nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại và biện pháp phòng trừ sâu đục thân hai chấm (tryporyza incertulas walker) trên lúa tại hải phòng vụ xuân 2009 - Pdf 31

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội

Lê Việt cờng

Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại
và biện pháp phòng trừ sâu đục thân hai chấm
(Tryporyza incertulas Walker) trên lúa
tại hải phòng vụ xuân 2009

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã Số
: 60.60.10
Ngời hớng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Văn Đĩnh

Hà nội 2009


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu đợc trình bày
trong luận văn là hoàn thoàn trung thực, cha từng đợc sử dụng để bảo vệ
bất kỳ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn là trung thực và
đã chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận
luận văn

Lê Việt Cờng


i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các bảng

vi

1.

Mở đầu

4

1.1

Tính cấp thiết của đề tài

4

1.2.

Mục đích yêu cầu của đề tài


6

1.4.2.

Phạm vi nghiên cứu

7

2.

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

7

2.1.

Một số nghiên cứu ngoài nớc

7

2.1.1.

Phân bố

7

2.1.2.

Mức độ và triệu chứng gây hại


19

2.2.3.

Mức độ gây hại

20

2.2.4

Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu đục thân

21

2.2.5.

Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa ở Việt Nam

24

3.

Nội dung và phơng pháp nghiên cứu

26

3.1.

Đối tợng nghiên cứu


3.4

Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ sâu đục thân hai chấm
lứa 2 vụ xuân 2009.
Phơng pháp nghiên cứu

27

3.4.1

Phơng pháp điều tra và bố trí thí nghiệm

27

3.4.1.1

Nghiên cứu diễn biến quy luật phát sinh phát triển và gây hại của

27

sâu đục thân hai chấm
3.4.1.2

Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ sâu đục thân vụ xuân 2009

28

3.4.2

Phơng pháp xử lý số liệu

Điều kiện tự nhiên

32

4.1.2

Tình hình sản xuất lúa

32

4.2.

Thành phần các loi sõu ủc thõn trờn lỳa ti Hi Phũng

33

4.3

Tình hình phát sinh phát, gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm tại

34

Hải Phòng (1997-2008)
4.3.1.

Diện tích lúa nhiễm sâu đục thân lúa 2 chấm tại Hải Phòng (1997-

35

2008)


iv


4.3.2.4
4.4.
4.4.1.
4.4.2.
4.4.3.
4.4.4.

Đánh giá mức độ thiệt hại do sâu đục thân lúa 2 chấm ở các giai
đoạn sinh trởng từ 1997 - 2008 tại Hải Phòng
Yếu tố ảnh hởng đến sự phát sinh, gây hại của sâu đục thân lúa
2 chấm tại Hải phòng
Thời vụ lúa Đông xuân và thời gian phát sinh sâu đục thân 2
chấm lứa 2 từ 1997-2008 tại Hải Phòng
Thời vụ lúa mùa và thời gian phát sinh sâu đục thân 2 chấm lứa 5
từ 1997 - 2008

4.5.1

47
47
49

51
ảnh hởng của việc làm đất đến tình hình sâu qua đông và mật
độ sâu trên mạ vụ đông xuân (2007 - 2009)
Ong kí sinh trứng sâu đục thân lúa 2 chấm từ 1997- 2008 tại Hải Phòng 53


Kết luận

69

5.2.

Đề nghị

70

Tài Liệu tham khảo

71

Tài liệu trong nớc
Tài liệu nớc ngoài
Phụ lục

71
73
78

4.5.1.1
4.5.1.2.
4.5.2.
4.5.2.1.
4.5.2.2.
4.5.3.
4.5.3.1


2

Diện tích nhiễm sâu đục thân hai chấm tại Hải Phòng (19972008)

36

3

Thời gian phát sinh của các lứa sâu đục thân hai chấm hàng năm

38

4

Thời gian phát sinh, mật độ sâu và tỷ lệ hại do sâu đục thân 2
chấm lứa 2 (vụ ĐX) từ 1997- 2008 tại Hải Phòng

40

5

Thời gian phát sinh, mật độ sâu, tỷ lệ hại do sâu đục thân 2
chấm lứa 5 (vụ mùa) từ 1997- 2008 tại Hải Phòng

