Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) tại Bắc Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị - Pdf 29

60

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

D−¬ng ThÞ Hång
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA GÀ
MẮC BỆNH ĐẦU ĐEN (HISTOMONIASIS) TẠI BẮC GIANG VÀ
THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ” khãa luËn tèt nghiÖp ®¹i häc

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Bích Đào
Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên



Dương Thị Hồng
62
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

( - )
ADN
g
GOT
: Không xuất hiện
: Acid Deoxyribo Nucleic: gam
: Glutamicoxalacetic transaminase
HE : Hemotoxilin - Eosin
H. meleagridis : Histomonas meleagridis
H. gallinarum
Kg
KGN
LDH
ml
Nxb
pp
PCR
TT
Tr
µm
: Heterakis gallinarum
: ki lô gam

2.1.2.2. Những thiệt hại kinh tế do Histomoniasis gây ra 15
2.1.2.3. Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomoniasis) ở gia cầm 16
2.1.2.4. Cơ chế sinh bệnh 18
2.1.2.5. Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen 18
2.1.2.6. Chẩn đoán 20
2.1.2.7. Phòng trị bệnh đầu đen cho gà 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 24
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 24
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 24
64
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 25
3.3. Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1. Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra 25
3.3.1.1. Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà nuôi tại
tỉnh Bắc Giang 25
3.3.1.2. Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 25
3.3.2. Đánh giá hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen 25
3.3.2.1. Đánh giá hiệu lực của thuốc trên diện hẹp 25
3.3.2.2. Đánh giá hiệu lực của thuốc trên diện rộng 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1. Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại Bắc Giang 25
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do H. meleagridis gây nhiễm
trên gà 26
3.4.2.1. Gây nhiễm đơn bào H. meleagridis cho gà thí nghiệm 26
3.4.2.2. Bố trí thí nghiệm gây nhiễm 26
3.4.2.3. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh đầu

5.1.2. Khả năng gây bệnh của đơn bào H. meleagridis trên gà khi
gây nhiễm 54
5.1.3. Về đánh giá hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh đầu đen 55
5.2. Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
I. Tài liệu tiếng Việt 57
II. Tài liệu tiếng Anh 57
III. Tài liệu Internet 59

66
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số huyện của
tỉnh Bắc Giang 30
Bảng 4.2. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen 32
Bảng 4.3. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Bắc Giang 34
Bảng 4.4. Kết quả gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà
(qua đường miệng và hậu môn) 36
Bảng 4.5. Thời gian gà xuất hiện triệu chứng lâm sàng sau gây nhiễm 39
Bảng 4.6. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen sau gây nhiễm
liều 1 ml huyễn dịch gan, manh tràng/gà 41
Bảng 4.7. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen sau gây nhiễm liều 2
ml huyễn dịch gan và manh tràng/ gà 42
Bảng 4.8. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen sau gây nhiễm liều 3
ml huyễn dịch gan và manh tràng/gà 44
Bảng 4.9. Kết quả theo dõi gà chết sau gây nhiễm 46
Bảng 4.10. Bệnh tích đại thể của gà sau gây nhiễm 49
Bảng 4.11. Bệnh tích vi thể của gà sau gây nhiễm 50
Bảng 4.12. Hiệu lực của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 51

là bệnh đầu đen. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở
ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen. Gà bệnh chết
rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng
chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi cảm giác bệnh không nguy hiểm lắm.
Thực chất cuối cùng gà chết đến 85 - 95%.
2
Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về bệnh
đầu đen ở gà, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng chống bệnh.
Mặt khác, tại một số tỉnh chăn nuôi nhiều gà như tỉnh Thái Nguyên,
Bắc Giang, trong 3 năm gần đây liên tục xuất hiện bệnh đầu đen trên đàn
gà nuôi thả vườn, tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao
năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm
bệnh lý, lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen (Histomoniasis) tại Bắc Giang và
thử nghiệm phác đồ điều trị”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H. meleagridis do gây nhiễm trên
gà nuôi tại Bắc Giang.
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh đầu đen do đơn bào
H. meleagridis gây ra ở gà.
- Thử nghiệm phác đồ điều trị, từ đó khuyến cáo người dân sử dụng
điều trị đạt kết quả cao.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý, lâm
sàng của bệnh đầu đen trên gà, có một số đóng góp mới cho khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để đề ra biện pháp phòng, trị bệnh có
hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra, góp
phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển.

