1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN HIỆP
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT SINH GÂY HẠI CỦA RẦY NÂU
Nilaparvata lugens Stål VÀ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NẤM XANH
Metarhizium anisopliae TRONG PHÒNG CHỐNG CHÚNG TẠI
XÃ BÌNH HÒA, CHÂU THÀNH, AN GIANG NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, 2013
HÀ NỘI, 2013
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng,
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng ñược sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn và các thông
tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn NGUYỄN VĂN HIỆP Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… iii
MỤC LỤC
Lời cam ñoan……………………………………………………………………… i
Lời cảm ơn……………………………………………………………………… ii
Mục lục…………………………………………………………………………… iii
Danh mục bảng…………………………………………………………………… v
Danh mục ñồ thị……………………………………………………………………vi
Danh mục viết tắt……………………………………………………………….…vii
MỞ ðẦU 1
ðẶT VẤN ðỀ 1
MỤC ðÍCH VÀ YÊU CẦU NGHIÊN CỨU 2
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ RẦY NÂU Nilaparvata lugens Stål 3
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NẤM XANH Metarhizium anisopliae 6
1.2.1. Trên thế giới 6
1.2.2. Ở Việt Nam 13
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1. ðỊA ðIỆM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 18
2.1.1. ðịa ñiểm nghiên cứu 18
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 18
2.2. ðỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 18
2.2.1. ðối tượng nghiên cứu 18
2.2.2. Vật liệu 18
2.2.3. Dụng cụ nghiên cứu 18
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.4.1. Phương pháp ñiều tra thành phần rầy hại lúa và thiên ñịch của chúng tại
nâu ở ngoài ñồng ruộng 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Hiểu biết của nông dân về việc sử dụng thuốc hóa học 25
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng các loại thuốc phòng trừ rầy nâu 27
Bảng 3.3. Thành phần nhóm rầy hại lúa tại Bình Hòa, Châu Thành, An Giang
năm 2012 27
Bảng 3.4. Thành phần thiên ñịch của rầy nâu vụ hè thu và thu ñông 2012 tại Bình
Hòa, Châu Thành, An Giang 28
Bảng 3.5. Tỷ lệ họ, loài thiên ñịch thuộc các bộ côn trùng 29
Bảng 3.6. Diễn biến mật ñộ rầy nâu hại lúa trên 03 giống lúa vụ hè thu 2012
tại Bình Hòa, Châu Thành, An Giang…………………………………… 30
Bảng 3.7. Diễn biến mật ñộ rầy nâu và bọ xít mù xanh trên giống lúa OM 4218 vụ
hè thu 2012 tại Bình Hòa, Châu Thành, An Giang 32
Bảng 3.8. Diễn biến mật ñộ rầy nâu và nhện sói vân ñinh ba trên giống lúa OM 4218 vụ
hè thu 2012 tại Bình Hòa, Châu Thành, An Giang 33
Bảng 3.9. Diễn biến mật ñộ rầy nâu hại lúa trên 03 giống tại Bình Hòa, Châu
Thành, An Giang vụ thu ñông 2012 35
Bảng 3.10. Diễn biến mật ñộ rầy nâu và bọ xít mù xanh trên giống lúa OM 4218
vụ thu ñông 2012 37
Bảng 3.11. Diễn biến mật ñộ rầy nâu và nhện sói vân ñinh ba trên giống lúa OM
4218 vụ thu ñông 2012 tại Bình Hòa, Châu Thành, An Giang 38
Bảng 3.12. Hiệu lực của chế phẩm nấm xanh ñối với các tuổi của rầy nâu trong
phòng thí nghiệm 42
Hình 3.8. Hiệu lực của nấm xanh ñối với các tuổi của rầy nâu trong nhà lưới 45
Hình 3.9. Hiệu lực phòng trừ rầy nâu của chế phẩm nấm xanh ở các liều lượng
khác nhau 46
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 1
MỞ ðẦU
ðẶT VẤN ðỀ
Cây lúa là một trong 3 cây lương thực chủ yếu của nhân loại (lúa mỳ, lúa, ngô).
