phát huy
tác dụng giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân thông qua hoạt động xét xử, góp phần vào việc phòng ngừa tội

cáo (số lượng kháng cáo, trong đó có kháng cáo của bị cáo chiếm tỉ lệ rất lớn, theo số liệu thống kê của VKSNDTC,
năm 2005, số vụ kháng cáo chiếm 93,32% số vụ tòa án cấp phúc thẩm thụ lý; năm 2006, chiếm 92,93%; năm 2007,
chiếm 93,82%)[7] và rất nhiều trường hợp họ kháng cáo chỉ xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt với tâm lý cầu
may, còn nước còn tát mà không phải vì họ phản đối việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, cũng không phải
vì bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không đảm bảo tính hợp pháp hay không có căn cứ. Có trường hợp,
người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo chỉ vì họ có quan hệ hôn nhân, huyết thống với bị cáo hoặc vì những
lý do muốn thông cảm, tha thứ cho bị cáo, muốn “làm phúc”, không muốn gây thù oán với bị cáo mà không phải vì lý
do không đồng tình với phán quyết của Tòa án (đó là một trong những nguyên nhân của việc Tòa án cấp phúc thẩm
ra quyết định không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm chiếm tỉ lệ cao trong các quyết định của Tòa
án. Theo số liệu thống kê của TANDTC, từ năm 2002 đến năm 2007 tỉ lệ này trung bình là 70,23%)[8]. Trong những
trường hợp này, thực chất không có vấn đề cần xem xét thêm về các tình tiết thuộc nội dung vụ án, cũng không cần
xem xét lại về việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm mà chỉ xem xét có thể giảm hơn nữa mức án cho bị
cáo trong điều khoản đã định hay không trên cơ sở áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS. Vì vậy, trong trường hợp này,
nếu như trước đó vụ án đã có đủ điều kiện để xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thì những điều kiện đó vẫn được
duy trì sau khi bản án bị kháng cáo, hoàn toàn có thể áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử phúc thẩm những vụ án này
mà không ảnh hưởng đến chất lượng xét xử và vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Việc hạn chế
không áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử phúc thẩm trong những trường hợp này là không cần thiết.
Quan điểm thứ hai theo hướng kiến nghị quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm đối với những
vụ án áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị là nhằm khắc phục hạn
chế về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 318 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, việc tác giả cho rằng có
S.K
7
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

thể áp dụng thủ tục rút gọn trong việc xét xử phúc thẩm đối với mọi vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn có
kháng cáo, kháng nghị theo chúng tôi là quá rộng, cần cân nhắc thận trọng hơn. Việc xét xử phúc thẩm vụ án hình
sự có thể phức tạp vì nhiều lý do:
Thứ nhất, việc bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thường làm cho tính chất của vụ án phức tạp
thêm, nhất là trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị. Viện kiểm sát kháng nghị bao giờ cũng dựa trên những lý
do mà Viện kiểm sát coi là xác đáng. Điều 32 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ

xử của Tòa án cấp dưới. Việc xét xử có theo thủ tục rút gọn hay không tùy thuộc vào tính chất đơn giản, rõ ràng, ít
nghiêm trọng của sự việc phạm tội vì xét xử lại giải quyết nội dung thực chất của vụ án, nhưng việc xét lại tính hợp
pháp và có căn cứ của tòa án cấp dưới có phức tạp hay không lại không phụ thuộc vào tính chất đơn giản, rõ ràng, ít
nghiêm trọng của sự việc phạm tội. Vì vậy, dù vụ án đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm nhưng
không có nghĩa đó là điều kiện đủ để xét xử theo thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm. Theo chúng tôi, nếu đã có những
kháng cáo, kháng nghị yêu cầu xem xét lại về tính hợp pháp hay tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm thì
việc phúc thẩm phải được tiến hành theo thủ tục chung do tính chất phức tạp của hoạt động này và do yêu cầu đòi
hỏi chất lượng cao của hoạt động xét lại.
Thứ tư, việc Viện kiểm sát, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị,
người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự bổ sung chứng cứ mới tại Tòa án cấp phúc thẩm cũng có
thể làm cho chứng cứ của vụ án trở nên phức tạp hơn, không đủ điều kiện xét xử theo thủ tục rút gọn.
Hơn nữa, nếu chúng ta tiến hành áp dụng thủ tục rút gọn đối với mọi vụ án đã áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp sơ thẩm
có kháng cáo, kháng nghị thì có thể dẫn đến tình trạng có nhiều trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sẽ phải hủy bản
án, quyết định sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại theo thủ tục chung do tính chất phức tạp của vụ án, kéo dài và làm
phức tạp thêm trình tự tố tụng. Vì vậy cần quy định theo hướng chỉ áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn phúc
S.K
8
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

thẩm khi có đủ những điều kiện cần thiết.
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, cần mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn phúc thẩm trong
trường hợp có đầy đủ những điều kiện:
- Vụ án trước đó đã được xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn;
- Bị cáo đã nhận tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm;
- Chỉ có kháng cáo theo hướng giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo của bị cáo; của ĐDHP của bị cáo chưa thành
niên; của người bị hại;
- Những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo;
- Viện kiểm sát không kháng nghị;
- Các thẩm phán được phân công xét xử phúc thẩm qua việc nghiên cứu hồ sơ hoàn toàn nhất trí là bản án sơ thẩm
hoàn toàn đúng hoặc có thể giảm nhẹ mức hình phạt trong khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

theo thủ tục chung.
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi cần phải bổ sung Điều 318 BLTTHS về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn gọn
đối với việc xét xử phúc thẩm. Cần bổ sung Điều 324a quy định về việc phúc thẩm theo thủ tục rút gọn vào Chương
XXXIV của BLTTHS với các nội dung như đã trình bày.
1] TANDTC, Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm”
của BLTTHS ngày 8/12/2005 của HĐTP TANDTC, mục 1, phần II.
[2] Vấn đề này chúng tôi đã đề cập trong bài “Một số ý kiến về việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm” (Tạp chí Luật học số 6/1996)
S.K
9
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

