MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Thành phần sâu đục thân lúa vụ mùa 2010 tại xã Tân Viên, An Lão,
Hải Phòng Error: Reference source not found
Bảng 4.2 Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
BC-15 vụ mùa trung chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng Error:
Reference source not found
Bảng 4.3 Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống BC-
15 vụ mùa muộn chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng Error:
Reference source not found
Bảng 4.4: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống Xi
23 vụ mùa sớm chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng Error:
Reference source not found
Bảng 4.5: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống Xi
23 vụ mùa chính vụ chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng: Error:
Reference source not found
Bảng 4.6: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
Khang dân 18 vụ mùa sớm tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng Error: Reference
source not found
Bảng 4.7: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
Khang dân 18 vụ mùa muộn tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng Error:
Reference source not found
Bảng 4.8: Số lượng và tỷ lệ các pha phát dục sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza
incertulas lứa 4 và lứa 5 tại Huyện An Lão, Hải Phòng .Error: Reference source
not found
Bảng 4.9: kết quả trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza
incertulas vào bẫy pheromone lứa 4 Error: Reference source not found
Bảng 4.10: Kết quả trung bình trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm vào
bẫy pheromone của Nhật Bản và của Đài LoanError: Reference source not found
Bảng 4.11: Kết quả điều tra các điểm nằm giữa và nằm ngoài khu vực đặt bẫy
pheromone Error: Reference source not found
1 . Đặt vấn đề.
Lúa là 1 trong 3 loài cây lương thực quan trọng nhất thế giới. Trên thế
giới, cây lúa được khoảng 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của hơn
2 tỉ người trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân. Sản lượng gạo trên thế
giới tăng nhưng không nhanh bằng mức tăng dân số. Sản lượng lúa trên thế giới
năm 2008 là 661.811 triệu tấn, có 114 quốc gia trồng lúa, châu Á chiếm 90%,
dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ. Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế-Bộ
Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở châu
Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt
Nam, Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm
khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Tại Việt Nam hiệncó khoảng
5,9 triệu ha diện tích trồng lúa, lúa cung cấp bình quân 80% carbonhydrat và
40% lượng protein cho khẩu phần ăn người Việt. Với việc áp dụng những tiến
bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất, hàng năm sản lượng lúa vẫn không
ngừng tăng cao đã đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu bình quân khoảng
4-5 triệu tấn gạo/năm. Góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo
đứng thứ 2 thế giới.
Có nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao đã được đưa vào gieo
trồng với diện tích lớn ở các tỉnh phía Bắc như Khang dân 18, BT15, Nhị ưu
903, … nhưng hầu hết mức độ nhiễm sâu bệnh thường nặng hơn các giống khác.
Trong các loại sâu hại trên đồng ruộng, sâu đục thân hai chấm “Scipophaga
incertulas Walker” là đối tượng gây hại chủ yếu và khá phổ biến tại các địa
phương, chúng vẫn luôn được coi là dịch hại nguy hiểm trên lúa. Ngoài đồng
ruộng, sâu đục thân hai chấm luôn chiếm tỷ lệ trên 57%, các loài sâu như sâu
đục thân 5 vạch đầu nâu, 5 vạch đầu đen, trên dưới 10% mỗi loài và cú mèo
khoảng 23%.
Hiện tại chưa có giống lúa nào được coi là có tính chống chịu với sâu đục
thân nhưng đã có nhiều phương pháp được sử dụng nhằm ngăn chặn và giảm
thiểu tác hại của sâu đục thân hai chấm như: thay đổi cơ cấu mùa vụ, đưa vào
sản xuất những giống ngắn ngày, trỗ tập trung, cày lật đất sau khi thu hoạch,
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Nghiên cứu ngoài nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm
2.1.1 Nghiên cứa về thành phần sâu đục thân lúa
Trên thế giới đã tìm ra hơn 800 loài sâu hại lúa (Dale, 1994; Kiritani, 1979)
[41], [48]. Trên cây lúa ở Trung Quốc đã phát hiện được hơn 200 loài sâu hại
(Chiu, 1980; Li, 1982) [20], [27]. Còn ở các nước trồng lúa Đông Nam Á có
khoảng hơn 100 loài sâu hại lúa đã được phát hiện (Norton et al., 1990; Pathak
et al., 1987) [27], [30].