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt ñới, dễ trồng và cho năng suất cao. Hiện nay, trên thế giới
có khoảng 100 nước trồng lúa và tập trung chủ yếu ở Châu Á và 85% sản lượng lúa
của thế giới thuộc 8 nước: Trung Quốc, Ấn ðộ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam,
Thái Lan, Myanmar và Nhật Bản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005).
Ở Việt Nam, cây lúa là cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa lớn trong nền kinh
tế quốc dân và xã hội. Năng suất và sản lượng trong những năm qua tăng nhưng không
ổn ñinh. Hàng năm, ngoài tác hại do thiên tai, cây lúa còn bị rất nhiều ñối tượng gây
hại làm giảm năng suất và sản lượng như sâu, bệnh hại, chuột, cỏ dại ñặc biệt ngày
càng có nhiều dịch bệnh xảy ra thường xuyên hơn ñã ảnh hưởng nghiêm trọng ñến
năng suất, chất lượng lúa.
Một trong những loài dịch hại quan trọng là rầy nâu. Theo Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn vụ lúa ñông xuân 2006 - 2007 tại các tỉnh phía Nam ñã xuống
giống gần 1.600.000 ha, diện tích nhiễm rầy nâu là 282.713 ha, nhiễm nặng 37.810 ha,
nhiễm vàng lùn và lùn xoắn lá 61.692 ha, nhiễm nặng 18.076 ha. Riêng ở An Giang,
trong vụ ðông Xuân 2007 – 2008 thì tổng diện tích nhiễm bệnh vàng lùn là 3.262 ha
- Nắm ñược tính mẫn cảm từng pha phát dục của rầy nâu ñối với chế phẩm M.
anisopliae
- So sánh hiệu quả của chế phẩm nấm xanh M. anisopliae với thuốc hóa học trừ
rầy nâu tại ñịa bàn nghiên cứu.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 3
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ RẦY NÂU Nilaparvata lugens Stål
* Vị trí phân loại
Rầy nâu ñược coi là một trong những ñối tượng nguy hiểm gây hại trên lúa.
Rầy nâu còn gọi là muội nâu có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stål, họ rầy
Delphacidae, bộ phụ vòi ở ñầu Auchenorrhyncha, bộ cánh ñều Homoptera.
Nilaparvata lugens ñược Stål ñặt tên ñầu tiên vào năm 1854 là Dephax lugens
Stål. Tại Sri Lanka, N. lugens ñược biết ñầu tiên dưới tên N. greeni Distant
(Fukuda,1934), Sau ñó là N. oryzae Matsumra (Anon, 1944; Wang, 1957) và trở thành
N. lugens Stål. (Lin,1958; Tao,1966; Chiu,1970).
* Ký chủ và phạm vi phân bố
Phân bố phạm vi của rầy nâu rộng khắp phía Nam và ðông Nam Á, Australia
và một số ñảo ở Thái Bình Dương. Trên thế giới phạm vi phân bố của rầy nâu rất rộng.
Theo Mochida, (1979), rầy nâu phân bố ở hầu hết các nước trồng lúa nước vùng ðông
Nam Á như Ấn ðộ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Bangladesh, Indonexia, Srilanca,
Philippin, Malaysia, Trung Quốc, ðài Loan, Nhật Bản, Việt Nam,… Ký chủ rầy nâu
chủ yếu là cây trồng và cây dại thuộc họ hòa thảo. Lúa nước là ký chủ chính của rầy
nâu do ñó thời gian không trồng lúa và ñể ruộng nghỉ không có lúa chét có thể làm
1977 - 1979, rầy nâu ñã gây thành dịch tại một số tỉnh ở ñồng bằng sông Cửu
Long với diện tích lúa bị hại khoảng một triệu hecta; nhiều nơi bị mất trắng, thiệt hại
ñến hàng triệu tấn lúa.
Từ vụ hè thu năm 1988 ñến ñông xuân năm 1989-1990, rầy nâu ñã phát sinh và
thành dịch gây hại nặng ở một số nơi như thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Tiền
Giang, Minh Hải.
