Nghiên cứu sự phát sinh gây hại của sâu đục thân hai chấm (scirpophaga incertulas walker) hại lúa vụ mùa 2013 và biện pháp phòng trừ tại cao minh, phúc yên, vĩnh phúc - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

------------------------VI VĂN BA

NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT SINH GÂY HẠI
CỦA SÂU ĐỤC THÂN HAI CHẤM
(Scirpophaga incertulas Walker) HẠI LÚA VỤ
MÙA 2013 VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ
TẠI CAO MINH, PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

TS. Dƣơng Tiến Viện

HÀ NỘI, 2014


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự động viên, giúp đỡ
nhiệt tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Trƣớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến TS.
Dƣơng Tiến Viện, khoa Sinh – KTNN, Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2 đã
trực tiếp, tận tình hƣớng dẫn vá giúp đỡ tạo điều kiện tốt cho tôi thực hiện đề
tài nghiên cứu và hoàn chỉnh khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô khoa Sinh –
KTNN, Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi
hoàn thành chƣơng trình học tập và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa
luận tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin đƣợc chân thành cảm ơn, lòng biết ơn tới gia đình,

………………... 33

Bảng 3.4. Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa VS1 vụ mùa
2013 tại xã Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc……………………………… 34
Bảng 3.5. Hiệu quả phòng trừ sâu đục thân 2 chấm trên giống lúa Bắc Thơm
số 7 vụ mùa 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc

………………... 38


DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Sâu đục thân cú mèo Sesamia inferens Walker: ............................. 28
Hình 3.2. Sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker: ...................... 29
Hình 3.3. Tỉ lệ dảnh, héo bông bạc (%) trên 3 giống lúa Khang dân 18, Bắc thơm
số 7 và VS1 vụ mùa năm 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc. ................ 35
Hình 3.4. Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm trên 3 giống lúa Khang dân 18,
Bắc thơm số 7 và VS1 vụ mùa năm 2013 tại Cao Minh, Phúc Yên,Vĩnh
Phúc………………………………………………………………………….. 36


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài. .......................................................................................... 3
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài ........................................................................ 3
2.1. Mục đích ................................................................................................ 3
2.2. Yêu cầu ...................................................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ..................................................... 3
3.1. Ý nghĩa khoa học ....................................................................................... 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ....................................................................................... 3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 4

1.3.5. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa ở Việt Nam ............ 19
1.3.5.1. Biện pháp kỹ thuật canh tác ............................................................... 19
1.3.5.2. Biện pháp thủ công............................................................................. 20
1.3.5.3. Biện pháp sử dụng giống lúa kháng sâu hại ...................................... 20
1.3.5.4. Biện pháp sử dụng pheromone giới tính ............................................ 20
1.3.5.5. Biện pháp sinh học ............................................................................. 22
1.3.5.6. Biện pháp hoá học .............................................................................. 23
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 24
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu.............................................................................. 24
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ..............................................................25
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 25
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 25


2.4.1. Điều tra thành phần sâu đục thân hại lúa vụ mùa năm 2013
tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc ............................................................... 25
2.4.2. Phương pháp điều tra diễn biến số lượng sâu đục thân hai chấm ....... 25
2.4.3. Khảo sát biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa hai chấm bằng thuốc
hoá học ............................................................................................................ 26
2.5. Phƣơng pháp tính toán và xử lý số liệu .................................................... 27
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................ 28
3.1. Thành phần loài sâu đục thân hại lúa vụ mùa 2013 tại Cao Minh, Phúc
Yên, Vĩnh Phúc ............................................................................................... 28
3.2. Diễn biến mật độ sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker tại xã
Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc............................................................................31
3.3. Biện pháp phòng trừ sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker
bằng thuốc hóa học.......................................................................................... 37
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 40
1. Kết luận ....................................................................................................... 40