Dựa vào đặc điểm gây hại trên các bộ phận của cây lúa, tất cả sâu hại lúa
có thể chia thành các nhóm: sâu hại rễ cây lúa, sâu hại thân lúa, sâu hại lá lúa,
sâu hại bông và hạt lúa.
Theo Pathak (1975) [31] , trên thế giới đã phát hiện được 24 loài sâu đục
thân lúa. Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon Blez., Chilo
zacconius Blez., Maliarpha separatella (Rog.) và Sesamia calamistis (Hamp.).
Ở Châu Mỹ đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm Chilo loftini (Dyar),
Chilo plejadellus (Zink.), Diatraea saccharalis (Fabr.), Elasmopalpus lignosellus
(Zell.), Rupela albinella (Cramer) và Zeadiatraea lineolata (Walk.). Lúa ở châu Úc
đã phát hiện có 2 loài sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com. và
Phragmatiphila sp. Tại các nước châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã phát hiện
được nhiều nhất, đạt tới 9 loài. Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll.,
Chilo auricilius (Dudg.), Chilo partellus (Swin.), Chilo polychrysus (Meyr.), Chilo
suppressalis (Walk.), Niphadoses gilviberbis (Zell.), Tryporyza incertulas (Walk.),
Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens (Walk.) .
Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục thân sau: Ancylolomia
chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo polychrysus (Meyr.),
Chilo suppressalis (Walk.), Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata
(Walk.), Sesamia inferens (Walk.) (Pathak, 1975; Reissig et al., 1986) [31] [32] .
2.1.2. Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm.
Sâu đục thân lúa hai chấm có tên khoa học là Tryporyza incertulas (Walk.)
thuộc họ ngài sáng Pyralidae, bộ cánh vảy Lepidoptera. Sâu đục thân lúa hai
chiều dài nhộng khoảng 11 – 13,5 mm.
Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Sâu đục thân lúa 2 chấm là côn trùng thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera. Do
đó, vòng đời của nó có 4 pha phát dục là pha trứng, pha sâu non, pha nhộng và
pha trưởng thành.
Pha trứng: Trứng của sâu đục thân lúa 2 chấm được đẻ thành ổ ở gần ngọn
lá lúa. Thời gian phát dục của pha trứng theo nghiên cứu các tác giả khác nhau
thì không giống nhau và biến động từ 5 ngày đến 8 ngày (Dale, 1994; Reissig et
al., 1986) [21], [32]. Theo Grist et al. (1969), thời gian phát dục pha trứng hơi
dài hơn và là 7 - 10 ngày [22].
Pha sâu non: Tuổi sâu non của sâu đục thân lúa 2 chấm cũng khác nhau.
Theo (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [21], [32 thì sâu non có 5 tuổi. Nhưng
theo Pathak (1969), sâu non đục thân lúa 2 chấm có 4 - 7 tuổi. Tuổi sâu non
cũng phụ thuộc vào điều kiện nuôi. Nuôi trong điều kiện 23 - 29
0
C, hầu hết sâu
non có 5 tuổi và nuôi trong điều kiện 29 - 35
0
C sâu non chỉ có 4 tuổi. Trong điều
kiện thức ăn hạn chế và ở các cá thể qua đông thì thường có nhiều tuổi hơn. Sâu
non tuổi 1 khi mới nở có chiều dài cơ thể khoảng 1,5 mm, thân màu vàng nhạt.
Sâu non mới nở có xu hướng phát tán rất mạnh. Sâu non tuổi 5 thành thục có
chiều dài cơ thể khoảng 25 mm với màu trắng hơi vàng. Thời gian phát dục của
pha sâu non kéo dài khoảng từ 30 ngày (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [21],
[32] đến 35 - 46 ngày (Grist et al., 1969) [22].