Riêng năm 1990, ở ñồng bằng sông Cửu Long, tính cả 3 vụ sản xuất có khoảng
237.820 hecta lúa bị nhiễm rầy nâu, chiếm 8,3% diện tích lúa cả năm.
ðặc biệt trong năm 1991, rầy nâu phá hại 1.394.910 ha và gây cháy ở hầu hết
các vụ trồng lúa trong cả nước.
Ngoài ra, rầy nâu còn truyền bệnh cho cây lúa như bệnh lùn xoắn lá, bệnh lúa
cỏ. Diện tích lúa ñông xuân năm 1992-1993 bị nhiễm bệnh lùn xoắn lá ñược ghi nhận
tại các tỉnh Cửu Long, Sóc Trăng, Cần Thơ và Vĩnh Long lên ñến khoảng 40%.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 5
Trong những năm gần ñây, rầy nâu là ñối tượng dịch hại nguy hiểm. Theo số
liệu tổng kết báo cáo công tác bảo vệ thực vật năm 2006 của Cục Bảo vệ thực vật cho
thấy rầy nâu có xu hướng phát triển tăng lên về mật ñộ và diện tích phân bố, riêng năm
2006 cả nước có diện tích rầy nâu 605.593 ha (gấp 3,2 lần so với năm 2005), trong ñó
diện tích bị nhiễm nặng là 48.876 ha (tăng 4,6 lần so với năm 2005), có 51.8 ha bị
“cháy rầy” phân bố chư yếu ở các tỉnh vùng ðồng bằng Bắc bộ.
Ở các tỉnh miền Bắc có 141.190 ha bị nhiễm rầy nâu tăng 28.6% so với năm
2005, trong ñó diện tích nhiễm nặng khoảng 20.000 ha, tăng 1,8 lần so với năm 2005.
Từ năm 2006 ñến nay (2010) rầy nâu ñã trở thành dịch hại quan trọng nhất ở
các vùng trồng lúa trong cả nước, nhất là các tỉnh ñồng bằng Sông Hồng và ñồng bằng
sông Cửu Long, bởi chúng xuất hiện ở mật ñộ cao có mức gây hại lớn và là véc tơ của
2 loại bệnh vi rút hại lúa nguy hiểm và bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Vụ mùa năm
ñến biện pháp sử dụng thuốc hóa học hợp lý, cụ thể rầy nâu thuốc Basa 50EC, Trebon
10 EC, Applaud 15WP, Regent 800 WG, Admire 50EC phun khi rầy tuổi 1- 2 rộ.
Xử lý hạt giống : Cruiser Plus 312.5FS (50ml/100 kg hạt giống) và Gaucho
600FS (40ml/100 kg hạt giống) không ảnh hưởng ñến tỷ lệ nảy mầm và tốc ñộ nảy
mầm của hạt, không ảnh hưởng xấu ñến sinh trưởng và phát triển của cây lúa sau khi
gieo cấy. Thuốc Cruiser có hiệu quả trừ rầy trưởng thành xâm nhập vào ruộng từ 72 –
82% sau mọc 3 – 5 ngày, từ 40 – 60% cây lúa 7- 10 ngày tuổi (Ngô Vĩnh Viễn 2007).
Cũng theo tác giả Ngô Vĩnh Viễn (2007) thì thuốc nhóm Neonicotinoid có hoạt chất
Dinotefuran (trong ñó có Oshin 20WP), Clothianidin (trong ñó có Dantosu 16WSG),
Thiamethoxan (trong ñó có Actara 25WG) có hiệu quả trừ rầy non và rầy trưởng thành
và có thể bảo vệ lúa non trong 5 ngày sau phun. Những loại thuốc này có thể khuyến
cáo sử dụng trừ rầy nâu véc tơ truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho lúa từ khi mọc
cho ñến 30 ngày tuổi.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NẤM XANH Metarhizium anisopliae
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Những nghiên cứu chung về bệnh nấm côn trùng
Theo Phạm Thị Thùy, năm 1709 Balisneri là người ñầu tiên phát hiện ra nấm ký
sinh côn trùng, từ ñó ngành khoa học nghiên cứu về bệnh lý côn trùng ñã ra ñời, ông
khẳng ñịnh nấm côn trùng là vi sinh vật gây bệnh lên côn trùng và chúng có khả năng
lây nhiễm từ ký chủ này sang ký chủ khác.