dân 18, Bắc thơm 15, giống lúa thuần VS1, Nhị ƣu 903… Nhƣng hầu hết mức
1


độ nhiễm sâu bệnh thƣờng nặng hơn các giống khác. Trên đồng ruộng lại
xuất hiện một số loài dịch hại trong những năm gần đây đã trở thành loài
dịch hại chủ yếu, nhƣ sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy nâu, rầy nâu nhỏ,
rầy lƣng trắng, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá… Trong đó có sâu
đục thân lúa 2 chấm Scirpophaga incertulas Walker là một đối tƣợng có
nguy cơ gây hại, ảnh hƣởng đến năng suất lúa một số tỉnh phía Bắc. Diện
tích nhiễm sâu đục thân năm 2007 là 108.964 ha, năm 2008 tăng lên
267.000 ha. Đến năm 2010 thì tổng diện tích nhiễm 111.496 ha, giảm 50%
so với năm 2009, trong đó diện tích nhiễm nặng là 2.723 ha [23]. Năm
2012 diện tích nhiễm 33.320 ha, tăng 33% so với năm 2011 [25]. Sâu tập
trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, chủ yếu tại vụ mùa, do thời tiết bị đẩy
lùi, giai đoạn lúa trỗ trùng với cao điểm của sâu ra rộ; diện tích lúa mùa bị
nhiễm sâu tại tỉnh phía Bắc là 23,7 ngàn ha, tăng 162% so với năm 2011,
trong đó diện tích nhiễm nặng 2.867 ha, tăng 11 lần so với năm 2011. Hiện
tại chƣa có giống lúa nào đƣợc coi là có tính chống chịu với sâu đục thân lúa
hai chấm nhƣng đã có nhiều biện pháp đƣợc sử dụng nhằm ngăn chặn và
giảm thiểu tác hại của sâu đục thân lúa hai chấm nhƣ: thay đổi cơ cấu mùa
vụ, đƣa vào sản xuất những giống ngắn ngày, trỗ tập trung, cày lật đất sau khi
thu hoạch, ngắt ổ trứng, sử dụng thuốc hoá học… và đã mang lại hiệu quả rõ
rệt.
Trƣớc tình hình trên để giúp cho công tác chỉ đạo phòng trừ sâu đục
thân, đảm bảo sức khỏe cho ngƣời lao động và tạo ra sản phẩm an toàn đối
với ngƣời tiêu dùng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự phát sinh
gây hại của sâu đục thân hai chấm (Scirpophaga incertulas Walker) hại
lúa vụ mùa 2013 và biện pháp phòng trừ tại Cao Minh, Phúc Yên, Vĩnh
Phúc”.



CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Từ ngàn đời nay cây lúa đã gắn bó với con ngƣời, làng quê Việt Nam
và đồng thời trở thành tên gọi cho nền văn minh lúa nƣớc. Cây lúa không chỉ
mang lại sự ấm no mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hoá và
tinh thần. Hạt lúa và ngƣời nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không
thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt Nam hiện nay và mãi mãi về sau.
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, là trung tâm phát sinh cây
lúa nên đã tạo cho Việt Nam hệ thực vật phong phú và đa dạng đặc biệt là
côn trùng nông nghiệp. Trong những năm gần đây nông nghiệp Việt Nam đã
từng bƣớc chuyển sang nền sản xuất hàng hoá, tức là sản xuất với quy mô lớn,
quy mô trang trại ở các nông hộ, là sản xuất ra những gì mà thị trƣờng cần, từ
đó đã tạo ra sức ép về mùa vụ, về đầu tƣ, về kỹ thuật canh tác, về năng suất...
Các dòng lúa năng suất cao, thời gian sinh trƣởng ngắn đã đồng loạt đƣa vào
sản xuất, trong đó đa phần là các giống lai đƣợc nhập khẩu hoặc chuyển giao
từ Trung Quốc sang. Các giống lúa lai này có tiềm năng, năng suất cao, chịu
thâm canh và tính thích ứng rộng nó đã tạo nên cuộc cách mạng về năng suất.
Song cũng chính từ đây mà nhiều loại sâu hại trƣớc đây là thứ yếu nay đã trở
thành chủ yếu nhƣ: sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy nâu,… Theo
thống kê của Cục Bảo vệ thực vật diện tích lúa của toàn miền Bắc năm 2008
là 1.725.962 ha. Diện tích nhiễm sâu đục thân hai chấm là 267.673 ha (bằng
15,5% diện tích). Trong đó diện tích nhiễm nặng là 20.824 ha (bằng 1,2%
diện tích) và cao hơn so với năm 2007 từ 1,5 - 2,4 lần. Sang vụ Đông Xuân
2009, sâu đục thân lúa hai chấm lại có chiều hƣớng gia tăng. Tổng diện tích
nhiễm là 11.792 ha, khi đó vụ Đông Xuân 2008 diện tích nhiễm 6.104 ha
(cao gấp 1,93 lần). Đến năm 2010 thì tổng diện tích nhiễm 111.496 ha, giảm
4