Pha nhộng: Nhộng sâu đục thân lúa 2 chấm lúc mới có màu sáng nhạt, sau
đó có màu nâu tối hơn. Nhộng làm trong một kén hơi mỏng màu trắng. Trước
khi hóa nhộng, sâu non tuổi cuối đã đục một lỗ ở thân cây lúa để cho trưởng
thành vũ hóa chui ra. Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày, nếu
thời tiết lạnh có thể dài hơn (Dale, 1994; Grist et al., 1969; Reissig et al., 1986)
Trưởng thành loài sâu đục thân lúa 2 chấm T. incertulas ưa hoạt động ban
đêm, thích ánh sáng đèn, đặc biệt là ánh sáng màu vàng. Ban ngày chúng đậu
trên thân hoặc lá lúa. Trưởng thành thường vũ hóa và giao phối vào thời gian 7 -
9 giờ tối. Cả trưởng thành đực và trưởng thành cái đều thích hoạt động trong
khoảng thời gian 8 - 10 giờ tối. Trưởng thành cái cũng thường đẻ trứng vào ban
đêm trong khoảng thời gian 7 - 10 giờ tối. Trứng được đẻ thành ổ. Sâu non mới
nở có xu hướng phát tán ngay, chúng bò lên ngọn cây lúa, sau đó nhả tơ thả
mình cho gió đưa sang cây khác. Chúng bò vào giữa bẹ lá và thân cây lúa, sống
ở đó khoảng 3 - 7 ngày. Sau thời gian này nó mới đục vào thân cây lúa ở nơi gốc
bẹ lá lúa. Sâu non lớn dần thì di chuyển xuống phía phần gốc rạ. Nhộng sâu đục
thân lúa 2 chấm thường ở trong thân phần gốc cây lúa (Dale, 1994; Mohan et al.,
1985; Pathak, 1969) [21], [29], [31].
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái.
Sự phát triển của sâu đục thân láu 2 chấm phụ thuộc rất nhiều vòa điều kiện
khí hậu.
Trứng sâu đục thân lúa 2 chấm bắt đầu phát triển ở 13
0
C, sâu non nở từ
trứng bình thường thấy ở nhiệt độ cao hơn 16
0
C. Nhiệt độ tối thuận cho pha
trứng phát triển là 24 - 29
0
C. Thời gian phát dục của pha trứng sẽ giảm khi nhiệt
độ tăng đến 30
0
C và sẽ kéo dài hơn nếu nhiệt độ tăng lên hơn 30
0
C. ở nhiệt độ
35
bón, đặc biệt là phân đạm. Bón phân chứa silica, kali sẽ làm tăng tính chống chịu
sâu đục thân của cây lúa. (Dale, 1994; Litsinger, 1994) [21] [28].
Việc điều chỉnh thời gian gieo cấy đồng loạt, đúng thời vụ, khi thu hoạch
lúa phải cắt sát gốc rạ, cày lật gốc rạ, tieu hủy lúa chét và thu ngắt ổ trứng trên
đồng ruộng đều đạt hiệu quả.
Biện pháp sinh học.
Việc nhập nội một số ký sinh để trừ sâu hại lúa được tiến hành ở Ấn Độ,
Hawaii, Malaysia, Philippine, Nhật Bản. Ong đen mắt đỏ Trichogramma
japonicum được nhập nội về Philippine để trừ sâu đục thân lúa hai chấm T.
incertulas và về Ấn Độ để trừ sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilo auricilius. Ở
Đảo Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ Trichogramma sp. để trừ
sâu đục thân lúa hai chấm T. incertulas cho kết quả tốt. Thiệt hại do sâu đục
thân lúa hai chấm giảm còn 1,6% ở nơi dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối
chứng tỷ lệ này đạt cao hơn và là 10,3%.
Biện pháp sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được nghiên cứu nhiều
ở Trung Quốc và Ấn Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân. Tại Karnataka
(Ấn Độ) đã nghiên cứu thả ong mắt đỏ màu đen Trichogramma japonicum định
kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân lúa hai chấm .
Việc nhân nuôi lượng lớn thiên địch bản xứ thả bổ sung vào sinh quần để
trừ sâu đục thân lúa được bắt đầu từ những năm 30 (thế kỷ XX) tại Malaysia. Đó
là trường hợp nhân ong mắt đỏ màu đen Trichogramma japonicum để trừ sâu
đục thân đầu đen Chilo polychrysus, nhưng đã không thành công. ở Đảo
Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ Trichogramma sp. để trừ sâu
đục thân lúa 2 chấm T. incertulas cho kết quả tốt. Thiệt hại do sâu đục thân lúa 2
chấm T. incertulas giảm còn 1,6% ở nơi dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối
chứng tỷ lệ này đạt cao hơn và là 10,3%. ở Iran đã sử dụng ong mắt đỏ loài
Trichogramma maidis thả hàng loạt để trừ sâu đục thân 5 vạch đầu nâu C.
suppressalis. Trứng sâu đục thân 5 vạch đầu nâu C. suppressalis bị ký sinh với
tỷ lệ khá cao và đạt 60-85% (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2002) [8].