Năm 1815, Agostino Bassi ñã mô tả khá tỉ mỉ về nấm trắng Muscardin gây
bệnh trên tằm và từ ñó ñưa ra biện pháp ngăn ngừa bệnh Bassi ñã phân biệt ñược mô
ký chủ và nấm ký sinh bằng cách ñưa ra phương pháp lan truyền. Ông ñã nêu ra ñiều
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 7
kiện lây bệnh và phương pháp phòng trừ. Với thành công ñó Agostino Bassi ñược coi
là nhà bệnh lý học côn trùng ñầu tiên.
8
* Vị trí phân loại
Nấm xanh Metarhizium anisopliae thuộc ngành Ascomycota, lớp Sordariomycetes,
Bộ Hypocreales, Họ Clavicipitaceae, Chi Metarhizium, Loài M. anisopliae, kí sinh
trên mối, châu chấu, cào cào, bọ hại dừa, bọ xít, rầy nâu và nhiều sâu non thuộc họ
ngài ñêm, bộ cánh vẩy. Nấm M. anisopliae (Ma) có màu xanh lục nên ở nước ta còn
gọi là nấm lục cương.
* Khả năng ký sinh côn trùng của nấm xanh
Chế phẩm trừ sâu sinh học M. anisopliae của Viện Lúa ðồng bằng sông Cửu
Long ñược sản xuất từ nấm xanh, M. anisopliae (Metsch.) Sorok.
Nấm xanh, M. anisopliae (còn gọi là nấm lục cương) ñược tìm thấy trên hơn 200
loài côn trùng khác nhau (Ferron, 1978).
Nấm xanh thường xâm nhiễm trên rầy lá, rầy thân, bọ xít ñen và nhiều loài sâu
hại khác. Nấm hình thành trên bề mặt côn trùng một lớp phấn màu xanh vàng ñến
xanh ñậm trên mạng sợi nấm chằng chịt màu trắng. Cuống sinh bào tử có hình trụ 6-
13×2-4µm mọc trên các cành bào tử. Bào tử trần hình trụ hoặc hình elip có kích thước
4,5-8,5×2,5-4µm và xếp thành chuỗi dài (Rombach et al., 1994).
Nhà khoa học Nga Ilia Mesnhicov là người ñầu tiên phát hiện ra bệnh nấm xanh
(gọi là Entomopthora anisopliae), nay ñổi là M. anisopliae. ðến năm 1908, Mesnhicov
và học trò của ông là Crasintxik ñã sử dụng nấm này ñể chống bọ ñầu dài hại củ cải
ñường. ðến những năm 80, 90 của thế kỷ này nấm Metarhizium và những chế phẩm
sản xuất từ loài nấm này lại ñược nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới ñể
phòng trừ sâu ñục thân ở Tasmania, chống loài mối, Nasutitermes exitiousus (Hill) ở
ðức, các loài mối thuộc Coptotermes ở Úc (Tạ Kim Chỉnh et al., 1995). Từ những
năm 80 của thế kỷ 20, trên thế giới, nhiều nhà khoa học ñã nghiên cứu và ứng dụng
các chế phẩm sinh học từ vi nấm M. anisopliae mang tên thương mại Metaquino ñể
phòng trừ muỗi sốt rét Lubilosa, phòng trừ châu chấu, Schistocerra gregaria.
Ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa, Oryctes rhinoceros bị nhiễm tự nhiên bởi nấm
ñến khi côn trùng chết là giai ñoạn sống ký sinh của nấm. Trong giai ñoạn này nấm
thường tạo ra rất nhiều sợi nấm ngắn, chúng ñược phân tán khắp cơ thể theo dịch máu.