Giới: Protozoen
Ngành: Parabasalia
Lớp: Tritrichomonadea
Bộ: Tritrichomonadida
Họ: Dientamoebidae
Giống: H. meleagridis
Loài: Histomonas meleagridis
4
2.1.1.2. Hình thái học loài H. meleagridis
Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Smith (1895) [27] nhận thấy, ở gà tây
mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Lấy
chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã tìm thấy tác nhân gây
bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc ovan,
đường kính 8 - 14 µm. Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, Smith
nhận thấy đơn bào có dạng hình ovan, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở
giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân. Tác nhân gây bệnh có
tên là H. meleagridis .
Hình thái của H. meleagridis ở từng giai đoạn phát triển khác nhau:
Ở giai đoạn kí sinh tại khu vực ngoại vi của các tổn thương ban đầu
được gọi là giai đoạn xâm lấn. Trong giai đoạn này chúng di động kiểu
amip và hình thành một chân giả, chiều dài amip lên tới 30 µm. Trong các
mô cố định, quan sát được đường kính dao động từ 8 - 17 µm. Nguyên sinh
chất trong giai đoạn này chứa các hạt không bào và một thể nhân.
Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, H. meleagridis tồn tại dưới dạng có
tế bào chất mà không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt
phân phối xung quanh thể nhân. Ở giai đoạn này, chúng có kích thước lớn
hơn, đường kính từ 12 - 21 µm.
Một giai đoạn tồn tại khác của H. meleagridis đã được Tyzzer mô tả và
gọi với cái tên là giai đoạn kháng, kích thước nhỏ hơn, đường kính từ
5 - 22 µm. Khi quan sát dưới kính hiển vi, thấy H. meleagridis tồn tại lưỡng

biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ
nhân to mọc ra 4 cái roi, H. meleagridis chuyển vận động theo hai phương thức
xoắn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls).
2.1.1.3. Phương thức truyền lây của H. meleagridis
H. meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân). H. meleagridis
lây truyền bằng 2 con đường: lây nhiễm trực tiếp và lây nhiễm gián tiếp.
* Truyền bệnh trực tiếp
Trong báo cáo ban đầu của Smith (1895) [27], sự lây truyền trực
tiếp bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe uống
H. meleagridis. Đồng thời ông cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và
các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây
6
khỏe cũng bị nhiễm bệnh. Curtice (1907) [8], cũng làm các thí nghiệm gây
nhiễm H. meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự. Tuy nhiên, các tác giả
đều kết luận có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn,
uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao.
Tyzzer và Collier (1925) [29] đã lấy gan của gà bị bệnh nặng nghiền
nhỏ cho gà và vịt được 4, 6, 16 ngày tuổi ăn. Tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu
đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn gan nhiễm bệnh. Sau hàng
loạt thí nghiệm, Tyzzer (1926) [30] đã kết luận rằng H. meleagridis có thể
được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ
quan của gà bệnh có chứa mầm bệnh.
Lund E. E. (1960) [23] đã gây bệnh bằng đường miệng cho 109 gà ở 6 - 9
tuần tuổi, mỗi gà nuốt 10.000 - 50.000 H. meleagridis. Kết quả chỉ có 1 gà tử
vong trong số 2 gà bị mắc bệnh do gây nhiễm. Mổ khám thấy gan và manh tràng
bị tổn thương.
Farmer and Stephenson (1949) [11] đã tiến hành gây nhiễm cho gà tây
bằng cách cho ăn các tổn thương manh tràng mà không có các tổn thương
gan, nhận thấy rằng gà mắc bệnh với tỷ lệ thấp.
Horton-Smith and Long (1955, 1956) [17] cũng làm nhiều thí nghiệm

gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi ăn phân gà nhiễm bệnh mà không cần
sự có mặt của trung gian truyền bệnh.
Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở
các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, sau đó tiến hành theo dõi trong
10 - 15 ngày những gà gây nhiễm. Các tác giả cũng thu được những kết quả
nhất định:
Hu và cs (2004) [18], tiến hành gây nhiễm H. meleagridis qua lỗ huyệt
cho gà 2 tuần tuổi, liều 100 000 tế bào/con. Theo dõi trong 12 ngày thấy
không có gà nào bị chết, tiến hành mổ khám, thấy gan và manh tràng bị tổn
thương nặng.
Tỷ lệ tử vong thấp hơn 50% đã được báo cáo bởi Hauck và cs
(2005) [13], khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây 3 tuần tuổi với liều
150.000 H. meleagridis /con.
8
Tỷ lệ tử vong bởi bệnh đầu đen ở gà lên đến 80% đã được báo cáo bởi
McDougald L. R. (2003) [24], sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây ở 15
ngày tuổi với lượng 200.000 H. meleagridis / con.
Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng
được mô tả bởi Hess M. và Grabensteiner E., Liebhart D. ( 2006) [16]. Tác giả
cũng tiến hành gây nhiễm qua lỗ huyệt cho gà tây ở 14 ngày tuổi với liều
380.000 đơn bào H. meleagridis / con. Kết quả gà được gây nhiễm bài tiết mầm
bệnh ngay sau khi gây nhiễm 2 ngày. Sau 14 ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả
những gà sống sót, kiểm tra thấy manh tràng và gan xuất hiện tổn thương nặng
của bệnh đầu đen. Ngoài ra túi Fabricius cũng bị phá hủy nặng nề.
McDougald L. R. (2003) [24] đã nghiên cứu bệnh đầu đen ở các loài
gia cầm khác nhau trên mọi lứa tuổi với liều gây nhiễm khác nhau: gây nhiễm
trực tiếp thông qua lỗ huyệt cho 14 loài gia cầm ở 1 ngày tuổi, 14 ngày tuổi và
8 tuần tuổi với liều từ 10.000 - 1.000.000 H. meleagridis/ con. Kết quả thu
được, ở gia cầm 8 tuần tuổi khi gây nhiễm với liều thấp hầu như không có dấu
hiệu lâm sàng của bệnh và không có loài nào bị chết. Khi gây nhiễm với liều

Kết quả trên cho thấy:
Có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe bằng cách cho tiếp xúc trực
tiếp với gà bệnh, đưa mầm bệnh vào gà khỏe qua đường miệng và qua lỗ huyệt.
Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao
hoặc không xảy ra khi gây nhiễm qua đường miệng.
Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc
với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh. Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà
bệnh, H. meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở
manh tràng.
* Truyền bệnh gián tiếp
• Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim
Trong khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Cushman và cs (1894) [9] đã
nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực mà
trước đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh.
10
Smith (1895) [27] đã tiến hành thí nghiệm với qui mô lớn, ông kết luận
rằng H. meleagridis không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ sang trứng.
Ông bố trí thí nghiệm như sau:
Tiến hành thu thập 42 trứng từ 3 trang trại chăn nuôi gà bị bệnh đầu
đen: 24 trứng lấy từ trại 1, 6 trứng lấy từ trại 2 và 12 trứng được lấy từ trại 3.
Tất cả số trứng sau khi thu thập đều được lau sạch bằng nước ấm, rồi
ngâm trong dung dịch HgCl
2
0,5% trong 30 giây, sau đó rửa sạch bằng nước
đun sôi để ấm và lau khô bằng khăn khử trùng rồi cho vào lò ấp. Theo dõi
trứng ấp trong 24 ngày, kết quả:
Trứng lấy ở trang trại 1 có 22/24 trứng nở còn lại 2 trứng có phôi thai
phát triển đầy đủ. Trang trại 2 có 2/6 trứng nở, có 1 trứng bị loại bỏ do nứt vỏ
đến ngày thứ 19, 3 trứng còn lại có phôi thai phát triển đầy đủ. Trang trại 3 có
3/12 trứng nở, 2 trứng có phôi thai phát triển, 7 trứng có phôi thai nhỏ.