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu sử dụng vi khuẩn Bacillus
Pheromone là chất hoá học được trưởng thành cái tiết ra để thu hút trưởng
thành đực đến giao phối. Chất Pheromone được sử dụng khá rộng rãi trên thế
giới với 2 mục đích là: dự tính, dự báo loài côn trùng hại và phòng, chống dịch
hại bằng cách “gây nhiễu” làm cho con đực không định hướng được con cái dẫn
đến con cái không được thụ tinh, giảm mật độ thế hệ sau.
Việc sử dụng Pheromone đạt kết quả tốt trong phòng, chống sâu hại bông ở
Ai Cập và Mỹ, sâu hại cà chua ở Mỹ, sâu hại lúa ở Tây Ban Nha, ấn Độ, sâu hại
đào ở úc và Bắc Mỹ, sâu hại nho ở Châu Âu, sâu hại rau ở Mỹ, Trung Quốc…
Đầu năm 2009, tổ chức PCI (Ấn Độ) và Exosect (Anh) đã tổ chức một cuộc
hội thảo tai Habita Delhi - Ấn Độ giới thiệu sản mới “ Exosect YSBTab” chất
dẫn dụ giới tính để phòng chống sâu đục thân lúa hai chấm.
Việc sử dụng Pheromone trong phòng trừ sâu đục thân lúa 2 chấm vừa đôn
giản, dễ làm, an toàn với môi trường và tiết kiệm chi phí sản xuất, mang lợi ích cho
người nông dân.
2.2 Nghiên cứu trong nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm
2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu đục thân lúa.
Theo tài liệu, kết quả điều tra thì ở Việt Nam đến nay trên cây lúa đã ghi
nhận được 8 loài sâu đục thân lúa, các tỉnh phía Bắc có 4 loài và ở các tỉnh phía
Nam 7 loài. Chúng thuộc họ Pyralidae (7 loài) và Noctuidae (1 loài) của bộ cánh
vảy (Lepidoptera). Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll., sâu đục
thân 5 vạch đầu đen Chilotraea polychrysus (Meyr.), sâu đục thân 5 vạch đầu
nâu Chilo suppressalis (Walk.), sâu đục thân 5 vạch Chilo sp., sâu đục thân 5
vạch đầu đen Chilotraea auricilia Dudg., sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza
incertulas (Walk.), sâu đục thân lúa bướm trắng Scripophaga innotata (Walk.)
và sâu đục thân bướm cú mèo Sesamia inferens (Walk.) (Viện Bảo vệ thực vật,
1976, 1999) [18], [19].
Sâu đục thân 5 chiếm ưu thế về tỷ lệ số lượng cá thể 70 – 90 % (1954 –
1958), và giảm dần vào những năm sau này, 41,5 % (1960) và 31,3 % (1970).
Những kết quả nghiên cứu bổ sung về sâu đục thân của Bộ môn Côn trùng
(Viện Bảo vệ thực vật) từ những năm 1980 đến nay cho thấy tỷ lệ số lượn cá thể
diện tích được phun thuốc, trong đó có 16.400 ha đã phải phun thuốc 2 lần. Tuy
nhiên, vẫn còn khoảng 479,8 ha bị bông bạc với tỷ lệ 10 -50% (Chi cục BVTV
Hải Phòng, 1989, 2003) [2], [3].
2.2.4. Nghiên cứu về đặc điêm sinh vật học sâu đục thân lúa 2 chấm
Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Những nghiên cứu chi tiết về thời gian phát dục từng pha của sâu đục thân
2 chấm ở nước ta không nhiều. Một số nghiên cứu được tiến hành năm 1955 -
1956 ở Viện Khảo cứu Nông Lâm và vào thập niên 70 thế kỷ XX ở khoa Sinh
đại học Tổng hợp Hà Nội. Các thí nghiệm nuôi sinh học sâu đục thân lúa 2 chấm
được thực hiện trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau, biến động từ 15,8
0
C
đến 28
0
C và ẩm độ là 75 -80%. Vì vậy kết quả thu được rất biến động.