Trước khi nấm có thể sinh sôi nảy nở trong máu nó thường phải vượt qua phản ứng
phòng vệ của côn trùng, và sự tạo ñộc tố của nấm có thể làm suy yếu phản ứng tự vệ
của côn trùng. Côn trùng có thể phản ứng với sự xâm nhiễm của nấm bằng cách sử
dụng thể dịch (như phenoloxidase, lectins, peptid và protein hoặc sử dụng cơ chế của
vách tế bào như sự thực bào hoặc kết nang (Bidochka et al., 1997; Boucias and
Pendland, 1998). Côn trùng chết có thể là kết quả của sự phối hợp các hoạt ñộng như
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 10
sự làm giảm dinh dưỡng, làm tắt nghẽn cơ thể hoặc sự xâm lấn của các cơ quan và tác
ñộng của ñộc tố ñối với côn trùng. Ví dụ nấm trắng tạo ra phức hợp các ñộc tố bao
gồm beauvericin, bassianolide và oosporein, nấm xanh tạo ra ñộc tố Destruxin làm tê
liệt côn trùng (Dumas et al., 1996), hoặc gây ức chế miễn dịch (Cerenius et al., 1990).
Sau khi con côn trùng chết, nấm thường phát triển hoại sinh trong ký chủ. Dưới
ñiều kiện thích hợp nấm tạo ra các bào tử hoặc nấm mọc thành sợi ra bên ngoài bề mặt
cơ thể vật chủ. Sau ñó các bào tử ñược tạo thành trên lớp sợi nấm ở bề mặt cơ thể vật
chủ và bị phóng thích ñi. Bào tử phát tán thụ ñộng nhờ gió và những yếu tố khác như
mưa ñóng vai trò quan trọng trong phát tán bào tử.
Ánh sáng là nhân tố quan trọng trong sinh vật học của hầu hết các nấm ký sinh,
ñặc biệt có liên quan ñến sợi nấm, sự phóng thích và sự sống sót của bào tử
(Callaghan, 1969; Sakamoto et al., 1988). Ánh sáng tự nhiên có phổ 290-400 nm sẽ
ảnh hưởng lên sự bền của nấm trên tán cây và ít ảnh hưởng hơn trên những cơ chất
khác (Fuxa, 1987). Fargues et al. (1996) thấy rằng nấm trắng và nấm xanh bị mẫn cảm
cao ñối với ánh sáng ñặc biệt là thành phần tia cực tím của quang phổ (285-315nm).
Walstad et al. (1970) ñã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của ñiều kiện môi
trường lên hai loài nấm trắng, Beauveria bassiana và nấm xanh, Metarhizium
hình thành bào tử trên xác côn trùng (Gillespie and Crawsford, 1986).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 11
Ảnh hưởng của loại ñất, nhiệt ñộ và ẩm ñộ: nhiệt ñộ ñất tối hảo cho sự lưu tồn
của nấm phụ thuộc vào dòng nấm, loại ñất, ẩm ñộ ñất và sự ñối kháng tự nhiên. Bào tử
nấm trắng có tỉ lệ chết 50% là 276 ngày ở 10
o
C (Lingg and Doualdson, 1981).
Studdert and Kaya (1990) cho thấy sự tồn tại của sợi nấm trắng khi giảm nhiệt ñộ và
giảm ẩm ñộ trong ñất gần ñến bão hòa. Bào tử nấm xanh có thể tồn tại ít nhất 21 tháng
ở 19
o
C. Cammon and Rath (1994) cho thấy dòng nấm xanh, Metarhizium anisopliae
ñược lây nhiễm ở 5
o
C và tồn tại hai năm. Sự lưu tồn của nấm trong ñất bị suy thoái
nhanh chóng khi nhiệt ñộ trên 30
o
C và chết ở 50
o
C.
Ảnh hưởng của sinh vật ñối kháng trong ñất lên sự lưu tồn của nấm trắng: ước
tính có khoảng 464 loài nấm và sợi men ñược tìm thấy trong ñất (Kendrick and
Parkinson, 1990). Shields et al. (1981) ñã xác ñịnh dung dịch có chứa Penicillium
uriticae ức chế sự nảy mầm của bào tử và sự phát triển của sợi nấm trắng.
Aguda et al (1984) ñã dùng nấm B .bassiana ñể phòng trừ rầy lưng trắng và rầy xanh.