thân lúa. Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon Blez., Chilo
5


zacconius Blez, Maliarpha separatella Rog và Sesamia calamistis Hamp.
Ở Châu Mỹ đã ghi nhận đƣợc 6 loài sâu đục thân lúa gồm Chilo loftini Dyar,
Chilo plejadellus Zink, Diatraea saccharalis Fabr, Elasmopalpus lignosellus
Zell, Rupela albinella Cramer và Zeadiatraea lineolata Walker. Lúa ở châu Úc
đã phát hiện có 2 loài sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com và
Phragmatiphila sp. Tại các nƣớc Châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã phát
hiện nhiều nhất, đạt tới 9 loài. Đó là các loài Ancylolomia chrysographella
Koll, Chilo auricilius Dudg, Chilo partellus Swin, Chilo polychrysus Meyr,
Chilosuppressalis Walk, Niphadoses gilviberbis Zell, Scirpophaga incertulas
Walker, Scirpophaga innotata Walker, Sesamia inferens Walker.
Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục thân sau:
Ancylolomia chrysographella Koll, Chiloauricilius Dudg, Chilo polychrysus
Meyr, Chilo suppresalisn Walker, S.incertulas Walker, Scirpophaga innotata
Walker, Sesamia inferens Walker (Pathak, 1975) [35].
1.2.2. Mức độ và triệu chứng gây hại
Sâu đục thân lúa Scirpophaga incertulas Walker chuyên gây hại cho
cây lúa nƣớc, sâu non sống và hoạt động trong thân cây lúa. Sâu đục thân hai
chấm gây hại suốt giai đoạn sinh trƣởng của cây lúa, nhƣng gây hại nặng
nhất ở giai đoạn đòng trỗ vì đây là giai đoạn quyết định năng suất cây lúa.
Sâu đục thân đục vào thân cây lúa làm thân cây lúa bị rỗng và hỏng,
khi cây lúa còn non thì dảnh nõn bị chết, ở giai đoạn cuối của lúa thì làm
bông lúa bị bạc trắng và khô.
Ở Philipine sâu đục thân gây hại khoảng 5 - 10% năng suất. Còn ở Ấn
Độ khoảng 1 - 19% năng suất mất khi bị hại ở giai đoạn đẻ nhánh và 38 40% năng suất bị mất khi bị hại ở giai đoạn trỗ.