[3] TANDTC, Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm”
của BLTTHS ngày 8/12/2005 của HĐTP TANDTC, mục 7, phần I.
[4] VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, Bộ luật TTHS Thái Lan (bản dịch tiéng Việt), Hà Nội, 1995, tr.56.
[5] VKSNDTC, Viện khoa học kiểm sát, Bộ luật TTHS Liên bang Nga, (bản dịch tiéng Việt), Hà Nội, 2002, tr.157.
[6] Ths. Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục rút gọn, Kỷ yếu hội thảo “Thủ tục đặc biệt
trong tố tụng hình sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật hình sự, Hà Nội, 2008, tr.81.
[7] VKSNDTC, Thống kê kết quả hoạt động của VKSND năm 2005 và năm 2007.
[8] TANDTC, Báo cáo tổng kết công tác xét xử của TANDTC các năm từ 2002 đến năm 2007.
[9] Quy chế Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định
số 960/2007/QĐ-VKSNDTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC.
[10] Về vấn đề này chúng tôi đã trình bày trong bài Một só kiến nghị hạn chế việc phải chuyển từ thủ tục rút gọn sang
thủ tục chung để giải quyết vụ án. Kỷ yếu hội thảo “Thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự”, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Khoa Luật hình sự, Hà Nội, 2008.
[11] TANDTC, Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, 1976, tr. 220, 223
Theo Tạp Chí Luật học số 04/2003
Bàn về việc rút quyết định kháng nghị, quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
I. Việc rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, quyết định kháng nghị tái thẩm
1. Việc rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Chúng tôi đề nghị bổ sung quy định về việc rút kháng nghị tại phiên tòa giám đốc thẩm với lý do tại phiên tòa, sau khi
nghe trình bày bản thuyết trình về vụ án, các ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án (Khoản 2 Điều 282 BLTTHS),
người đã kháng nghị mới thấy kháng nghị không có căn cứ hoặc trái pháp luật. Trong trường hợp này không nên
tiếp tục khiên cưỡng duy trì kháng nghị. Do đó, cần quy định quyền rút kháng nghị tại phiên tòa. Nếu người đã kháng
nghị mà uỷ quyền cho người khác tham gia phiên tòa mà người được uỷ quyền thấy kháng nghị không có căn cứ
hoặc trái pháp luật thì đề nghị hoãn phiên tòa để người đã kháng nghị xem xét và quyết định. Đề xuất này cũng phù
hợp với hướng dẫn tại khoản 2 Điều 56 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC4: “…
Phó viện trưởng và kiểm sát nên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về những vấn đề đã được Viện trưởng cho
ý kiến. Nếu phải thay đổi cơ bản quan điểm đã được Viện trưởng cho ý kiến thì đề nghị hoãn phiên tòa để báo cáo
Viện trưởng xem xét và quyết định”. (Khoản 2 Điều 281 BLTTHS chỉ quy định hoãn phiên tòa trong trường hợp Hội
đồng giám đốc thẩm biểu quyết đồng ý và không đồng ý với kháng nghị mà không có loại ý kiến nào được quá nửa
tổng số thành viên của Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán tán thành. Theo chúng tôi, cần quy định thêm trường
hợp hoãn phiên theo đề nghị của người được uỷ quyền tham gia phiên tòa khi thấy kháng nghị không có căn cứ
hoặc trái pháp luật để người đã kháng nghị xem xét và quyết định).
Việc hoãn phiên tòa để người đã kháng nghị xem xét, quyết định tiếp tục giữ nguyên kháng nghị (có thể bổ sung
chứng cứ, lập luận) hay rút kháng nghị tuy làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài nhưng cần thiết vì điều đó thể hiện
sự cân nhắc, thận trọng trong kháng nghị và xét xử. Với định hướng tổ chức lại hệ thống tòa án theo cấp xét xử,
không còn nhiều cấp giám đốc thẩm như hiện nay, thì sự cân nhắc, thận trọng càng được đòi hỏi mạnh mẽ hơn.
c. Nội dung, hình thức và thủ tục rút kháng nghị
BLTTHS không quy định nội dung, hình thức và thủ tục rút kháng nghị giám đốc thẩm.
Điều 54 Quy chế số 960 ngày 17/9/2007 quy định trước khi bắt đầu phiên tòa giám đốc thẩm Viện trưởng Viện kiểm
sát đã kháng nghị rút kháng nghị có quyền rút kháng nghị bằng văn bản nêu rõ lý do. Quyết định rút kháng nghị được
gửi cho Tòa án sẽ xét xử giám đốc thẩm và hồ sơ vụ án; Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định bị kháng nghị; người
bị kết án và những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc kháng nghị; Viện kiểm sát cấp trên để báo cáo và
Viện kiểm sát cấp dưới, Viện kiểm sát đã đề nghị kháng nghị, vụ (hoặc phòng) kiểm sát giam giữ cải tạo và vụ (hoặc
phòng) kiểm sát thi hành án để theo dõi. Trong trường hợp Viện trưởng VKSNDTC uỷ quyền cho Phó Viện trưởng
phụ trách khối ký kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cấp tỉnh thì quyết định rút kháng nghị phải gửi cho Viện trưởng VKSNDTC để báo cáo.
Hướng dẫn của Quy chế cần được tham khảo để pháp điển hoá nội dung, hình thức và thủ tục rút kháng nghị giám