Pha trứng: Thời gian phát dục của pha trứng, tuỳ theo điều kiện nhiệt độ
khi thí nghiệm, biến động từ 6,2 - 20,4 ngày ( Phạm Bình Quyền, 1976) [13].
Pha sâu non: Sâu non có 5 tuổi. Thời gian phát dục của pha sâu non từ 27,5
ngày đến 73,5 ngày ( Phạm Bình Quyền, 1976) , [13].
Pha nhộng: Thời gian phát dục của pha nhộng từ 6,6 ngày đến 27 ngày (Vũ
Đình Ninh, 1974; Phạm Bình Quyền, 1976) [12],
Pha trưởng thành: Thời gian của pha trưởng thành biến động từ 1 ngày đến
12 ngày (Vũ Đình Ninh, 1974) [12], .
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đĩnh (2006), thời gian sinh trưởng phát triển của
sâu đục thân lúa 2 chấm có liên hệ mật thiết với điều kiện nhiệt độ, độ ẩm. Ở điều
kiện nhiệt độ từ 26 – 30
o
C: pha trứng 7 ngày: sâu non 25 – 30 ngày, nhộng 8 – 10
ngày, trưởng thành vũ hóa đẻ trứng 3 ngày. Thời gian vòng đời trung bình của sâu
đục thân lúa hai chấm từ 43 – 66 ngày.
nhộng và vũ hóa trưởng thành (Vũ Đình Ninh, 1974; Phạm Bình Quyền, 1976;)
[19], [13]. Sâu non hóa nhộng ở gốc thân lúa dưới mặt đất 1 – 2 cm. Trước khi
hóa nhộng, sâu non đục sẵn một lỗ ở thân lúa để trưởng thành vũa hóa chui ra.
Độ ẩm tối thiểu để sâu non qua đông là 90%.
Số thế hệ trong một năm của sâu đục thân lúa 2 chấm
Sâu đục thân lúa hai chấm một năm thường phát sinh 6 - 7 lứa (Nguyễn
Mạnh Chinh, 1977; Phạm Bình Quyền, 1976; Mai Thọ Trung, 1979; Trương
Quốc Tùng, 1980) [5],[23], [16], [17].
Phạm vi ký chủ
Sâu đục thân lúa hai chấm là loài đơn thực điển hình hại trên cây lúa. Theo
Nguyễn Đức Khiêm (2006), thì chúng còn phá hoại trên 4 loài lúa dại và loài cỏ
Leptochloa panicoides.
Tập tính hoạt động của sâu đục thân lúa 2 chấm
Trưởng thành đục thân lúa 2 chấm vũ hóa và mọi hoạt động thường thấy về
ban đêm, ban ngày ẩn nấp trong khóm lúa. Trưởng thành cái hoạt động mạnh
trong khoảng thời gian 7 - 8 giờ tối; trưởng thành đực hoạt động mạnh trong
khoảng thời gian từ 11 giờ đêm đến 1 giờ đêm. Trưởng thành ưa ánh sáng đèn.
Ngay trong đêm vũ hóa chúng có thể giao phối. Hoạt động giao phối mạnh nhất
sau 9 giờ tối (Hồ Khắc Tín, 1982) [15].
Trưởng thành cái thích đẻ trứng ở những ruộng xanh non rậm rạp. Ban đêm
ở mép lá lúa tiết ra dịch chứa NH
4
có khả năng dẫn dụ ngài tới đẻ trứng. Ổ trứng
thường được đẻ ở mút ngọn lá trong thời kỳ mạ và khoảng gần giữa mặt trên hay
dưới lá lúa.
Sâu non mới nở gặm phá chất keo và lông phủ trên ổ trứng hoặc đáy ổ
trứng rồi chui ra. Sâu non mới nở phát tán bằng cách bò lên ngọn lá và nhả tơ
nhờ gió đưa sang cây lúa khác hoặc bò trực tiếp sang dảnh lúa kề gần (Vũ Đình
Ninh, 1974; Hồ Khắc Tín, 1982) [12], [15].
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái.