42

6

Số lợng trởng thành sâu đục thân hai chấm vào bẫy đèn,


52

11

Theo dõi tình hình kí sinh trứng sâu đục thân 2 chấm từ
1997 - 2008 tại Hải Phòng

54

12

Diễn biến tình hình sâu đục thân 2 chấm trên lúa ĐX 20082009 tại Hải Phòng

55

13

Diễn biến tình hình sâu đục thân 2 chấm trên trà lúa xuân sớm
vụ ĐX 2008- 2009 tại An L o - Hải Phòng

57

14

Mức độ phát sinh của sâu đục thân 2 chấm trên trà lúa xuân

59

Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip


65

19

Hiệu quả kinh tế của việc phòng trừ sâu đục thân vụ xuân 2009

67

Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip

vii


1. Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ
cấu (73,7% năm 2007), trong đó lúa là cây trồng chính. Năm 2007 năng suất lúa
bình quân cả nớc đạt 4,9 tấn/ha, so với năm 1990 tăng 158,06% và so với năm
2000 tăng 115,6% (Tổng cục Thống kê,2007). Năng suất lúa tăng không ngừng,
bên cạnh sự đóng góp to lớn của công tác giống, tiến bộ kỹ thuật về trồng trọt,
bố trí cơ cấu trà lúa, giống lúa thích hợp thì vai trò của công tác bảo vệ thực vật
đ đợc khẳng định. Trong những năm dịch hại phát sinh thành dịch trên diện
rộng công tác bảo vệ thực vật còn có tính quyết định năng suất và sản lợng lúa.
Tuy nhiên, những năm gần đây, trớc yêu cầu tăng năng suất, chất lợng,
đảm bảo an ninh lơng thực và nâng cao chất lợng cuộc sống của ngời dân,
nhiều giống lúa mới có năng suất cao, chất lợng tốt nhng nhiễm dịch hại
đ đợc bố trí với tỷ lệ cao trong cơ cấu gieo trồng, bên cạnh đó việc lạm dụng
phân bón, thuốc Bảo vệ thực vật cũng là nguyên nhân dẫn đến dịch hại có diễn
biến phức tạp và có xu hớng gia tăng. Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật

thực vật Hải Phòng, 2005 ).
Để phòng trừ sâu đục thân hai chấm, nông dân Hải Phòng đ áp dụng một
số biện pháp nh ngắt ổ trứng trên mạ, trên lúa trớc khi trổ và phun thuốc hóa
học, tuy nhiên đa số nông dân chỉ áp dụng biện pháp phun thuốc hóa học, việc sử
dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu đục thân cũng gặp khó khăn do trên đồng
ruộng nông dân còn gieo trồng nhiều trà lúa, nhiều giống lúa, thời gian lúa trổ
không tập trung, trổ kéo dài, nhiều chân đất trũng sâu rất khú khăn cho ngời
phun thuốc, một số hộ nông dân phun thuốc không đúng thời điểm, không đúng
kỹ thuật nên hiệu quả phòng trừ rất thấp, thậm trí không có hiệu quả dẫn đến
việc lạm dụng trong sử dụng thuốc, sử dụng nhiều lần trong vụ, sử dụng hỗn hợp
nhiều loại thuốc, ảnh hởng đến môi trờng và sức khỏe cộng đồng. Nhiều loại
thuốc Bảo vệ thực vật đ đợc đăng ký để phòng trừ sâu đục thân nhng thực tế
hiệu quả phòng trừ cha đạt kết quả nh mong muốn, thiệt hại do sâu đục thân
gây ra khá lớn, thậm trí có những vụ thiệt hại rất nghiêm trọng, gây tâm lý lo
ngại đối với ngời trồng lúa.
Việc nghiên cứu giảm thiểu sự gây hại của sâu đục thân hai chấm, tạo tâm
lý yên tâm đầu t, phát triển sản xuất, đặc biệt mở rộng sản xuất các giống lúa
năng suất cao, chất lợng tốt, các giống lúa đặc sản, góp phần nâng cao thu nhập
cho ngời nông dân và bảo vệ môi trờng sinh thái là một số vấn đề cấp bách
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip

5


đợc đặt ra đối với sản xuất lúa của Thành phố Hải Phòng. Với mục đích đó,
chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại và biện
pháp phòng trừ sâu đục thân hai chấm (Tryporyza incertulas Walker) trên
lúa tại Hải Phòng vụ xuân năm 2009.
1.2. Mục đích yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích

T×nh h×nh ph¸t sinh, ph¸t triÓn g©y h¹i vµ biÖn ph¸p phßng chèng cña s©u
®ôc th©n hai chÊm t¹i H¶i Phßng.