Về việc gửi, thông báo quyết định đình chỉ giám đốc thẩm cần quy định tương tự khoản 2 Điều 288 BLTTHS: Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giám đốc thẩm, Tòa án xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định
đình chỉ giám đốc thẩm cho người bị kết án, người kháng nghị, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan công an nơi đã xử sơ
thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ
chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.
Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng cần ban hành mẫu quyết định đình chỉ giám đốc thẩm.
2. Việc rút quyết định kháng nghị tái thẩm
BLTTHS không quy định việc rút kháng nghị tái thẩm.
Trong thực tế có trường hợp đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thấy kháng nghị không có căn cứ nên không thể giữ
nguyên quan điểm kháng nghị nhưng cũng không thể rút kháng nghị. Ví dụ:
Vào 13h30’ ngày 22/7/1988, Vũ Văn Dũng cùng đồng bọn hiếp dâm chị Vũ Thị M tại hang đá nhà thờ Phát Diệm.
Sau khi phạm tội, Dũng tự thú và khai báo gian dối họ tên là Trần Văn Dũng. Khi được tại ngoại, Dũng bỏ trốn khỏi
địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vắng mặt và kết án bị cáo Trần Văn Dũng 6 năm tù về tội hiếp dâm.
Dũng kháng cáo xin giảm hình phạt. Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử vắng mặt bị cáo và giữ nguyên quyết định của
bản án sơ thẩm đối với Trần Văn Dũng. Tòa án đã ra quyết định thi hành án phạt tù đối với Trần Văn Dũng. Cơ quan
công an đã ra lệnh truy nã đối với Trần Văn Dũng vào các năm 1992, 1999 và 2001. Sau khi bị bắt vào ngày
09/10/2001 theo lệnh truy nã, Dũng khai họ tên thật là Vũ Văn Dũng. Qua lời khai của Dũng và các tài liệu xác minh
theo thủ tục tái thẩm có căn cứ xác định Trần Văn Dũng có họ tên thật là Vũ Văn Dũng, con ông Vũ Đình Thi và bà
Trần Thị Hiên, là người phạm tội hiếp dâm năm 1988 và đã bị tòa án kết án 6 năm tù.
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm đề nghị huỷ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để
điều tra lại với lý do bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm xác định không đúng họ của bị cáo. Tại phiên tòa tái thẩm,
đại diện viện kiểm sát thấy tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp
luật; việc sai lầm của các Tòa án này về họ của bị cáo chỉ cần sửa lại bằng cách đính chính bản án, chứ không cần
huỷ bản án để điều tra lại như kháng nghị tái thẩm yêu cầu. Tuy nhiên, BLTTHS không quy định Việc rút kháng nghị
tái thẩm nên đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng tái thẩm giữ nguyên bản án phúc thẩm để Tòa án cấp phúc
thẩm đính chính họ của người bị kết án theo đúng kết quả xác minh. Hội đồng tái thẩm căn cứ Điều 296 và Điều 298
BLTTHS quyết định không chấp nhận kháng nghị tái thẩm và giữ nguyên bản án phúc thẩm; yêu cầu tòa án cấp
phúc thẩm đính chính bản án phúc thẩm cho đúng họ tên bị cáo và bố mẹ của bị cáo6.
Việc đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng tái thẩm giữ nguyên bản án phúc thẩm là ngược lại với

04/10/2001 Viện trưởng VKSNDTC cũng có quyết định không kháng nghị quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban
thẩm phán TANDTC đối với M. Sau khi có các quyết định nói trên, gia đình người bị kết án có nhiều đơn khiếu nại,
một số đại biểu Quốc hội và lãnh đạo một số cơ quan chức năng cũng có văn bản đề nghị TANDTC và VKSNDTC
xem xét lại vụ án. Tại quyết định kháng nghị số 35/HS-TK ngày 18/8/2003, Chánh án TANDTC rút quyết định không
kháng nghị số 125/TK ngày 31/8/2001 của Chánh án TANDTC, đề nghị Hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử giám
đốc thẩm giảm hình phạt cho M xuống tù chung thân9. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Viện trưởng VKSNDTC cũng rút
quyết định không kháng nghị số 130/KSXXHS ngày 04/10/2001 của Viện trưởng VKSNDTC10.
Vụ án trên được giải quyết trước khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực pháp luật nhưng những vấn đề pháp lý đặt ra
vẫn còn nguyên giá trị: cần bổ sung vào BLTTHS hiện hành quy định về việc rút quyết định không kháng nghị giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm theo thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành trong trường hợp quyết định không
kháng nghị không có căn cứ hoặc trái pháp luật.
1. Trừ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC vì đây là quyết định của cơ quan xét xử cao nhất.
2. Phan Thị Thanh Mai, “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2007, Tr.
157-163.
3. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
4. Sau đây viết tắt là Quy chế Số 960
5. Phan Thị Thanh Mai, “Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2007, Tr.
165.
6. Quyết định tái thẩm số 17/HĐTP-HS ngày 29/9/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC.
7. Trường hợp người bị kết án không xin ân giảm thì bản án tử hình được thi hành nếu tòa án xử sơ thẩm đã nhận
được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng
VKSNDTC; hoặc đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của TANDTC giữ nguyên bản án
tử hình. Trường hợp người bị kết án xin ân giảm thì bản án tử hình được thi hành nếu tòa án xử sơ thẩm đã nhận
được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC, quyết định không kháng nghị của Viện trưởng
VKSNDTC và bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình; hoặc đã nhận được
quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của TANDTC giữ nguyên bản án tử hình và bản sao quyết định
của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình.
S.K
13
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

diện. Các tình tiết do các bên đưa ra mà không có căn cứ vững chắc để chứng minh thì không được sử dụng làm
chứng cứ.
Những vấn đề bổ trợ cần chứng minh trong các vụ án hình sự là những dữ liệu được đưa ra bởi người làm chứng
hoặc những dữ liệu khác được thừa nhận là chứng cứ, chúng đơn thuần là vấn đề được điều chỉnh bằng luật chứng
cứ chứ không liên quan đến luật nội dung và cũng không liên quan đến việc bào chữa. Ví dụ: nếu có căn cứ cho
rằng giữa người làm chứng và người đã yêu cầu họ làm chứng (bị cáo hoặc người bị hại) có mối quan hệ với nhau
mà có thể dẫn đến việc người làm chứng sẽ khai thiên vị cho người đó thì trong cuộc thẩm vấn người làm chứng sẽ
được hỏi về mối quan hệ đó. Nếu người làm chứng không thừa nhận mối quan hệ với người đã yêu cầu mình làm
chứng thì phía bên kia có thể chứng minh mối quan hệ đó, nếu có thể.
Một ví dụ về sự thừa nhận chứng cứ với tư cách là dữ liệu bổ trợ là khi bản gốc của một tài liệu có liên quan trong vụ
án bị mất, bản photo chỉ được thừa nhận là chứng cứ nếu chứng minh được là bản gốc không còn nữa. Điều đó có
thể hiểu, việc chứng minh tài liệu gốc không còn tồn tại nữa để bản photo có thể được chấp nhận là chứng cứ chỉ
đơn thuần là việc xác định tài liệu đó có thể được chấp nhận là chứng cứ hay không chứ chưa xác định về nội dung
và giá trị chứng minh của tài liệu đó. Nếu tài liệu đó được đưa ra bởi công tố viên hay bị cáo mà nội dung của nó liên
quan đến việc buộc tội hay gỡ tội thì giá trị chứng minh của tài liệu đó lại được xác định là vấn đề chính cần chứng
minh trong vụ án hình sự.
S.K
14
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

