Trường Đại Học Thương Mại
Khoa:Kinh Doanh Thương Mại.
BẢN THẢO LUẬN NHÓM
Học phần:Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Lenin 1
Đề tài: Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
Nhóm: 11
Lớp học phần: 1215MLNP0111.
Thầy hướng dẫn:PGS.TS Phương Kỳ Sơn.
Hà Nội,Ngày 27 tháng 10 năm 2012.
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
STT
Họ Và Tên
1
Nguyễn Đình
Thanh
2
Đào Vũ Thắng
3
Chức Trách
Tự đánh giá
Nhóm đánh
giá
Ký tên
Xác nhận của nhóm trưởng
Hà Nội,ngày 27 tháng 10 năm 2012.
Luôn đặt con người ở vị trí số 1 và tôn trọng nhân viên chính là chìa khóa thành
công của những nhà quản lý .
Thomas J.Watson Jr - nguyên chủ tịch tập đoàn IBM
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho chúng em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Phương Kỳ Sơn– giáo viên giảng
dạy môn “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác– Lê-nin” – một người thầy đã cho em
rất nhiều kiến thức và niềm đam mê môn học này. Cảm ơn thầy đã tận tình giảng dạy, quan
tâm, giúp đỡ chúng em, giải đáp những thắc mắc của chúng em trong quá trình hoc tập vừa
qua. Nhờ đó chúng em mới có thể hoàn thành bài báo cáo này.Trong quá trình học tập và làm
báo cáo, vì chưa có kinh nghiệm, chỉ dựa vào lý thuyết đã học trong thời gian vừa qua nên
báo cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận
xuất với quan hệ sản xuất được Mác và Ăng Ghen vươn nên đỉnh cao trí tuệ nhân loại không
chỉ trên phương diện triết học mà cả chinh trị, kinh tế học và chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Dưới những hình thức và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức được hay không thì nhận
thức của hai ông về quy luật vẫn xuyên suốt lịch sử phát triển.
Nghiên cứu về sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
tạo điều kiện cho chúng ta có được một nhận thức về sản xuất xã hội. Đồng thời giúp chúng ta
mở mang được nhiều lĩnh vực về kinh tế. Thấy được vị trí cũng như ý nghĩa của nó. Đây cũng
chính là lý do khiến cho một sinh viên học về lĩnh vực kinh tế như Em chọn đề tài “sự vận
dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất của đảng ta trong đường lối đổi mới đất nước hiện nay”
B – PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
SỰ NHẬN THỨC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY
LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
I. ĐÔI NÉT VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
1. Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnh
thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn,phất triển của con người.
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công
cụ lao động và những người lao động với kinh nghiệm và thói quen lao động nhất định đã sử
dụng những tư liệu sản xuất đó để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Hay nói cách khác lực
lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, bao gồm người lao
động và tư liệu sản xuất :
+
Tư liệu sản xuất gồm có : đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đối tượng lao
mặt:
+ Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, tức là quan hệ giữa con người đối với tư liệu sản
xuất.
+ Các chế độ tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh, tức là quan hệ giữa người với
người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như: phân công chuyên môn hóa và hợp tác
hoá lao động hay quan hệ giữa người quản lý với công nhân.
+ Chế độ phân phối sản phẩm: tức là quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng một mục tiêu chung
là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để cho chúng không ngừng được tăng
trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng,nâng cao phục lợi người lao động, đóng góp ngày càng
nhiều cho nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất thì vấn đề quan trọng mà Đại hội Đảng lần
thứ VI đã nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và
chế độ phân phối không nên coi trong một mặt nào cả. Thực tế lịch sử đã cho thấy rõ bất cứ
một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế là nhằm đảm bảo cho lực
lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống của con người cũng được
cải thiện và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu
cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế – xã
hội nhất định thì quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản
xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà còn phục vụ đắc
lực cho sử tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế – xã hội mới.
Trong lịch sử mỗi hình thái kinh tế xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị điển
hình còn tồn tại những quan hệ phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Tất cả đều bắt
nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau
mà còn giữa các vùng khác nhau, các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ
sản xuất lỗi thời lên cao hơn như Mác nhận xét : “Không bao giờ xuất hiện trước khi những
điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa được chín muồi ...” phải có một thời kỳ
lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra được điều kiện vật chất trên.