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp………

7


2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1. Một số nghiên cứu ngoài nớc
2.1.1. Phân bố của sâu đục thân hai chấm
Sâu đục thân lúa 2 chấm có các tên khoa học Tryporyza incertulas Walker;
Tryporyza incertellus Walke; Schoenobius incertullus (Walker); Scirpophaga
bipunctifera (Walker); Siga incertellus Walker; Siga incertulas Walker;
Schoenobius punctellus Zeller; Schoenobius minutellus Zeller [38].
Theo OISAT- PAN Germany (2007) [53], sâu đục thân hai chấm (YSB) chỉ
gây hại duy nhất trên cây lúa và phân bố ở tất cả các nớc trồng lúa Đông Nam
á, Trung Quốc, ấn Độ và Afghanistan. Sâu phá hại đỉnh sinh trởng làm nõn
héo và khô trắng bông.
Các tác giả FL Cunsoli, E. Conti, LJ Dangott và SB Vinson (2001) [36], sâu
đục thân lúa mình vàng xuất hiện phổ biến trong khu vực ụng Nam , Thái
Lan, Trung Quốc, n , v Afghanistan, ký chủ chính là cây lúa. Theo
Heinrichs và CTV, (1981) [41], sâu đục thân có phân bố rộng r i ở Nam v khu
vc ụng Nam . Theo IRRI, sâu đục thân hai chấm Scirpophaga incetulas
Walker (YSB) gây hại quan trọng và chủ yếu trên lúa ở nhiều nớc châu á,
Srilanka và nhiều vùng khác [43].
Đến nay đ

ghi nhận sâu đục thân lúa 2 chấm có ở các nớc nh


ở Philipine sâu đục thân gây hại khoảng 5 - 10% năng suất. Còn ở ấn Độ
khoảng 1-19% năng suất mất khi bị hại ở giai đoạn đẻ nhánh và 38- 40% năng
suất bị mất khi bị hại ở giai đoạn trỗ [53].
Các tác giả Muhammad Khan, Ahmad-ur-Rahman Saljoqi, Abdul Latif,
Khalid Abdullah (2003) [51] điều tra trên tỏm ging lỳa (JP-5, Swat-1, Swat-2,
Dilrosh-97, Basmati-385, KS-282, Gomal-6 v Gomal-7) cho thấy sâu đục thân
gây hại nặng sau cấy 38 và 67 ngày, Nghiên cứu tính chống chịu của các giống
này với sự gây hại của sâu đục thân cho thấy giống KS 282 chống chịu tốt với
YSB, Gomal-6 v Gomal-7 chống chịu vừa với sâu đục thân còn các giống Swat2 và Basmati-385 là các giống nhiễm vừa với YSB.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu về sâu đục thân gây hại tơng
đơng với giai đoạn đẻ nhánh và đòng già [49], [70], [ 74].
Đánh giá thiệt hại do sâu đuc thân gây ra, tác giả HD Catling, Z. Hi, v R.
Pattrasudhi (1993), đ cho thấy tại Thái Lan những năm 1981 1982, sâu đục
thân có mật độ ổn định và gây hại trung bình khoảng 23% số dảnh ở giai đoạn 3
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip

9


- 4 tháng đầu của cây lúa và 13 sâu non/100 dảnh lúa ở giai đoạn lúa trỗ. Sâu đục
thân tiếp tục hoạt động thời gian sau đó và tối đa mức gây hại hàng năm khoảng
38 44% số bông bị hại ở giai đoạn lúa chín, đến thời gian thu hoạch lúa tại một
số ổ dịch có thể sâu gây hại tới 60% số bông [39].
Theo Pathak (1969) [56], ở giai đoạn đẻ nhánh cây lúa có thể tự đền bù khi
bị sâu đục thân gây hại nhng ở giai đoạn đòng - trỗ thì có thể mất 1 - 3% năng
suất, trong hàng trăm loài dịch hại lúa thì sâu đục thân là loài dịch hại chính.
2.1.3. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học sinh thái học
Đặc điểm chính về hình thái
Trứng sâu đục thân có hình oval với chiều dài 0,6 mm và chiều rộng 0,4
mm, màu trắng sau chuyển màu vàng và trớc khi nở có màu đen. Trứng đợc đẻ

et al., 1969; Reissig et al., 1986) [34], [37], [58].
Nhộng sâu đục thân lúa 2 chấm lúc mới có màu sáng nhạt, sau đó có màu
nâu tối hơn. Nhộng làm trong một kén hơi mỏng màu trắng ở trong thân cây lúa.
Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày, nếu thời tiết lạnh có thể
dài hơn (Dale, 1994; Grist et al., 1969; Reissig et al., 1986) [34], [37], [58].
Trởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm chỉ giao phối 1 lần. Sau vũ hoá 5
ngày thỉ bắt đầu đẻ trứng. Đẻ trứng ban đêm, mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng (Pathak,
1969) [56].
Nh vậy, để hoàn thành một vòng đời, sâu đục thân lúa 2 chấm cần 46 - 54
ngày (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [34], [58].
Khả năng đẻ trứng của trởng thành cái
Theo Pathak (1969), một trởng thành cái sâu đục thân lúa 2 chấm có thể
đẻ đợc 100 - 200 trứng [56]. Dale (1994) cho rằng một trởng thành cái đẻ
đợc lợng trứng ít hơn, chỉ là 100 - 150 trứng [34]. Reissig et al. (1986) cho
rằng một trởng thành cái đẻ đợc 200 - 300 trứng [58].
Tuổi thọ của trởng thành
Theo Dale (1994), trởng thành đực và trởng thành cái loài sâu đục thân
lúa bớm 2 chấm có tuổi thọ không giống nhau. Trởng thành đực thờng có
tuổi thọ ngắn hơn tuổi thọ của trởng thành cái và tơng ứng kéo dài 4,5 - 8,6
ngày và 5,3 - 8,8 ngày [34].
Phổ ký chủ của sâu đục thân lúa 2 chấm
Sâu đục thân lúa bớm 2 chấm Tryporyza incertulas trớc đây đợc coi là
loài đơn thực, chỉ sống trên cây lúa Oryza sativa L. Nhng nghiên cứu của
Zaheruddexen và Prakasa Rao vào thập niên 1980 đ chỉ ra rằng các loài lúa dại
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip

11


Oryza rufipogon, O. nivara, O. latifolia, O. glaberrima và loài cỏ Leptochloa



Theo tác giả HD. Catling (1993) [38], tại Bng-la-ủét ở nhiệt độ 340C, ẩm
độ 70%, mực nớc ruộng 6 8 cm thuận lợi cho sâu đục thân phát triển. Cng
tại Băngladet năm 1979 do hạn hán trầm trọng nên Scirpophaga incertulas có
mật độ cực thấp, còn tại Thái Lan, do khí hậu khô và không trồng lúa trong một
thời gian dài của mùa khô nên đ hạn chế rất nhiều sự gây hại của sâu đục thân
trong vụ lúa tiếp theo. Hoạt động của khí hậu ven biển, sự phát triển của cây lúa
tạo môi trờng thuận lợi cho S. incertulas [39].
Về ảnh hởng của các giống lúa với sự gây hại của sâu đục thân mình vàng
các tác giả Maqsood A. Rustamani, Muzaffar A. Talpur, Rab Dino Khuhro v
Hussain Bux Baloch (2001) [78], đ nghiên cứu tình hình gây hại của YSB trên
các giống lúa: IR-6, IR-6-18, IR-8, Shadab, Shua-92, Basmati-370, Jajai-33,
Jajai-77, Sonahri Sugdasi và Sonahri Sugdasi-5. Kết quả cho thấy hai giống
Shua-92 và Sonahri Sugdasi đợc sâu đục thân a thích đến đẻ trứng và nh vậy
hai giống này bị hại trong suốt các giai đoạn sinh trởng và thiệt hại năng suất
đáng kể; Tiếp theo là giống IR-6 cũng là giống mẫn cảm với sâu đục thân hai
chấm. Hai giống Basmati-370 v Sonahri Sugdasi rất ít bị hại do sâu đục thân và
hầu nh không có sự mất mát về năng suất.
2.1.4. Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ
Theo tài liệu của OISAT (2007) [53], JLA Catindig, để phòng chống sâu
đục thân hai chấm áp dụng các biện pháp canh tác, các biện pháp sinh học, sử
dụng các giống chống chịu và biện pháp hoá học.
Biện pháp canh tác
Bao gồm việc điều chỉnh thời gian gieo cấy đồng loạt, đúng thời vụ, khi thu
hoạch lúa phải cắt sát gốc rạ; cày lật gốc rạ tiêu huỷ lúa chét. Có thể đa nớc
vào ruộng điều chỉnh cho mức nớc cao hơn vị trí đẻ trứng để diệt trứng, làm
ngập nớc lá mạ, lá lúa để diệt đợc nhiều sâu non và nhộng sống trong gốc rạ.
Khi nhổ mạ và cấy lúa bằng tay cũng có thể tranh thủ tiêu diệt trứng. Trớc khi
cấy lúa xén bớt lá mạ có thể giảm bớt ổ trứng sâu đợc đẻ ở đầu lá. Nên gieo cấy

sản xuất có tính kháng trung bình đối với sâu đục thân lúa 2 chấm. Kết quả
nghiên cứu cho thấy tính kháng sâu đục thân lúa 2 chấm của các giống lúa chỉ
đạt mức trung bình (Heinrichs, 1994; Heinrichs et al., 1981) [40], [41].
Nghiên cứu việc chọn tạo những giống lúa có tính kháng sâu đục thân, các
tác giả K. Datta, A. Vasquez, GS Khushi và SK Datta (1995, 1996, 1998) [73],
đ nghiên cứu chuyển gen Bt [crylA (b)] vào cây lúa để chống lại sâu đục thân vì
vi khuẩn Bacilus thuringiensis có chứa độc tố giết sâu, đặc biệt các loài sâu bộ
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip

14


cánh vẩy Lepidoptera. Việc sử dụng giống lúa chuyển gen Bt đ có hiệu quả tốt
trong việc phòng chống sâu đục thân.
Các tác giả Rashid, Junaid, FF jamil và Hamed (2003) [60] đ nghiên cứu
phòng trừ sâu đục thân mình vàng tại Phòng Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu
hạt nhân cho Nông nghiệp v Sinh học (NIAB) ở Pakistan. Trong thí nghiệm
đ sử dụng 5 giống Basmati (Basmati siêu nguyên chủng, Basmati 2000, Basmati
385, Basmati Pak và Basmati 370) và hai loại thuốc hoá học (Lorsban 40EC v
Karate 2,5EC). Các thuốc này đợc phun lên các giống lúa thí nghiệm vào thời
điểm 35 ngày sau gieo cấy. Kết quả cho thấy tỷ lệ dảnh héo trên các giống thí
nghiệm biến động từ 0,88 3,56%. Giống Basmati siêu nguyên chủng có tỷ lệ
dảnh héo thấp nhất (0,88%), giống Basmati 370 có tỷ lệ dảnh héo cao nhất
(3,56%). Thứ tự các giống bị dảnh héo nh sau: Basmati siêu nguyên chủng Basmati 2000 - Basmati 385 - Basmati Pak và Basmati 370.
Biện pháp sinh học
Trên thế giới những nghiên cứu về biện pháp sinh học để trừ sâu đục thân
gồm nghiên cứu về thành phần loài, đánh giá vai trò của thiên địch trong hạn chế
sâu đục thân và nghiên cứu sử dụng một số loài thiên địch để trừ sâu đục thân.
Thành phần thiên địch của nhóm sâu đục thân lúa khá phong phú, nhng có
rất ít loài quan trọng. Số lợng loài thiên địch của các sâu đục thân lúa đ phát