Tóm lại, luật chứng cứ của úc không quy định cụ thể những vấn đề cần chứng minh mà chỉ ghi nhận những dữ liệu
công tố viên cần chứng minh để bảo vệ sự buộc tội của mình và những dữ liệu bị cáo đưa ra để bào chữa cho mình
là những dữ liệu chính; những dữ liệu được đưa ra bởi người làm chứng và những dữ liệu khác được thừa nhận là
chứng cứ với tư cách là những dữ liệu bổ trợ. Luật chứng cứ của úc không đề cập cụ thể đến những dữ kiện mà
người bị hại đưa ra được xác định là vấn đề chính hay vấn đề bổ trợ cần chứng minh trong các vụ án hình sự. Tuy
nhiên, căn cứ vào tinh thần chung, có thể hiểu những vấn đề người bị hại đưa ra thuộc nhóm những vấn đề chính
cần chứng minh vì nó liên quan trực tiếp đến việc buộc tội đối với bị cáo. Có thể nó hỗ trợ cho các chứng cứ được
đưa ra bởi công tố viên nhưng cũng không loại trừ trường hợp người bị hại đưa ra các chứng cứ có lợi cho bị cáo.
Cho dù các tình tiết họ đưa ra có lợi hay bất lợi cho bị cáo thì Toà án vẫn cần phải xem xét và nó liên quan trực tiếp
đến việc buộc tội nên cần được xác định là vấn đề chính cần chứng minh trong các vụ án hình sự. Đối với các vụ án

Thông thường các bên tham gia tố tụng cố gắng chứng minh các tình tiết có lợi cho mình bằng cách trực tiếp khai
hoặc yêu cầu người làm chứng cho mình nhưng trong nhiều trường hợp biện pháp hữu hiệu người tham gia tố tụng
sử dụng để bảo vệ quyền lợi cho mình là tự mình hoặc yêu cầu người làm chứng bác bỏ những gì mà người khác
khai là đã được nghe kể lại. Đây là nguyên tắc phản bác chứng cứ nghe kể lại. Nguyên tắc này là một nguyên tắc
được thừa nhận chứ không được quy định trong bất cứ một đạo luật nào và cũng chưa bao giờ được trình bày một
cách rõ ràng. Khi xem xét nguyên tắc này cần lưu ý:
- Nếu lời khai của người được nghe kể lại phù hợp với lời khai của người làm chứng mà trước đó đã bị xác định là
không được chấp nhận là chứng cứ thì cho dù lời khai đó được xác nhận là đúng như những gì đã được nghe kể lại
thì nó cũng đương nhiên không được chấp nhận là chứng cứ. Nếu lời khai của người được nghe kể lại không phù
hợp với lời khai của người đã kể thì họ sẽ bị chất vấn xem có phải đã tự tạo ra lời khai đó hay không. Nếu đó là lời
khai họ tự tạo ra thì chắc chắn sẽ bị bác bỏ. Trong trường hợp lời khai của người được nghe kể lại hoàn toàn phù
hợp với lời khai của người đã trực tiếp chứng kiến sự việc mà lời khai của người trực tiếp chứng kiến sự việc đã
S.K
15
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

được thừa nhận là chứng cứ thì theo nguyên tắc đánh giá lời khai của người làm chứng, những tình tiết do người
được nghe kể lại đã được chứng minh bởi một người làm chứng khác sẽ không được chấp nhận là chứng cứ.
- Nguyên tắc phản bác lời khai nghe kể lại phải được áp dụng thật nghiêm ngặt. Về nguyên tắc, lời khai của người
được nghe kể lại, không phải là người chứng kiến sự việc thì không được sử dụng làm chứng cứ (trừ trường hợp
đặc biệt). Lý do là vì người trình bày lời khai không có hiểu biết của riêng mình về tình tiết đã khai báo mà chỉ là
được nghe kể lại và thường bên phản bác lại không có cơ hội để chất vấn người đã kể tình tiết đó. Còn trong trường
hợp người đã nói ra thông tin đó cũng đã cung cấp chứng cứ thì như trên đã phân tích, lời khai của người được
nghe kể lại không có giá trị nữa.
Lời khai của người nghe kể lại chỉ có thể được chấp nhận nếu họ được nghe lại từ một bên đương sự trong vụ án,
những trường hợp khác khó được chấp nhận vì độ tin cậy không cao. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp lời khai
của người được nghe lại từ một bên đương sự đều được chấp nhận là chứng cứ mà chỉ trong những trường hợp
đặc biệt. Ví dụ: A bị truy cứu trách nhiệm hình sự vể tội giết người. Người bị hại trong vụ án này là B. Khi hấp hối B
nói với X: “Tôi biết là không còn hy vọng sống được nữa. A đã bắn tôi. Anh xem A đã bị bắt chưa”. Sau đó B chết.
Trong trường hợp này lời khai của X là người được nghe lời trăng trối của B khi hấp hối được chấp nhận là chứng

những loại chứng cứ khác nhưng khi đã được xác lập thì chúng được thừa nhận là chứng cứ. Mọi cuộc thẩm tra
phải có người chứng kiến. Nếu không có người chứng kiến thì kết quả của cuộc thẩm tra đó không được chấp nhận
là chứng cứ. Việc tiến hành thẩm tra do Toà án quyết định, không phụ thuộc vào việc các bên tham gia tố tụng có
đồng ý hay không.
S.K
16
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