3. Nhận thức về phạm trù hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
Chính đây là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển. Vì thế có thể nói thực chất của quy
luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là là quy luật mâu thuẫn,sự
phù hợp giữa chúng chỉ là yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn mới đủ
khả năng vạch ra động lực của sự phát triển, mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của quy
luật kinh tế.
2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lợc lượng sản xuất.
Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp thành của
phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy mạnh quan hệ sản
xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một hiện
tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc sai lầm của tư
tưởng này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp
quy luật khách quan. Về mặt phương pháp luật, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm
dụng mối quan hệ ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự lạm dụng này biểu hiện ở “nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra
quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất”. Nhưng khi thực
hiện người ta quên rằng sự "chủ động” không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiện con người
không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược
lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị quy định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng
sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn
thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời nhưng mâu thuẫn giữa quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất.
+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: Lực
lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn luôn biến đổi trong sản xuất con người muốn
giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao
động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động quy định sự hình thành và biến
đổi quan hệ sản xuất khi quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực
lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược laị.
cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở
hữu toàn dân và tập thể”. Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở
đường thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những phân tích trên. Trên con đường tìm tòi lối thoát của
mình từ trong lòng nền xã hội đã nảy sinh những hiện tượng trái với ý muốn chủ quan của
chúng ta. Có những hiện tượng tiêu cực nổi lên trong đời sống kinh tế như quản lý kém, tham
ô, tham nhũng,…, Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với
những hình thức kinh tế – xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan, cần thiết cho lực lượng
sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những mặt tiêu cực trên là cần thiết, nhưng
trên thực tế chúng ta chưa thực hiện tốt các nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng
đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục những khó khăn
và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới và với những hình thức và bước đi
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao.
Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng. Cho phép phục hồi
và phát triển chủ nghĩa tư bản và buôn bán tự do rộng rãi, có lợi cho sự phát triển sản xuất.
Cách đây không lâu các nhà báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng
“với một người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế. Ông có thể đưa
đất nước Việt Nam tiến nên không” trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng “Việt Nam
chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có
khả năng cầm súng và làm kinh tế giỏi ”, và Ông còn khẳng định và không chấp nhận Việt
Nam theo con đường chủ nghĩa tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt
Nam mà vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở đòi hỏi các bên cùng có lợi, và như vậy
cho phép phát triển nền kinh tế tư bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng
định không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân mà còn phát triên chúng rộng
rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng quan trọng là phải nhận thức được vai trò
thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải
thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối
với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính
Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như Các mác nhận xét "không bao giờ
xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi"
d. Vai trò của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất giữ vai trò là các hình thức kinh tế của các quá trình sản xuất, nó có vai trò
tác động đến việc sử dụng khai thác, sử dụng phát triển các lực lượng sản xuất như thế nào,
có thể là tích cực khi phù hợp với nhu cầu của lực lượng sản xuất, có thể tác động tiêu cực
trong trường hợp không phù hợp.
Biện chứng của mối quan hệ trên được thể hiện theo logic sau đây lực lượng sản xuất là yếu
tố động cách mạng, lao động sản xuất là yếu tố tính chậm phát triển, chính điều đó tạo khả
năng mâu thuẫn giữa hai mặt của những phương thức sản xuất, mâu thuẫn này bộc lộ rõ khi
lực lượng sản xuất đã phát triển đến 1 giới hạn nhất định nó đặt ra nhu cầu phải thay đổi quan
hệ sản xuất, sự thay đổi này chỉ thực hiện được thông qua các cuộc cách mạng do đó tạo sự
biến đổi của phương thức sản xuất xã hội.
II. VIỆP ÁP DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở
VIỆT NAM.
1. Quan hệ sản xuất hàng hoá ở Việt Nam
Như chúng ta đã biết các quan hệ sản xuất ở nước ta rất phong phú đa dạng, do điều kiện địa
lý đất nước ta kéo dài từ Bắc xuống Nam dẫn đến điều kiện khí hậu, sông ngòi, sự phân bố
dân cư giữa các vùng trong cả nước rất khác nhau dẫn tới mối quan hệ sản xuất rất đa dạng
mang yếu tố đặc thù. Miền Nam do có lượng nước dồi dào rất phát triển về trồng trọt có tổng
sản lượng cao nhất, miền Bắc do là vùng tập trung đông dân cư và có truyền thống canh tác
lâu đời nên sản xuất có sản lượng lớn, miền Trung có khí hậu khắc nghiệt thường xuyên có
bão lũ nền không phát triển được như hai miền Bắc và Nam, chỉ nói về mặt nông nghiệp phần
nào cho ta thấy sự khác biệt rõ rệt về mối quan hệ sản xuất ở 3 miền với những đặc thù riêng.