schoenobii tơng ứng đạt 64 và 98% (Catling et al., 1983) [32]. Theo Brar et al.
(1994) [31], ong ký sinh trứng loài T. dignus có thể tiêu diệt đợc từ 3,7 - 43,2%
quả trứng sâu đục thân lúa hai chấm ở Punjab. Subba Rao et al. (1983) đ thông
báo rằng tập hợp ký sinh trứng (Tetrastichus, Telenomus và Trichogramma) có
thể tiêu diệt đợc 77% trứng đục thân lúa hai chấm ở ấn Độ. Theo nghiên cứu
của Didi Darmadi Indonexia (1994) [35], loài kí sinh trứng sâu đục thân nh
ong Telenomus rowani (Hymenoptera: Scelionidae) có tỷ lệ kí sinh là 36 - 90%;
ong Trichogramma japonicum (Hymenoptera: Trichogrammitidae) có tỷ lệ kí
sinh khoảng 40%. Mỗi con ong kí sinh một quả trứng sâu.
Hoạt động của các ký sinh nhộng, ký sinh sâu non và vật gây bệnh có thể
gây chết tới 58% sâu đục thân lúa ở vùng Warangal của ấn Độ. Các loài Bracon
onukii và B. chinensis là những ký sinh sâu non quan trọng, có thể gây chết 20 30%, có khi tới hơn 50% sâu đục thân lúa ở Nhật Bản. Ong Cotesia flavipes là
ký sinh sâu non quan trọng ở ấn Độ, còn loài Apanteles chilonis là ký sinh sâu
non quan trọng ở Nhật Bản. Chúng có thể gây chết khoảng 35% sâu đục thân
thuộc giống Chilo ở các nớc này. ở ấn Độ, sau cấy 40 - 50 ngày, sâu đục thân
lúa hai chấm bị chết do ký sinh khoảng 56% (Subba Rao et al., 1983) [63].
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip

16


Các loài BMAT cũng đóng vai trò khá quan trọng trong tiêu diệt sâu đục
thân lúa ở các pha phát dục khác nhau. Một số loài bắt mồi nh dế nhảy Metioche
vittaticollis, Anaxpha longipennis (Orthroptera: Gryllidae) cũng ăn trứng sâu đục
thân [35]. Muồm muỗm nhỏ Conocephalus longipennis có thể tiêu diệt đợc
65% trứng sâu đục thân lúa hai chấm. Một cá thể muồm muỗm này có thể tiêu
diệt đợc 8 ổ trứng sâu đục thân lúa hai chấm trong 3 ngày. Mật độ quần thể của
nó tăng khi trứng sâu đục thân lúa hai chấm tăng. Một cá thể nhện sói Pardosa
pseudoannulata một ngày có thể tiêu diệt hàng trăm sâu non đục thân lúa, đồng
thời nó tấn công cả pha trởng thành của các loài sâu đục thân (Ooi et al., 1994;