Nấm xanh, M. anisopliae và nấm trắng, B. bassiana ñã ñược sử dụng ñể phòng trừ rầy
cuối cùng giết chết côn trùng sau một vài ngày nhờ khả năng sản xuất ra ñộc tố là một
peptide có cấu trúc vòng (peptide vòng) - destruxins - (H.3). Các ñộc tố này khác nhau
bởi nhóm R. ðây là các ngoại ñộc tố, trong ñó destruxin A, B, C, D là tác nhân gây
bệnh chính.
Một số chế phẩm sinh học của nấm Metarhizium ñang ñược sử dụng rộng rãi như:
M.a (OM2–B) ñã ñược ñưa vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật với tên thương mại là
Ometar, ñược phép sử dụng ở Việt Nam theo Quyết ñịnh số 63/2003/Qð-BNN ngày
27/05/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chế phẩm M.a (OM2-B) có
hiệu lực rất cao ñối với các loài bọ cánh cứng, rầy, bọ xít hại cây trồng và có hiệu lực
tương ñối khá ñối với cào cào, mối và một số sâu ăn lá khác. Sau khi phun 7 ngày, hiệu
lực diệt trừ bọ cánh cứng hại dừa của M.a (OM2-B) ñạt 68-89%, hiệu lực diệt trừ các
loài rầy ñạt 73,5-91,5% và hiệu lực trừ bọ xít hại cây trồng là 73-88% (tùy theo ñiều
kiện nhiệt ñộ, ẩm ñộ của từng vụ, từng vùng và trên từng cây trồng). Chế phẩm nấm
xanh có hiệu lực bền lâu và kéo dài tới hàng tháng sau khi phun. Chế phẩm M.a (OM2-
B) còn có hiệu lực ổn ñịnh ñối với sâu hại sau 8 tháng bảo quản ở nhiệt ñộ, ẩm ñộ bình
thường.
Chế phẩm nấm xanh M.a (OM2-B) không gây ảnh hưởng xấu tới thiên ñịch của sâu
hại, con người, gia súc và môi trường, ñã ñược ứng dụng trên 650ha cây trồng (lúa,
ngô, lạc, cây ăn trái, nho, trà) và 7.000 cây dừa. ðặc biệt, chế phẩm nấm xanh còn có
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 13
hiệu quả cao khi ứng dụng ñể trừ sâu khoang, bọ cánh cứng, cào cào, châu chấu,
những loài côn trùng nguy hại nhất ñối với cây lạc hiện nay.
1.2.2. Ở Việt Nam
Hướng nghiên cứu ñể sử dụng nấm ký sinh côn trùng trong việc phòng trừ sâu hại
tại Việt Nam ñược ñề cập tới từ những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng trong vòng hơn
10 năm trở lại ñây mới có nhiều công trình ñược công bố về lĩnh vực này. Bào tử nấm
chọn lọc, chúng tôi ñã chọn ra 5 chủng nấm xanh và 6 chủng nấm trắng có hiệu lực rất
cao ñối với rầy nâu và bọ xít hại lúa. Trong số này thì chủng nấm xanh M.a (OM2 –
B)và chủng nấm trắng B.b (OM1 – R) là 2 chủng có hoạt lực cao ñối với sâu hại lúa,
ñã ñược tuyển chọn ñể sản xuất ra chế phẩm nấm xanh chế phẩm nấm trắng (Nguyễn
Thị Lộc, 2006). Các kết quả thí nghiệm trong nhiều vụ ở nhà lưới, ngoài ñồng và thực
nghiệm trên diện rộng cho thấy rằng chủng nấm xanh, M.a (OM2 – B) có hiệu lực rất
cao ñối với các loài rầy, bọ xít hại lúa và có hiệu lực tương ñối khá cao ñối với sâu
cuốn lá nhỏ hại lúa. Sau khi phun bảy ngày, hiệu lực diệt trừ các loài rầy hại lúa ñạt từ
73,5 tới 91,5% và hiệu lực trừ bọ xít hại lúa là 73-88% (tùy theo ñiều kiện nhiệt, ẩm ñộ
của từng vụ, từng vùng và trên từng cây trồng khác nhau). Kết quả thí nghiệm trong
nhiều vụ cũng cho thấy rằng chủng nấm trắng, B.b (OM1 – R) có hiệu lực rất cao ñối
với các loài rầy, bọ xít hại lúa và có hiệu lực tương ñối khá ñối với sâu cuốn lá lúa.