a. Những quan hệ sản xuất ở Việt Nam
Nền kinh tế hàng hoá ở ta là một nền kinh tế nhiều thành phần được Nhà nước khuyến khích
phát triển nhằm đa dạng hoá các quan hệ sản xuất của Nhà nước trong các lĩnh vực quan
công thì nhất thiết phải có tiềm lực về kinh tế và con người, trong đó lực lượng lao động
là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra còn phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đây là nhân tố cơ bản nhất.
Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá với tiềm năng lao
động lớn, cần cù, thông minh,sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ lao
động của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục.
Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một
cơ cấu các thành phần kinh tế hợp quy luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp
cùng với thời cơ lớn thì cũng có rất nhiều thách thức phải vượt qua để hoàn thành sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước, vì dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng văn minh. Nhưng điều đó còn ở phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện
là phải nhận thức đúng đắn về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiên nay của nước ta.
III. HỌC THUYẾT MÁC VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ
Thực tế từ trước đến nay đã chứng minh rằng công nghiệp hoá – hiện đại hoá là
khuynh hướng phát triển tất yếu của các nước. Đối với nước ta từ một nền kinh tế tiểu
nông muốn thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, nhanh chóng đạt tới trình độ một nước phát
triển tất yếu phải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá toàn diện và sâu sắc. Đại hội đã
biểu lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định “xây dựng nước ra thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp, quan hệ sản xuất
tiến bộ và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần phải được nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh”. Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác thì lịch sử
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chẳng hạn, ở mục Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh
mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa, tr. 187 có nói về cần đặc biệt chú trọng xử lý và giải
quyết tốt các mối quan hệ lớn như giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện
từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Ở một chỗ khác có nói: để thực hiện tư tưởng
chỉ đạo chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, phải quán triệt quan điểm, mà quan
điểm thứ tư là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày
càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa (tr.30-31). Ở tr.70 có đề cập đến một trong những đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội có nền kinh tế phát triển cần dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Vậy phải chăng, những cách nói
khác nhau này là thực sự khác nhau? Đối với lực lượng sản xuất thì hầu hết tất cả đều nói là
cần phải phát triển lực lượng sản xuất, có chỗ cụ thể hơn như phát triển mạnh mẽ lực lượng
sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao, có chỗ nói đến lực lượng sản xuất
hiện đại. Thực ra lực lượng sản xuất hiện đại phải là lực lượng sản xuất với trình độ khoa học
công nghệ ngày càng cao. Tất cả những cách nói đó không có gì mâu thuẫn, trái lại còn thống
nhất, phù hợp với nhau. Còn đối với quan hệ sản xuất thì có chỗ nói xây dựng, hoàn thiện
từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; có chỗ nói hoàn thiện quan hệ sản xuất trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; có chỗ lại nói quan hệ sản xuất tiến bộ
phù hợp. Ở đây cũng vậy, những cách nói khác nhau này hoàn toàn không mâu thuẫn với
nhau mà thống nhất, phù hợp nhau; bởi lẽ, xã hội xã hội chủ nghĩa thực sự trên đất nước ta
vẫn chưa có, do đó quan hệ sản xuất nước ta hiện nay là quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đang hướng tới quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, bởi vậy, chúng ta phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất này, và trong
quá trình này, theo quy luật, chúng ta phải xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điểm cần lưu ý ở đây là tiến bộ nhưng phải phù
hợp, nếu không sẽ dễ rơi vào chủ quan duy ý chí như trước kia: tiên tiến đi trước mở đường.
Ngược lại, nếu không có từ ''tiến bộ'' thì chúng ta lại bỏ rơi tính năng động, tích cực, sáng tạo
lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công
nghiệp'' (C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.187).
Trong lịch sử, trình độ của công cụ lao động nhìn chung đã trải qua ba giai đoạn sau chủ yếu:
thủ công, cơ khí, máy móc và tự động hóa. Cái cối xay hiện nay không phải quay bằng tay
không phải chạy bằng hơi nước mà là tự động hóa.