- Các loại thiết bị ghi thu:
Luật chứng cứ của úc đã thừa nhận các phương tiện truyền thông như phim, băng video và máy tính là phương tiện
chứng minh. Riêng đối với giá trị chứng minh của băng ghi âm (tape-recording) vẫn còn là vấn đề đang được bàn
luận.
Đối với các dữ liệu được lưu giữ trong phim, băng video và máy tính mà được chứng minh là những dữ liệu thật,
không phải do các bên cố tạo ra, và có liên quan đến các tình tiết của vụ án thì chúng được xác định là chứng cứ
trong các vụ án hình sự.
Ví dụ: Toà án có thể để cho người làm chứng nhận dạng bị cáo qua băng hình nếu họ đã từng biết về bị cáo, đã
quan sát đặc điểm cá nhân cũng như phong cách, cách đi đứng hàng ngày của bị cáo. Việc nhận dạng của người
làm chứng sẽ chính xác hơn là bồi thẩm đoàn chỉ quan sát bị cáo tại phiên toà và quan sát băng hình.
Mặc dù giá trị chứng minh của băng ghi âm vẫn đang được tranh cãi, trong một số vụ án cụ thể, chúng cũng đã
được đưa ra xem xét để xác định giọng nói, xác định nguồn gốc băng… Ngay cả khi băng đó chỉ là bản sao, nếu
không có bản gốc, thì cũng được đưa ra để xem xét nhưng Toà án phải thật thận trọng khi đánh giá tính khách quan
của bản sao. Cho đến nay chưa có một nguyên tắc nào liên quan đến việc sử dụng băng ghi âm. Trong những tình
huống cụ thể có thể áp dụng một nguyên tắc chung nào đó về sự thừa nhận chứng cứ để thừa nhận băng ghi âm là
phương tiện chứng minh. Khi nghe lại băng ghi âm, nếu ngữ điệu giọng nói trong đó phù hợp với ngữ điệu giọng nói
của người được đưa ra đối chiếu thì sự thừa nhận chứng cứ được đặt ra là cần thiết. Cũng cần coi là chứng cứ nếu
giọng nói trong băng được thừa nhận bởi một trong các bên đương sự.
Đối với những loại thiết bị ghi thu mới lạ thì Toà án sẽ yêu cầu chuyên gia có kiến thức chuyên môn kiểm tra hoạt
động, tính năng của phương tiện đó để cân nhắc, xác định giá trị chứng minh của chúng.
- Sơ đồ, bản đồ: Sơ đồ, bản đồ có thể được dùng để minh hoạ, giải thích rõ hơn về một chứng cứ nào đó. Trong
những trường hợp cần thiết Toà án có thể yêu cầu chuyên gia đánh giá tính chíh xác, trung thực của bản sơ đồ, bản

một người khác thì lời khai của họ được xem xét theo nguyên tẵc đánh giá chứng cứ nghe kể lại.
Chứng cứ gián tiếp là những dữ kiện không trực tiếp được dùng để chứng minh các tình tiết của vụ án mà chỉ dùng
để suy luận ra sự tồn tại của những tình tiết khác. Ví dụ như tại phiên toà xét xử vụ án giết người, người làm chứng
khai đã nhìn thấy bị cáo cầm con dao có vết máu ở cửa ngôi nhà nơi nạn nhân bị giết. Trên cơ sở đó công tố viên đề
nghị bồi thẩm đoàn trước hết yêu cầu người làm chứng cam đoan mình đã khai sự thật, sau đó dựa vào đó và kết
hợp với các chứng cứ khác để suy luận bị cáo đã gây ra cái chết cho nạn nhân.
Khi sử dụng chứng cứ gián tiếp cần phải xem xét thận trọng hơn so với chứng cứ trực tiếp để đảm bảo tính khách
quan và giá trị chứng minh của loại chứng cứ này.
Theo cách phân loại trên, theo chúng tôi, chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp chưa được phân định rạch ròi,
chưa thể hiện rõ sự khác biệt giữa 2 loại chứng cứ này. Theo cách phân loại này sẽ có những chứng cứ không thể
xác định được chúng thuộc loại nào. Ví dụ khi bị cáo nhận tội thì lời khai của bị cáo dứt khoát không phải là chứng
cứ gián tiếp nhưng nó cũng không thể là chứng cứ trực tiếp theo nghĩa đã trình bày. Tuy nhiên có thể thấy sự phân
loại trên chỉ là tương đối. Theo luật chứng cứ của úc, việc so sánh giá trị chứng minh của chứng cứ trực tiếp và
chứng cứ gián tiếp không được đặt ra. Mặc dù chứng cứ gián tiếp không chứng minh được sự việc xảy ra nhưng khi
kết hợp với các chứng cứ khác thì chúng có giá trị chứng minh các tình tiết của vụ án. Ví dụ bản thân vết máu trên
lưỡi dao không có giá trị chứng minh nhưng khi kết hợp với các tình tiết khác như sự thù oán của bị cáo đối với nạn
nhân, bị cáo có gắng che giấu con dao… có thể cho phép xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Toà
án phải xem xét một cách khách quan, toàn diện các chứng cứ đã thu thập được.
3.2. Chứng cứ gốc (Primary evidence) và chứng cứ thứ cấp (Secondarry evidence)
Cách phân loại này dựa vào nguồn gốc xuất sứ của chứng cứ. Những tài liệu gốc được sử dụng để chứng minh các
tình tiết của vụ án được xác định là chứng cứ gốc. Ví dụ: giấy chứng nhận động sản bị đánh cắp trong ví dụ đã nêu
ở phần trên. Các bản sao của các loại văn bản, tài liệu khi được sử dụng để chứng minh sẽ là chứng cứ thứ cấp. Ví
dụ khi bản gốc của tài liệu được chứng minh là không còn tồn tại nữa, bản sao của tài liệu đó có thể được chấp
nhận là chứng cứ và là chứng cứ thứ cấp.
Về giá trị của chứng cứ gốc và chứng cứ thứ cấp, luật chứng cứ của úc thừa nhận chứng cứ gốc có giá trị chứng
minh cao hơn chứng cứ thứ cấp vì độ tin cậy của loại chứng cứ này cao hơn.
4. Một số nguyên tắc về chứng cứ
Luật chứng cứ của úc không quy định cụ thể về các nguyên tắc của luật chứng cứ hay nguyên tắc đánh giá, sử dụng
chứng cứ… Qua tìm hiểu các quy định chung có thể rút ra một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan của lời khai của người làm chứng. Nguyên tắc này đòi hỏi người làm chứng