thể được truyền từ gia cầm này sang gia cầm khác thông qua một loại giun tròn
ký sinh ở manh tràng (Heterakis gallinarum). Theo tác giả giun kim chính là tác
nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển. Đây là một phát hiện quan trọng vì đã
xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, từ đó có những khuyến cáo để
ngăn ngừa bệnh đầu đen.
Tyzzer E. E. (1926) [30], cho biết, gà tây có thể nhiễm bệnh khi nuôi
nhốt chung với gà bị bệnh hoặc nuôi trên khu đất đã có gà bị bệnh.
Sau đó, Tyzzer E. E. (1934) [31] đã xác định mối quan hệ giữa H.
meleagridis và Heterakis, chỉ trứng Heterakis có phôi mới có thể làm lây bệnh.
Ông đã khẳng định rằng trứng giun kim Heterakis chính là tác nhân lây truyền
bệnh đầu đen. Trứng có phôi chứa thành phần axit nitric 1.5% giúp chúng có
khả năng bảo vệ khi đi qua đường tiêu hóa đến manh tràng của gà. Những phôi
trứng Heterakis chứa H. meleagridis là nguồn quan trọng để bệnh đầu đen phát
triển. Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian
truyền bệnh, và có ý nghĩa quan trong cho các thử nghiệm sau này.
Kế thừa phát hiện của Tyzzer, Smith (1895) [27] đã gây nhiễm
H. meleagridis cho gà bằng cách cho chúng ăn trứng có ấu trùng Heterakis,
chứa H. meleagridis. Trứng được làm sạch bằng cách rửa qua nước oxy già
50%. Kết quả, tất cả gà khỏe mạnh đưa vào thí nghiệm đã phát bệnh. Đây là
12
một thí nghiệm thành công, có ý nghĩa quan trọng vì một lần nữa khẳng định
trứng giun kim Heterakis chính là tác nhân lây truyền bệnh đầu đen.
Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về Heterakis gallinarum - trung gian truyền
bệnh đầu đen, các nhà khoa học đã phát hiện H. meleagridis trong đường sinh
dục và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học
Jinghui hu (2002) [19] đã cung cấp bằng chứng thuyết phục về hình
thái học của H. meleagridis trong đường sinh sản và trứng của Heterakis dưới
kính hiển vi quang học. Tác giả đã tìm thấy H. meleagridis ở cả giun
Heterakis đực và cái. Trong Heterakids đực, H. meleagridis ở trong lòng ruột,
xâm nhập các tế bào ruột, và trong ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh

Ông cũng đã cho gà ở các lứa tuổi khác nhau ăn giun đất thu thập từ
nơi mà trĩ vòng cổ đã bị bệnh. Kết quả, gà bị nhiễm cả 2 bệnh H. meleagridis
and Heterakis.
Trứng của giun kim Heterakis gallinarum có thể tồn tại trong đất 3 năm
mà vẫn có khả năng gây nhiễm và lan truyền đơn bào H. meleagridis gây bệnh
đầu đen. Trong ký chủ dự trữ giun đất, trứng có ấu trùng của giun kim Heterakis
gallinarum có thể tồn tại 1 năm. Sau khi gà nuốt phải giun đất, ấu trùng giun kim
sẽ di hành xuống manh tràng, tại đây các đơn bào H. meleagridis được giải
phóng và gây bệnh.
Kết quả các nghiên cứu đã chứng minh được vai trò quan trọng của
giun đất trong việc truyền tải bệnh đầu đen, là cơ sở khoa học khuyến cáo
người chăn nuôi có biện pháp phòng bệnh hiệu quả, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm
và thiệt hại do H. meleagridis gây ra, góp phần nâng cao năng xuất chăn nuôi.
2.1.1.4. Vòng đời của H. meleagridis
Lê Văn Năm và cs (2010) [4] đã tóm tắt vòng đời phát triển của
H. meleagridis như sau:
Trong mô tổ chức của kí chủ (gà ta và gà tây). H. meleagridis sinh sản
theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới
(Incistio) hay thể hợp bào. Khi chúng ra khỏi kí chủ thể hình roi và thể amip
chỉ sống được 24h, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm
trong các trứng của giun kim Heterakis gallinarum, từ đây chúng theo phân
gà thải ra ngoài. Điều kiện khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho H. meleagridis
tồn tại lâu trong môi trường thiên nhiên ngoài cơ thể. Gà bị nhiễm bệnh khi ăn
14
thức ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim Heterakis gallinarum có chứa
thể hợp bào H. meleagridis.
H. meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí.
2.1.2. Bệnh đầu đen (Histomoniasis) ở gà
2.1.2.1. Lịch sử bệnh
Histomoniasis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode

bang Mỹ, làm chết nhiều gà và gà tây gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho
người chăn nuôi.
Tiếp sau Hoa Kỳ, bệnh xảy ra tại Nhật Bản vào năm 1905. Tới năm
1926, bệnh nhanh chóng lây lan sang các châu lục khác như châu Âu, Úc và
Đông Á.
Ở Châu Âu, dịch Histomoniasis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở
Áo (2005), Hà Lan (2009), Bỉ (2006), Ireland (2007) và vương quốc Anh
(2007). Trong những năm 2004-2008 tại Đức xảy ra ít nhất 35 ổ dịch ở gà tây.
Ngày nay, Histomoniasis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới (McDougald,
2005) [25].
Hiện nay ở Việt Nam, bệnh đã xảy ra ở nhiều tỉnh thành trên cả nước.
Bệnh đã và đang bùng phát dữ dội tại 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Giang, gây
thiệt hại kinh tế nặng nề cho người chăn nuôi.
2.1.2.2. Những thiệt hại kinh tế do Histomoniasis gây ra
Trong những thập kỷ gần đây, Histomoniasis đã gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà tây. Những năm 1930, dịch
bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu
vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ. Trong năm 1945, bệnh đầu đen chiếm
32,2% tỉ lệ tử vong của gà tây ở Bắc Carolina.
Những năm tiếp theo dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên
phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi.
Ổ dịch Histomoniasis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75% đã được
báo cáo ở California vào năm 2001
Tại Đức, trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch xảy
ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi.
Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch
Histomoniasis trên gà tây, trong đó 15 ổ dịch là các trang trại gà giống. Năm
16
2009, có sự bùng nổ của dịch Histomoniasis ở gà tây 9 đến 11 tuần tuổi với tỷ lệ
chết là 24 - 68% (McDougald, 2005) [25].

tây, gà tây bị mắc bệnh. Từ những phát hiện này có thể thấy rằng vịt đóng vai
trò truyền bệnh cho các loài nhạy cảm.
Theo Lê Văn Năm ( 2010) [4], khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở nước ta
đã báo cáo: Bệnh do H. meleagridis thường xuyên nổ ra ở những cơ sở nuôi
gà ta nuôi chung với gà tây. Bệnh thường xuyên bùng phát ở gà nuôi theo lối
chăn nuôi tập trung (gà thả vườn).
Một yếu tố quan trong để H. meleagridis tồn tại và phát tán mạnh ra môi
trường thiên nhiên là do chúng thường kí sinh trứng của giun kim H. gallinarum,
mà khi nuôi gà thương phẩm hoặc làm giống thì hầu như 100% gà bị nhiễm loại
giun này. Bởi thế mà gà ta và gà tây bị nhiễm H. meleagridis chủ yếu qua đường
ăn uống trong đó có trứng giun kim H. gallinarum.
* Tuổi mắc bệnh
Tuổi là một yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng của gia cầm với H.
meleagridis.
Có ý kiến cho rằng gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh. Tuy nhiên,
gia cầm non dễ nhiễm Histomoniasis hơn cả. Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ
nhiễm Histomoniasis càng giảm.
Kết quả gây nhiễm Histomoniasis qua trực tràng cho gà ở các lứa tuổi
khác nhau của Hu J. và cs (2004) [18], một lần nữa chỉ ra được mối quan hệ
giữa tuổi gia cầm với khả năng nhiễm Histomoniasis. Theo tác giả, gà tuổi
càng cao sức đề kháng với Histomoniasis càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần
tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất.
* Mùa vụ
Gà mắc bệnh ở tất cả các tháng trong năm nhưng nhiều nhất từ tháng 4
đến tháng 9 hàng năm.
Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [4] cũng báo cáo rằng bệnh bùng
phát mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và hè thu. Đối với những gà
lớn tuổi (gà già và gà đẻ) thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông.
* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng

o
C, đứng ủ rũ, hai mắt
nhắm nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều (McDougald và cs, 2008
[26]). Lông xù, vùng hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu
huỳnh. Triệu chứng tiêu chảy phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối
của bệnh, khi chức năng gan bị suy yếu. Gia cầm sã cánh, đứng run rẩy, dấu
đầu vào dưới cánh (McDougald và cs, 2008) [26].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status