Ngay đối tượng lao động hiện nay cũng khác trước rất xa. Nếu trong nền văn minh nông
nghiệp, đối tượng lao động chủ yếu là ruộng đất; trong văn minh cơ khí, đối tượng lao động
lại được mở rộng ra, ngoài ruộng đất đối tượng lao động chủ yếu của thời kỳ này là các
nguyên vật liệu như than đá, chất đốt, dầu khí, các nguyên liệu hóa thạch, các hầm mỏ,... nói
chung là các nguyên vật liệu cần cho các ngành công nghiệp như sắt, thép, sợi, dệt vải, ô tô,
cơ khí chế tạo máy, ..., thì đối tượng lao động trong thời đại ngày nay ngoài những đối tượng
trên, chủ yếu lại là thông tin.
Trong tư liệu sản xuất còn bao gồm cả phương tiện sản xuất như đường xá, cầu cống, xe cộ,
bến cảng, kho chứa, ...
Hiện nay khoa học kỹ thuật cũng đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp theo nghĩa nó là
nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi trong sản xuất; nó ngày càng được áp dụng rộng rãi
trong sản xuất và trở thành một nhân tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất; nó thâm
nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất và đem lại sự thay đổi về chất của lực lượng sản
xuất; nó làm cho quá trình sản xuất chính là quá trình ứng dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật;
nó có ý nghĩa sống còn đối với nhiều quá trình sản xuất. Nếu con người là yếu tố quan trọng
nhất xuyên suốt trong lịch sử của lực lượng sản xuất thì khoa học kỹ thuật, theo Đặng Tiểu
Bình, hiện là lực lượng sản xuất số một, còn theo Giang Trạch Dân, là biểu hiện tập trung,
tiêu chí chủ yếu của lực lượng sản xuất tiên tiến. Hiện nay, tri thức, thông tin cũng là của cải.
Theo đà phát triển của sản xuất, khối lượng và chất lượng của cải xã hội sẽ được quyết định
bởi ứng dụng khoa học vào sản xuất. Từ đó một số học thuyết của các nhà tư tưởng tư sản đã
đi đến chỗ tuyệt đối hóa, thổi phồng, khuếch đại vai trò của khoa học kỹ thuật, chẳng hạn như
học thuyết các nền văn minh, học thuyết xã hội hậu công nghiệp, xã hội thông tin, học thuyết
kỹ trị,... nhằm mục đích thay thế học thuyết học thuyết hình thái kinh tế xã hội của C.Mác.
Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ khoa học
kỹ thuật, trình độ của người lao động (kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức, trình độ tổ chức, quản
lý, phân công, trình độ ứng đụng khoa học kỹ thuật).
Như vậy, phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay là phải phát triển khoa học kỹ
thuật, khoa học công nghệ, cải tiến công cụ lao động, mở rộng đối tượng lao động, phát triển
nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, chấn hưng nền giáo dục nước nhà. Đảng ta chủ trương phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao là hoàn toàn
đúng đắn, là cái lõi quan trọng của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện nay ở nước ta.
Muốn phát triển sản xuất ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ phát triển lực lượng sản
xuất, phát triển sức sản xuất, mà phải còn xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất;
tức phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất đó. Hai mặt đó không tách rời nhau, mà liên hệ mật thiết với nhau, thống
nhất với nhau trong cái gọi là phương thức sản xuất.
Quan hệ sản xuất, đó là quan hệ giữa con người và con người trong quá trình sản xuất; nó là
hình thức của lực lượng sản xuất, là cơ sở kinh tế, cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần. Theo
các nhà kinh điển, xã hội là sản phẩm có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa người với người.
Quan hệ giữa người với người tạo nên cái gọi là quan hệ xã hội, trong đó quan hệ sản xuất là
cơ sở, cơ bản, nền tảng, ban đầu và có ý nghĩa quyết định. Sản xuất bao gồm sản xuất vật chất
sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Ba quá trình này không tách rời nhau,
trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò là cơ sở của sự tồn tại là phát triển xã hội. Như vậy,
''Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, ông đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế,
bằng cách là trong tất cả mọi quan hệ xã hội, ông đã làm nổi bật riêng những quan hệ sản
xuất, coi đó là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác” 1.
Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý
quan hệ phân phối sản phẩm. Ba yếu tố đó liên quan khăng khít với nhau, thống nhất với nhau
tạo nên một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với lực lượng sản xuất, nhưng trong đó
yếu tố thứ nhất đóng vai trò quyết định, nó qui định hai yếu tố sau. Tính chất của quan hệ sản