Sau khi phun từ 5 tới 7 ngày, hiệu lực diệt trừ các loài rầy của Biovip ñạt từ 65 tới
87% và hiệu lực trừ bọ xít hại lúa ñạt từ 69 tới 85% (tùy theo ñiều kiện nhiệt, ẩm ñộ
của từng vụ, từng vùng và trên từng cây trồng khác nhau). Nấm xanh, M.a (OM2 – B)
và nấm trắng, B.b (OM1 – R) có hiệu lực bền lâu và kéo dài hàng tháng sau khi phun,
nên trong một vụ lúa, nếu bị rầy nâu, bọ xít phá hại thì chỉ cần phun một trong hai chế
phẩm này 1-2 lần là ñủ. Cả hai loài nấm này không gây ảnh hưởng xấu tới thiên ñịch
của sâu hại, con người, gia súc và môi trường (Nguyễn Thị Lộc, 2002).
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi ñã lựa chọn ñược hai công thức môi trường
lý tưởng nhất ñể nhân nhanh nấm xanh và nấm trắng.
Viện Lúa ðồng Bằng Sông Cửu Long ñã báo cáo ñề tài “Nghiên cứu, sản xuất và
ứng dụng hai chế phẩm sinh học ñể quản lý các loài sâu hại lúa” tại hội nghị của Ban
Trồng Trọt và Bảo Vệ Thực Vật, Bộ Nông Nghiệp & PTNT tổ chức tại TP Hồ Chí
Minh vào ngày 20-21/08/2002, ñã ñược ñánh giá là xuất sắc về mặt khoa học và ñược
Bộ Nông Nghiệp & PTNT công nhận “Quy trình sản xuất hai chế phẩm sinh học M.a
và B.b ñể quản lý các loài sâu hại lúa của Viện Luá ðồng Bằng Sông Cửu Long” là
tiến bộ kỹ thuật và cho phép ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp (theo quyết
ñịnh số 5310 Qð/BNN-KHCN ngày 29 tháng 11 năm 2002 của Bộ NN & PTNT).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………
và ñang hưởng ứng rất tích cực trong việc ứng dụng hai chế phẩm sinh học này vào
việc quản lý sâu hại lúa và bọ cánh cứng hại dừa (Nguyễn Thị Lộc, 2006).
Cũng theo Trần Văn Hai và ctv., (2006), Ở Hưng Yên, năm 1993 ñã sử dụng nấm
xanh ñể phòng trừ sâu ño chỉ sau 7 – 10 ngày hiệu quả khoảng 70 – 89%, phòng trừ rầy
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ……………………… 16
nâu, bọ xít, sâu cắn gié bọ cánh cứng hại dừa ñạt hiệu quả cao (tại Tiền Giang, Sóc Trăng,
Bạc Liêu). Tại Cần Thơ, từ năm 2005-2007 ñã sử dụng nấm M. anisopliae ñể phòng trị
sâu ăn tạp, rầy mềm ñạt hiệu quả khá cao trên 70% sau 7-12 ngày.
Ở ðồng bằng sông Cửu Long (ðBSCL), gần 100.000 ha lúa ðông Xuân 2006-
2007 ñã bị nhiễm rầy nâu và hàng ngàn hecta lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá.
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, Bộ
môn Phòng trừ sinh học - Viện lúa ðBSCL phối hợp thực hiện với Chi cục Bảo vệ
Thực vật tỉnh Sóc Trăng thực hiện ñề tài "Xây dựng mô hình phòng trừ sâu hại lúa
bằng chế phẩm sinh học từ nấm M. anisopliae và B. bassian trong thâm canh lúa chất
lượng cao" (2003-2005) và trong hai năm 2006 - 2007 tỉnh ñã tổ chức phòng trừ rầy
nâu bằng thuốc trừ sâu sinh học Ometar và Bemetent trên diện rộng với hàng nghìn
hecta kết hợp với thuốc hóa học rất hạn chế trong diện hẹp khi có mật số rầy nâu cao
cho hiệu quả.