6



tiết lạnh có thể dài hơn (Dale, 1994) [30].
Phâu sâu non: tuổi sâu non của sâu đục thân 2 chấm cũng khác nhau.
Theo (Dale, 1994) [30], thì sâu non có 5 tuổi. Theo Pathak (1969) [36], sâu
non đục thân lúa hai chấm có 4 – 7 tuổi. Trong điều kiện thức ăn hạn chế và
ở các cá thể qua đông thì thƣờng có nhiều tuổi hơn. Sâu non tuổi 1 khi mới
nở có chiều dài cơ thể khoảng 1,5 mm, thân màu vàng nhạt. Sâu non mới nở
có xu hƣớng phát tán rất mạnh. Sâu non tuổi 5 thành thục có chiều dài cơ thể
khoảng 25 mm với màu trắng hơi vàng. Thời gian phát dục của pha sâu non
kéo dài khoảng từ 30 ngày, đến 35 - 46 ngày (Dale, 1994 [30].
Pha nhộng: Nhộng sâu đục thân lúa 2 chấm lúc mới có màu sáng nhạt,
sau đó có màu nâu tối hơn. Nhộng làm trong một kén hơi mỏng màu trắng
ở trong thân cây lúa. Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày,
nếu thời tiết lạnh có thể dài hơn (Dale, 1994) [30].
Pha trƣởng thành: Theo Dale (1994) [30] trƣởng thành đực và trƣởng
thành cái loài sâu đục thân bƣớm hai chấm có tuổi thọ không giống nhau.
Trƣởng thành đực có tuổi thọ ngắn hơn tuổi thọ của con cái và tƣơng ứng kéo
dài 4,5 – 8,6 ngày và 5,3 – 8,8 ngày. Trƣởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm
chỉ giao phối 1 lần. Đẻ trứng từ đêm thứ 5 kể từ khi vũ hóa, đẻ trứng vào ban
đêm, mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng (Pathak, 1969) [36].
Nhƣ vậy vòng đời của sâu đục thân lúa hai chấm cần 46 - 54 ngày
(Dale, 1994) [30].
1.2.3.3. Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái
Theo Pathak (1969) [36], một trƣởng thành cái sâu đục thân lúa 2 chấm
Scirpophaga incertulas Walker có thể đẻ đƣợc 100 - 200 trứng. Dale (1994)
[30] cho rằng một trƣởng thành cái đẻ đƣợc lƣợng trứng ít hơn, chỉ là 100 150 trứng. Kết quả nghiên cứu khả năng đẻ trứng của trƣởng thành cái cũng
không giống nhau.
8



Ngƣỡng nhiệt độ của sâu non đục thân lúa 2 chấm S. incertulas Walker
là 16oC. Khi nuôi ở nhiệt độ 12oC sâu non tuổi 2, tuổi 3 không lột xác và
chết. Tỷ lệ phát triển của sâu non rõ ràng tỷ lệ thuận với nhiệt độ từ 17 –
35oC. Nuôi ở nhiệt độ thấp 23 – 29oC hầu hết sâu non đục thân lúa 2 chấm
có 5 tuổi, nuôi ở nhiệt độ cao hơn 29 – 35oC sâu non đục thân lúa 2 chấm
phát dục nhanh hơn và chỉ có 4 tuổi (Pathak, 1969) [36].
Pha nhộng sâu đục thân lúa hai chấm có ngƣỡng nhiệt độ phát triển là
15 – 16oC (Pathak, 1969) [36].
1.2.4. Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ
1.2.4.1. Biện pháp sử dụng pheromone giới tính
Pheromone là chất hóa học đƣợc trƣởng thành cái tiết ra để thu hút
trƣởng thành đực đến giao phối. Bombykol là chất Pheromone của con tằm
lần đầu tiên đƣợc tổng hợp. Cho đến nay đã tổng hợp đƣợc Pheromone của
khoảng 400 loài côn trùng. Chất Pheromone đƣợc sử dụng khá rộng rãi trên
thế giới với 2 mục đích là : dự tính, dự báo loài côn trùng hại và phòng chống
dịch hại bằng cách “gây nhiễu” làm cho con đực không định hƣớng đƣợc con
cái dẫn đến con cái không đƣợc thụ tinh, giảm mật độ thế hệ sau.
Trên thế giới, các nhà khoa học đã nghiên cứu và hiểu rõ thành phần
hóa học của nhiều loại pheromone, đa số là những chất ester, acid, rƣợu hoặc
những chuỗi acetate dài, thẳng với một nối đôi. Sau đây là công thức hóa học
số pheromone dục tính ở 1 số loài côn trùng: Ngài Argyrotaenia velutinana
Tortricidae: Cis-11-Tetradecenylacetate, Sâu đo cải bắp Trichoplusiani
Hubner: Cis-7-dodecen-1-ol acetate.
Tại Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, nhiều sản phẩm pheromone tổng hợp đã
đƣợc công nghiệp hóa từ gần 20 năm nay, chủ yếu là để phát hiện và dự tính
dự báo. Riêng tại Pháp, pheromone tổng hợp đã đƣợc sử dụng để dự tính dự
báo cho trên 25 loài côn trùng gây hại phổ biến cho nhiều loài cây trồng.
10