45%67(
Đã khuyến cáo và áp dụng các biện pháp thủ công như bẫy đèn, thu ổ
trứng, cắt dảnh héo do sâu đục thân lúa gây ra để trừ sâu đục thân lúa. Vụ mùa
năm 1988 tại Kiến Thụy (Hải Phòng) đã dùng 5.056 bẫy đèn thu bắt được hơn
0,5 triệu trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm. Tại Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đã cắt
được 40.000 dảnh lúa héo có sâu non. Trong vụ mùa năm 2002, tại Tiên Lãng,
Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đã tiến hành thu ngắt ổ trứng sâu đục thân lúa 2 chấm lứa 5.
Tại Tiền Hải (Thái Bình) dùng bẫy đèn vụ mùa năm 1988 đã thu bắt được
2.205 kg trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm và cắt được 32.000 dảnh lúa héo
có sâu non (Chi cục BVTV Hải Phòng, 1989, 2003; Chi cục BVTV Thái Bình,
1989, Phạm Văn Lầm, 2006) [3] [4] [11].
5%8
Những nghiên cứu biện pháp sinh học trừ sâu đục thân lúa ở nước ta hầu như
chưa được quan tâm. Năm 1995, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga đã đánh giá tính
mẫn cảm của sâu đục thân lúa hai chấm T. incertulas đối với các chế phẩm từ vi
khuẩn Bt trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy trong điều kiện phòng thí
nghiệm, chỉ có 3 trong 15 chế phẩm Bt có hiệu lực đạt 82,3 - 87,5% đối với sâu đục
thân lúa hai chấm. Đó là các chế phẩm Bikol, Dipel và Bitoxibacillin.
5%$)9:
Giống kháng sâu hại được sử dụng rộng rãi và là biện pháp bảo vệ thực vật
rất hiệu quả. Lampe (1994) đã nhận định: “Giống kháng là hòn đá tảng để phòng
trừ sâu bệnh có hiệu quả. Kết hợp giống kháng với biện pháp sinh học và biện
pháp canh tác là chiến lược phòng trừ sâu bệnh hại lý tưởng đối với những nông
dân nghèo ít vốn” (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2006) [11]. Việc nghiên cứu sử
dụng giống lúa kháng sâu hại cũng được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở Việt
Nam. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu và ứng dụng này mới chỉ đối với rầy
nâu, còn đối với sâu đục thân lúa nói chung và sâu đục thân lúa 2 chấm thì hầu
như còn bỏ ngỏ.
5%&'.!!
Nghiên cứu sử dụng Pheromone không được chú ý. thực tế lịch sử cho thấy
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Sâu đục thân hai chấm hại lúa (Scirpophaga incertulas W.)
3.1.2. Địa điể nghiên cứu
Chi cục bảo vệ thực vật Hải Phòng quận Kiến An thành phố Hải Phòng và
xã Tân Viên huyện An Lão thành phố Hải Phòng.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu.
Từ 1/07/2010 đến 05/10/2010
3.2. Nội dung nghiên cứu.
Điều tra và xác định mức độ gây hại và sự phát sinh gây hại của loài sâu
đục thân lúa 2 chấm Scirpophaga incertulas W. ở Hải Phòng.
Đặt bẫy pheromone dẫn dụ trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm tại
xã Tân Viên huyện An Lão thành phố Hải Phòng trong 2 lứa 4 và 5.
Điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm tại vùng đặt bẫy và
vùng không đặt bẫy pheromone. Điều tra các điểm nằm giữa các điểm đặt mồi
pheromone, và các điểm cách mồi pheromone 5m, 10m, 20m, 50m.
Hình 3.1: hình ảnh các điểm điều tra sau khi đặt bẫy pheromone
So sánh hiệu quả dẫn dụ của các loại bẫy pheromone và bẫy đèn.
Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa 2 chấm.
3.3 Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Phương pháp điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm.
Điều tra 7 ngày/ 1 lần, chọn 10 điểm ngẫu nghiên theo đường chéo của
vùng điều tra, mỗi điểm điều tra 1 m
2
.
Chỉ tiêu điều tra:
Đếm số lượng ổ trứng và trưởng thành, chẻ dảnh héo để đếm sâu non (các
tuổi) hoặc nhộng trong điểm điều tra.
Đếm số dảnh héo và bông bạc trong điểm điều tra.
Chú ý: khi lứa sâu đục thân xuất hiện có thể tăng số lần theo dõi (3 ngày/1