được sửa đổi, bổ sung đáng kể nhưng các quy định của Bộ luật về hoạt động của người bào chữa tại phiên toà hầu
như không có sự thay đổi. Thực tế áp dụng các quy định của BLTTHS trong thời gian qua cho thấy các quy định của
BLTTHS về vai trò của người bào chữa tại phiên toà([1]) chưa thực sự hợp lí và còn nhiều bất cập khi áp dụng
những quy định này trong thực tiễn. Trong khoa học luật tố tụng hình sự gần đây đã có một số công trình đề cập
những bất cập đó.([2]) Trong bài viết này chúng tôi tiếp cận vấn đề dưới góc độ so sánh vị trí của người bào chữa tại
phiên toà theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và trong hệ thống tố tụng hình sự của Úc với mong muốn rút ra được
những bài học bổ ích và đưa ra những kiến nghị sửa đổi một số quy định của BLTTHS hiện hành về vấn đề này.
Trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, vị trí của người bào chữa tại phiên toà hình sự sơ thẩm được quy định tại các
điều luật sau: Điều 19 (đảm bảo quyền bình đẳng trước toà án), Điều 190 (sự có mặt của người bào chữa), Điều 207
(trình tự xét hỏi), các điều từ Điều 209 đến Điều 215 (quy định về thủ tục xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại
chỗ…), Điều 217 (trình tự phát biểu khi tranh luận) và Điều 218 (đối đáp).
Theo quy định của Điều 19 BLTTHS, tại phiên toà, người bào chữa có quyền bình đẳng với kiểm sát viên, người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu,
đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước toà án. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho người bào chữa
thực hiện những quyền này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Tại phiên toà, vai trò của người bào
chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo được thể hiện trong thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh
luận.
2. Vai trò của người bào chữa trong thủ tục xét hỏi được quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS như sau:
“Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các hội thẩm, sau đó đến kiểm sát viên, người bào chữa,
người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên
tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc
giám định”.
Có thể nói quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS là biểu hiện sinh động nhất của hệ thống tố tụng xét hỏi đã và
đang tồn tại ở Việt Nam và một số nước, ví dụ như Trung Quốc. Theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTHS Việt
Nam, khi xét hỏi người có quyền đặt câu hỏi đầu tiên là thẩm phán, sau đó đến hội thẩm, rồi đến kiểm sát viên. Chỉ
sau khi những người tiến hành tố tụng kết thúc việc xét hỏi thì người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của
đương sự mới có quyền đặt câu hỏi. Trên thực tế, các câu hỏi đối với người bị xét hỏi đại đa số được đặt ra bởi
thẩm phán, hội thẩm và kiểm sát viên. Khi những người này tiến hành xét hỏi, thông thường chủ toạ phiên toà không
khống chế về mặt thời gian nhưng khi người bào chữa đặt câu hỏi với người bị xét hỏi, họ thường bị chủ toạ phiên
toà ngắt lời và hạn chế thời gian hỏi.([3]) Câu hỏi đặt ra ở đây là: Vai trò của thẩm phán (và cả hội thẩm) trong thủ

người trọng tài công minh, đứng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Với tư cách là người trọng tài, họ không tham gia
vào việc xét hỏi mà chỉ kiểm tra, đánh giá chứng cứ các bên đưa ra. Ở Việt Nam, thẩm phán vừa là người tiến hành
xét hỏi vừa là người phân xử. Khi tiến hành xét hỏi, thẩm phán phải xét hỏi một cách khách quan, toàn diện và đầy
đủ nhưng trên thực tế thì khi xét hỏi thẩm phán cũng như kiểm sát viên thường chỉ tập trung vào các chứng cứ buộc
tội đối với bị cáo. Khi nghiên cứu hệ thống tố tụng xét hỏi, các học giả phương Tây cho rằng hệ thống tố tụng này
được xem như một cuộc điều tra (an inquest);([6]) nhà nước chỉ quan tâm đến kết quả của quá trình tố tụng và muốn
những người làm công tác điều tra tìm ra càng nhiều sự thật càng tốt([7]) và hệ thống này quan tâm đến chứng cứ
trong hồ sơ hơn là chứng cứ được đưa ra tại phiên toà.([8]) Hơn thế nữa, họ cho rằng vì truớc khi xét xử thẩm phán
đã nghiên cứu hồ sơ nên dễ có cái nhìn định kiến đối với bị cáo. McEwan cho rằng trong hệ thống tố tụng xét hỏi, sự
xét hỏi được định hướng bởi niềm tin rằng tội phạm (được đem ra xét xử) chắc chắn đã được thực hiện.([9]) Dường
như những nhận định trên rất đúng với thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam.
Một sự khác biệt nữa giữa hệ thống tố tụng xét hỏi và hệ thống tố tụng tranh tụng mà sự khác biệt này dẫn đến các
quy định của pháp luật về thủ tục xét hỏi tại phiên toà khác nhau, đó là sự khác nhau trong việc phân định các chức
năng truy tố, xét xử và bào chữa. Trong hệ thống tố tụng tranh tụng, sự phân định này rất rõ ràng: Công tố viên giữ
quyền công tố, luật sư có chức năng bào chữa và thẩm phán đóng vai trò của người “trọng tài”. Trong hệ thống tố
tụng tranh tụng, thẩm phán không tham gia vào việc xét hỏi như ở Việt Nam. Sự chuyên biệt hoá vai trò của thẩm
phán với tư cách là người trọng tài giúp họ thực hiện chức năng của mình tốt hơn và đánh giá chứng cứ một cách
khách quan hơn. Ngược lại, trong hệ thống tố tụng xét hỏi, chức năng của thẩm phán và chức năng của kiểm sát
viên dường như bị chồng chéo. Theo quy định tại Điều 10 BLTTHS Việt Nam, trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng (bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án). Tại phiên toà, thẩm
phán ngoài trách nhiệm của người “trọng tài” còn mang trách nhiệm chung là chứng minh tội phạm, giống như kiểm
sát viên. Việc BLTTHS quy định thẩm phán là người đặt câu hỏi đầu tiên đối với người bị xét hỏi cũng phần nào thể
hiện trách nhiệm của thẩm phán trong việc chứng minh tội phạm.
Gần đây, trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam, một số tác giả đã đề xuất sửa đổi các quy định của BLTTHS
về thủ tục xét xử theo hướng quy định chủ thể của việc xét hỏi chỉ là kiểm sát viên và người bào chữa, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự.([10]) Thẩm phán và hội thẩm không tham gia xét hỏi mà chỉ đặt câu hỏi khi thấy cần thiết
làm sáng tỏ các câu trả lời của người bị xét hỏi. Chúng tôi đồng ý với đề xuất này. Cụ thể, chúng tôi kiến nghị sửa
đổi trình tự xét hỏi tại phiên toà (khoản 2 Điều 207 BLTTHS) theo hướng quy định khi xét hỏi kiểm sát viên hỏi trước
rồi đến người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Thẩm phán và hội thẩm chỉ đặt câu hỏi khi thấy
cần làm rõ các tình tiết trong lời khai của người bị xét hỏi.