hoạch lúa phải cắt sát gốc rạ, cày lật gốc rạ, tiêu hủy lúa chét và thu ngắt ổ
trứng trên đồng ruộng đều đạt hiệu quả.
1.2.4.3. Sử dụng giống lúa kháng sâu hại
Ở Ấn Độ bắt đầu lai tạo giống lúa kháng sâu đục thân lúa bƣớm hai
chấm S. incertulas Walker từ năm 1964 bằng việc lai tạo giống mang gen
kháng sâu đục thân (TKM6, CB1 và CB2) với các giống mới năng suất cao
và giống địa phƣơng. Kết quả không có dòng lai nào có tính kháng cao đối
với sâu đục thân (Heinrichs, 1994) [31].
Các thí nghiệm đánh giá về tính kháng sâu đục thân lúa bƣớm 2 chấm
Scirpophaga incertulas Walker của tập đoàn giống lúa ở IRRI đƣợc bắt đầu
từ năm 1962. Chỉ có 40 dòng thuộc loài Oryza sativa và 80 dòng của các loài
lúa dại đƣợc xác định có mức kháng khá đối với sâu đục thân lúa bƣớm 2
chấm. Một số dòng thuộc loài O.sativa đánh giá ở Ấn Độ có tính kháng sâu
đục thân lúa bƣớm 2 chấm là CO7, CO15, CO18, CO21, TKM6 (Heinrichs,
1994) [31].
Việc lai tạo giống kháng sâu đục thân lúa bƣớm 2 chấm đƣợc bắt đầu
ở IRRI từ năm 1972. Giống lúa đầu tiên của IRRI có tính kháng trung bình
đối với sâu đục thân lúa bƣớm hai chấm đƣợc đƣa vào sản xuất là IR20.
Các giống lúa IR36, IR40 có tính kháng trung bình đối với sâu đục thân lúa
bƣớm 2 chấm đƣợc đƣa vào sản xuất năm 1976. Tiếp theo là các giống IR50,
IR54 cũng đƣợc đƣa vào sản xuất có tính kháng trung bình đối với sâu đục
thân lúa bƣớm 2 chấm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kháng sâu đục thân
lúa bƣớm hai chấm của các giống lúa chỉ đạt mức trung bình (Heinrichs,
1994) [31].
1.2.4.4. Biện pháp sinh học
Việc nhập nội một số ký sinh để trừ sâu hại lúa đƣợc tiến hành ở Ấn
Độ, Hawaii, Malaysia, Philippine, Nhật Bản. Ong đen mắt đỏ Trichogramma
12



Sử dụng các hoạt chất Carbofuran, Isazofos, Diazinon,... lƣợng 1,00
kg/ha, có thể phun Monocrotophos, Chlopyriphos và Quinalphos.
Chọn đúng dạng thuốc để trừ sâu đục thân không chỉ cho hiệu lực cao
mà còn hạn chế những ảnh hƣởng xấu tới thiên địch. Phun thuốc nƣớc để trừ
sâu đục thân thƣờng cho hiệu quả cao hơn phun thuốc bột. Dùng thuốc viên
rắc để trừ sâu đục thân lúa tốt hơn so với phun thuốc nƣớc và thuốc bột
(Chiu, 1980) [29].
Phải kết hợp sử dụng thuốc hóa học trừ sâu với các biện pháp khác
cũng đƣợc khuyến cáo trong phòng trừ sâu hại lúa. Thí dụ, kết hợp dùng chế
phẩm sinh học Bt với lƣợng nhỏ thuốc hóa học cho hiệu quả cao trong phòng
trừ sâu hại lúa thuộc bộ cánh vảy ở Quảng Đông, Trung Quốc (Chiu, 1980)
[29].
1.3. Nghiên cứu ở trong nƣớc
1.3.1. Thành phần loài và biến động thành phần loài sâu đục thân lúa
Từ sau hòa bình lập lại (1954) công tác nghiên cứu về sâu đục thân lúa
đã đƣợc đẩy mạnh với việc thành lập thêm hai Trạm dự tính dự báo ở
Bích Sơn (Việt Yên - Hà Bắc) và Cổ Lễ (Nam Trực - Nam Định). Những kết
quả nghiên cứu thời gian này đã đƣợc Nguyễn Văn Cảm (1977) tổng kết đã
xác định đƣợc 4 loài sâu đục thân ở các tỉnh phía Bắc thƣờng phát sinh và
gây hại là: Sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas Walker, sâu
đục thân 5 vạch đầu nâu Chilo suppressalis Walker, sâu đục thân 5 vạch đầu
đen Chilo auricillus Dudgeon, sâu đục thân cú mèo Sesamia inferens Walker.
Theo kết quả điều tra tại miền Nam Việt Nam của Viện Bảo vệ thực
vật trong những năm 1977 - 1979 đã ghi nhận có 6 loài sâu đục thân lúa ở
miền Nam [27]. Trong đó, loài gây hại chủ yếu là sâu đục thân mình vàng
Scirpophaga incertulas Walker có tỷ lệ cá thể chiếm 40 - 80% tổng số các cá
thể sâu đục thân. Sâu năm vạch đầu đen Chilo polychrysa Meyrisk có tỷ lệ
14