trứng kí sinh sâu đục thân hai chấm, các thí nghiệm thấy cutine của trởng thành
và sâu non YSB có phản ứng kích thích Trichogramma japonicum tìm kiếm nơi
đẻ trứng.
Sử dụng chất dẫn dụ giới tính
Ngoài sử dụng các loài ong kí sinh thì biện pháp sử dụng chất dẫn dụ giới
tính để thu hút con trởng thành đực đạt kết quả rất tốt, [49].
Đầu năm 2009, tổ chức PCI (ấn Độ) và Exosect (Vng quc Anh) đ tổ
chức một cuộc hội thảo tại Habitat Delhi ấn Độ giới thiệu sản phẩm mới Exosex
YSBTab chất dẫn dụ giới tính để phòng chống sâu đục thân (Scirpophaga
incertulas). Sử dụng chất dẫn dụ giới tính để phòng trừ sâu đục thân đơn giản, dễ
làm, bảo vệ môi trờng, tiết kiệm chi phí sản xuất, mang lại lợi ích cho ngời
nông dân. Sản phẩm đ đợc tặng giải thởng INOFEL tại Maroc, tặng danh
hiệu Sản phẩm mới nhất tại London - Vơng quốc Anh tháng 12 năm 2008.
Chính phủ ấn Độ đ đăng ký sản phẩm này và trong tơng lai, Exosex YSBTab
sẽ đợc sử dụng để kiểm soát Scirpophaga incertulas trong sản xuất lúa gạo, đặc
biệt là lúa gạo xuất khẩu [46].
Biện pháp hoá học
Sử dụng các hoạt chất Carbofuran, Isazofos, Diazinon, Phorate, Cartap
hydrochloride... lợng 1,00 kg ai/ha, có thể phun Monocrotophos, Chlorpyriphos
v Quinalphos lợng 0.5 kg, Phosphamidon lợng 0.3 kg v Triazophos lợng
0.25 ai kg/ha, [76].
Các tác giả Xia, JY; Penning de Vries, FWT; Litsinger, JA (1991) [67] đ
mô phỏng phơng trình nghiên cứu về diễn biến mật độ Scirpophaga
incertulas (Walker) để áp dụng trong chơng trình quản lý và phòng trừ
chúng. Tình hình phát sinh, phát triển, sinh sản, di chuyển, tử vong đ đợc
nghiên cứu kỹ. Những số liệu nghiên cứu về thời gian trứng, sâu non, nhộng ở
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip 18


mùa ma năm 1997 và mùa khô năm 1988 tại Philippine là những tham số


19


incertulas Walker) có tỷ lệ cá thể chiếm 40 - 80% tổng số các cá thể sâu đục
thân. Sâu năm vạch đầu đen (Chilo polychrysa Meyrisk) có tỷ lệ cá thể chiếm 13
- 50%, sau đó là các loài khác (Nguyễn Văn Cảm, 1983) [2].
Sâu đục thân 5 vạch chiếm u thế về vị trí số lợng (có tỷ lệ cá thể chiếm
70 - 90%) vào những năm 1954 - 1958 và giảm dần (với 45,1% số lợng cá thể
vào năm 1960 và 31,3% vào năm 1970). Trong khi đó, vị trí số lợng của sâu
đục thân hai chấm tăng dần từ 0,5 - 20% (1954- 1958) lên 42,8% (1960) và
63,6% (1970) (Viện Bảo vệ thực vật, 2008) [27].
Những kết quả nghiên cứu bổ sung về sâu đục thân của Bộ môn Côn trùng
(Viện Bảo vệ thực vật) từ những năm 1980 đến nay cho thấy tỷ lệ số lợng cá thể
sâu đục thân hai chấm đ chiếm u thế tuyệt đối từ 63,6% (1970) tăng lên 98,5%
(1985), 98,8% (1989) và 98,9% (1992). Ngợc lại, tỷ lệ số lợng cá thể sâu 5
vạch chỉ còn dới 1% và tỷ lệ số lợng cá thể sâu đục thân bớm cú mèo tồn tại
không đáng kể (Viện Bảo vệ thực vật, 2008) [27].
Theo Nguyễn Công Thuật (1995) [22], sâu đục thân 2 chấm là một trong
những loài gây hại chủ yếu trên lúa; còn sâu đục thân cú mèo và sâu đục thân 5
vạch chỉ là sâu hại thứ yếu.
Nghiên cứu của Trạm Bảo vệ thực vật Cổ Lễ (Nam Trực- Nam Định), diện
tích lúa xuân tăng, cơ cấu cây trồng, thời vụ và chế độ canh tác thay đổi làm cho
thành phần sâu đục thân lúa cũng biến động lớn. Sâu đục thân hai chấm chiếm
38,6% (1965) tăng lên 63,3% (1970) và 72,9% (1973) trong khi đó sâu đục thân
5 vạch chiếm 47,8% (1965) giảm xuống 31,3% (1970) và 22,7% (1973); Sâu đục
thân cú mèo 13,6% (1965) giảm xuống 5% (1970) và 4,3% (1973) (Vũ Đinh
Ninh, 1974), [17].
2.2.2. Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm
Sâu đục thân hai chấm là loại phổ biến nhất trong các loài sâu đục thân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status