Theo kết quả của Sở Nông Nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng báo cáo năm 2007 thì
khi ứng dụng thuốc vi nấm M. anisopliae ñể quản lý rầy nâu trong giai ñoạn mạ của
lúa mùa thì giai ñoạn sau của lúa mùa nấm ký sinh xuất hiện nhiều trên ñồng ruộng và
ñã khống chế ñược mật số rầy nâu và không phải phun thuốc hóa học trong suốt vụ
lúa. Trong khi ñó ở những ruộng lúa mùa mà giai ñoạn mạ dùng thuốc hóa học ñể trừ
rầy nâu thì rất ít rầy nâu bị nấm ký sinh, rầy nâu bộc phát mật số cao và phải phun
thuốc hóa học tới 5 lần. Kết quả ghi nhận của trạm bảo vệ thực vật Thạnh Trị và Kế
Sách cho thấy là mật số rầy nâu vào thời ñiểm cao nhất ở những ruộng lúa mùa ñã
ñạt cao ñiểm 65,3% (21 ngày sau khi phun). Chế phẩm nấm xanh M. anisopliae có khả
năng khống chế rầy nâu hại lúa khá tốt. ðặc biệt, trên những ruộng sử dụng chế phẩm
này không gặp tình trạng tái bộc phát rầy nâu trong giai ñoạn sau, góp phần tạo sự
chuyển biến của nông dân từ việc sử dụng thuốc hoá học sang hướng sinh học, phục
hồi, duy trì hệ sinh thái ruộng lúa một cách bền vững trong tương lai (Chi cục BVTV
Cần Thơ, 2009).
“Quy trình kỹ thuật sản xuất nấm ký sinh trong phòng trừ rầy nâu tại Sóc Trăng”
Quy trình này gồm các bước: gạo ngâm nước trước 1 giờ, sau ñó ñể ráo nước, cho vào
mỗi túi nylon 500 gram cột miệng túi bằng dây thun, mỗi túi môi trường lại ñược ñựng
trong 1 túi nylon khác, nút bông gòn và co ống nước ñược bỏ vào 1 bọc nylon riêng và
tất cả ñược hấp thanh trùng 1 giờ 30 phút (từ khi nước sôi); ñể nguội môi trường, bóp
môi trường cho xốp và cấy vào mỗi túi môi trường là 1/6 ñĩa nấm nguồn (nấm giống),
sau khi cấy thì miệng túi ñược ñặt 1 co ống nước và dùng dây thun cột lại cho giống
hình cổ chai, nhét nút bông và bịt nút bằng giấy báo cũ; mỗi ngày lắc môi trường ít
nhất 1 lần; sau khi cấy nấm khoảng 14 ngày thì mật số bào tử ñạt gần 0,5 - 1,2 x
10
9
BT/gram; tỷ lệ nhiễm tạp trung bình là 18,1%; Nếu nhiễm ít (10%) thì giá thành là
20.000ñ/1túi 500 gram phun cho 2000 m
2
, như vậy là 100.000 ñ/ha/1 lần phun (Trần
Văn Hai và ctv, 2009; Sở Nông nghiệp và PTNT Sóc Trăng, 2009).
Sử dụng nấm Xanh M. anisopliae trong sản xuất nông nghiệp là một biện pháp
không chỉ mang lại hiệu quả về kinh tế mà còn góp phần xây dựng một nền nông
nghiệp sạch. Sử dụng nấm Xanh phù hợp với các tiêu chuẩn Global Gap, sản phẩm
sạch, sản phẩm an toàn. Vì vậy việc sử dụng nấm Xanh là một hướng sản xuất khẳng
ñịnh ñược phẩm chất và chất lượng của nông sản cũng như ngăn chặn ñược ô nhiễm
môi trường so với sử dụng thuốc hóa học.