Thứ ba, khi người bào chữa đưa ra vấn đề yêu cầu tranh luận với kiểm sát viên, trong nhiều trường hợp kiểm sát
viên không đáp lại ý kiến của người bào chữa và chủ toạ phiên toà cũng không yêu cầu kiểm sát viên đối đáp với
người bào chữa.([13]) Theo quy định tại Điều 218 BLTTHS, chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị kiểm sát viên phải
đáp lại ý kiến của người bào chữa nếu ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Tuy nhiên, vì đây là quyền của
chủ toạ phiên toà nên chủ toạ phiên toà có thể thực hiện, có thể không. Theo chúng tôi luật nên quy định đây vừa là
quyền vừa là nghĩa vụ của chủ toạ phiên toà, có nghĩa là khi người bào chữa hoặc người tham gia tranh luận khác
đưa ra vấn đề yêu cầu tranh luận với kiểm sát viên, nếu vấn đề đó chưa được tranh luận mà kiểm sát viên không tự
nguyện tham gia tranh luận, chủ toạ phiên toà phải yêu cầu kiểm sát viên đáp lại ý kiến của người bào chữa hoặc
người tham gia tranh luận khác, có như vậy mới đảm bảo việc tranh luận công khai tại phiên toà theo tinh thần cải
cách tư pháp.
Ở Úc nói riêng và ở các nước theo hệ thống tố tụng tranh tụng nói chung, việc tranh luận tại phiên toà được thực
hiện rất nghiêm túc, công khai. Bản chất của hệ thống tố tụng tranh tụng là “sự tranh cãi giữa các bên”([14]) và như
đã nói ở phần trên, hệ thống tố tụng này coi trọng việc trực tiếp trình bày của các bên tại phiên toà hơn là những
chứng cứ có trong hồ sơ. Bởi vậy, tất cả các tình tiết được đưa ra bởi bên buộc tội và bên gỡ tội tại phiên toà đều
phải được tranh luận công khai.
Ở Việt Nam, có thể thấy các quy định của pháp luật về chủ thể tham gia và trình tự tranh luận tại phiên toà tương đối
hợp lí. Tuy nhiên, luật chưa có được quy định đủ chặt để đảm bảo những quy định này được thực thi trên thực tế.
Chúng tôi kiến nghị: Điều 218 BLTTHS cần sửa đổi theo hướng quy định khi người bào chữa và những người tham
gia tố tụng khác đưa ra các tình tiết yêu cầu kiểm sát viên tranh luận, kiểm sát viên có nghĩa vụ phải đáp lại ý kiến đó
nếu những ý kiến đó chưa được kiểm sát viên tranh luận. Chủ toạ phiên toà phải có trách nhiệm đảm bảo việc đối
đáp giữa kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
4. Kể từ khi Nghị quyết của Bộ chính trị số 08/NQ-TW được ban hành năm 2001, có thể nói rằng mặc dù các quy
định của BLTTHS (2003) về thủ tục tố tụng tại phiên toà không có sự thay đổi so với trước đây song trên thực tế, vai
trò của luật sư bào chữa tại phiên toà dần dần được đánh giá cao hơn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy do nhiều
nguyên nhân (như các quy định về thủ tục xét hỏi chưa hợp lí; quy định về trách nhiệm của chủ toạ phiên toà trong
thủ tục tranh luận chưa chặt chẽ và do những người tiến hành tố tụng chưa thực sự triệt để tuân thủ các quy định
của pháp luật…), người bào chữa chưa thực sự phát huy hết được vai trò của mình trong việc bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của bị cáo. Chúng tôi đề xuất sửa đổi các quy định của Điều 207 (trình tự xét hỏi) và Điều 218 (đối
đáp) nhằm đề cao hơn nữa vai trò của người bào chữa tại phiên toà và tạo điều kiện cho họ thực hiện chức năng
cao cả của mình là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Với sự thay đổi này, hệ thống tố tụng hình sự

([11]).Xem: http://ngoisao.net/News/Hinhsu/2007/08/ 3B9C0156/
([12]). Khảo sát được tiến hành bởi tác giả để phục vụ cho việc viết luận án tiến sĩ với đề tài: “Vai trò của luật sư bào
chữa ở Việt Nam”.
([13]).Xem: Lê Phú Thịnh, Tlđd.
([14]).Xem: Koppen and Penrod, Sđd.
Theo Tạp chí Luật học số 7/2008
Tư pháp hình sự và yêu cầu tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự
TS Trần Ngọc Tuệ – Bộ Quốc phòng
1. Quan niệm về hoạt động tư pháp hình sự
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống chính trị – pháp luật ở Việt Nam về cơ bản đã đạt
S.K
22
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

được sự thống nhất chung khi quan niệm hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền tư pháp. Tuy
nhiên, khi quan niệm về phạm vi quyền tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự, chủ thể tiến hành hoạt động tư pháp
hình sự, lại đang tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Khái quát lại có 4 loại ý kiến sau đây:
Loại ý kiến thứ nhất quan niệm về quyền tư pháp theo nghĩa hẹp. Những người ủng hộ ý kiến này lập luận rằng
quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng
đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các
chủ thể pháp luật. Do vậy, chủ thể thực hiện quyền tư pháp chỉ là Tòa án và hoạt động tư pháp hình sự chỉ là hoạt
động xét xử.
Loại ý kiến thứ hai quan niệm về quyền tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự theo một nghĩa rộng rãi nhất. Những
người ủng hộ ý kiến này cho rằng, tư pháp là xét xử. Để giải quyết các tranh chấp pháp luật, các vi phạm pháp luật
thì ngoài Tòa án là cơ quan được giao chức năng thay mặt Nhà nước ra phán quyết, còn có sự tham gia của nhiều
cơ quan, tổ chức khác. Các cơ quan, tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho phán quyết của Tòa
án được chính xác, khách quan. Vì vậy, việc thực hiện quyền tư pháp, tức là quyền thay mặt Nhà nước phán quyết
về xung đột pháp lý, vi phạm pháp luật là của Tòa án, nhưng để đi đến phán quyết đó lại không chỉ là nhiệm vụ của
riêng Tòa án. Do vậy, hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào
việc giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