1976) [15].
Khả năng gây dảnh héo và bông bạc của sâu non từ 1 ổ trứng: 12 dảnh
hại hoặc 4,2 dảnh héo khi lúa đẻ nhánh: 9,2 bông bị hại hay 3,1 bông bạc/m2
khi mật độ ổ trứng thấp hơn 5 ổ/m2. Cây lúa có khả năng phục hồi khi bị hại
15,9 – 17,6% trong giai đoạn đẻ nhánh.
Trong các vụ lúa (chiêm xuân, hè thu, mùa) sâu đục thân lúa 2 chấm S.
incertulas Walker phá hại nặng trên lúa hè thu, lúa mùa hơn lúa chiêm xuân.
Trong mỗi vụ tỷ lệ hại giữa thời vụ sớm, đại trà và muộn có sự khác nhau.
Vụ mùa năm 1988 sâu đục thân lúa phát sinh mạnh ở một số tỉnh đồng
bằng sông Hồng. Tại tỉnh Thái Bình có 34.889 ha lúa bị bông bạc với tỷ lệ
22,7% và 5.332 ha bị bông bạc với tỷ lệ 39,3% (Chi cục BVTV Thái Bình,
1989) [6]. Tại Hải Phòng, sâu đục thân lúa đã gây tỷ lệ bông bạc trung bình
toàn tỉnh là 13,6%; nơi cao là 28,4%; cá biệt tỷ lệ này đạt tới 48,2 - 56,8%.
Vụ mùa năm 2002, tại Hải Phòng bị sâu đục thân lúa hai chấm gây hại trên
diện tích 29.000 ha. Toàn bộ diện tích đƣợc phun thuốc, trong đó có 16.400
ha đã phải phun thuốc 2 lần. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 479,8 ha bị bông bạc
với tỷ lệ 10 - 50% (Chi cục BVTV Hải Phòng, 1989, 2003) [4], [5].
Theo Nguyễn Đức Khiêm [11], kể từ năm 1961 trở về trƣớc, tác hại của
sâu đục thân lúa nói chung và sâu đục thân hai chấm nói riêng có thể gây thiệt
hại biến động từ 3 – 20%, có nơi, có vụ thiệt hại còn cao hơn. Vụ mùa 1988,
tỷ lệ hại trên lúa nếp và mộc tuyền ở Hải Phòng, Hải Hƣng là 40 – 60%. Năm
1999 diện tích bị nhiễm sâu đục thân trong vụ mùa là trên là 12.000 ha.
Năm 2000 phân bố sâu đục thân rộng hơn các năm trƣớc. Tại các tỉnh
Quảng Ninh, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội, Hải Phòng trên trà
lúa trỗ sau 20/9 tỷ lệ bông bạc phổ biến từ 6,1%, cao 30% và cá biệt có nơi
không phòng trừ tới 80%. Tổng diện tích nhiễm 73.435 ha, nhiễm nặng
12.727 ha (Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc 2000).
16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status