công chứng, giám định, bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án không thuộc phạm vi của hoạt động tư pháp hình
sự mà thực chất chỉ là hoạt động bổ trợ cho hoạt động tư pháp, góp phần giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự
được đúng đắn, khách quan.
Trên cơ sở những phân tích nêu trên có thể thấy hoạt động tư pháp hình sự có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền tư pháp. Do vậy, hoạt động tư pháp hình sự mang tính
quyền lực nhà nước.
- Hoạt động tư pháp hình sự phải được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp, là những việc làm cụ thể của các cơ
quan tư pháp gắn với quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
S.K
23
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

- Hoạt động tư pháp hình sự phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù và quy trình, thủ tục tố tụng chặt chẽ quy định
trong các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự.
- Hoạt động tư pháp hình sự phải hướng đến mục tiêu giải quyết vụ án chính xác, khách quan, bảo vệ công lý, công
bằng xã hội.
Tham khảo kinh nghiệm các nước cho thấy, mỗi quốc gia cũng có cũng quan niệm không giống nhau về quyền tư
pháp, hoạt động tư pháp và chủ thể thực thi quyền tư pháp. Sự khác nhau này được lý giải từ sự khác nhau về bản
chất, mục đích, đặc điểm quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia, sự khác nhau của các yếu tố lịch sử, kinh tế, văn hoá,
xã hội của mỗi nước… Theo quy định tại khoản 1 Điều III của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thì “Quyền lực tư
pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án nhân dân tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập
trong một số trường hợp”. Điều 76 của Hiến pháp Nhật Bản quy định “Toàn bộ quyền tư pháp được trao cho Toà án
tối cao và các Tòa án cấp dưới được thành lập theo pháp luật…”. Trong khi đó, thể chế hiện hành của Trung Quốc
quy định quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử và quyền kiểm sát, cơ quan tư pháp gồm Tòa án và Viện kiểm sát
(1).
Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ đầu thành lập Nhà nước cách mạng, quan niệm về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp
hình sự, chủ thể tiến hành hoạt động tư pháp hình sự đã được thể hiện theo nghĩa rộng. Điều 63 của Hiến pháp năm
1946 quy định “Cơ quan tư pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có Tòa án tối cao, các Toà phúc thẩm, các
Toà đệ nhị cấp và sơ cấp”. Tuy nhiên, xét từ góc độ cơ cấu tổ chức và hoạt động thì hoạt động của Tòa án không chỉ
bao gồm hoạt động xét xử của “thẩm phán ngồi” mà còn bao gồm hoạt động điều tra của tư pháp công an và hoạt

pháp đặt ra để kiểm tra, giám sát các bộ phận thuộc hệ thống mình trong quá trình thực thi thẩm quyền tư pháp. Đó
là hoạt động thanh tra, kiểm tra của bộ phận thanh tra công vụ, hoạt động kiểm tra của cơ quan tiến hành tố tụng cấp
trung ương với cơ quan tiến hành tố tụng địa phương, hoạt động kiểm tra của cơ quan tiến hành tố tụng cấp trên với
S.K
24
Tài liệu môn Luật Tố Tụng Hình Sự

cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới… Hoạt động tự kiểm tra từ bên trong của mỗi hệ thống có mục đích bảo đảm
cho các chủ thể thuộc hệ thống của mình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống bao gồm hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước đối với cơ quan
thực thi quyền tư pháp, còn gọi là giám sát nhà nước (ở nước ta là hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân và giám sát của Viện kiểm sát) và giám sát do các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và
công dân trực tiếp thực hiện, còn gọi là giám sát xã hội.
Như đã phân tích ở trên, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là vấn đề có tính tất yếu, ở đâu có quyền lực
nhà nước thì ở đó xuất hiện giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, xuất
phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, đặc điểm cụ thể của các hoạt động tư pháp hình sự, cần tăng cường sự kiểm tra, giám
sát đối với các hoạt động tư pháp hình sự thông qua các cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ khác nhau, đặc biệt là
cần thiết lập cho được cơ chế giám sát trực tiếp, thường xuyên và có hiệu quả. Trong điều kiện cụ thể của Nhà
nước ta hiện nay, cơ chế đó là hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát.
Giám sát hoạt động tư pháp hình sự có mục tiêu bảo đảm cho các cơ quan tư pháp thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ của mình; bảo đảm việc giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan; bảo đảm sự tuân thủ pháp luật
của cơ quan tư pháp và cá nhân được giao thực hiện thẩm quyền tư pháp; bảo đảm các quyền con người trong các
thủ tục tố tụng tư pháp do pháp luật quy định được triệt để tôn trọng. Kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự là một
hình thức của hoạt động giám sát nhà nước – theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ hiến pháp và pháp luật của các chủ thể
được giao thực hiện thẩm quyền tư pháp. Hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểm sát thực chất là việc sử dụng
tổ chức nhà nước để hạn chế sự lạm quyền từ chính Nhà nước. Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm
bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án. Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền áp dụng những biện pháp do pháp luật quy
định để phát hiện, loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp, bất kỳ cán bộ tư pháp nào.
Ở nước ta, chức năng giám sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là vấn đề có tính lịch sử. Trước khi Viện kiểm

S.K
25

Trích đoạn CĂN CỨ ÁP DỤNG BIỆP PHÁPTẠM GIAM PHẠM KHẮC VỰC Theo hướng dẫn của HĐTPTANDTC về việc cấp GCNNBC thì Người bào chữa (viết tắt là NBC) do thân nhân của đương sự (đang bị tạm giữ, tạm giam) mời thì phải được sự đồng ý của chính đương sự đó và có thể luật sư trực tiếp THỰC TIỄN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status