LUẬN VĂN: Qua 3 phương thức sản xuất trước CNTB chứng minh quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ( liên hệ thực tế lịch sử ở Việt Nam) - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Qua 3 phương thức sản xuất trước CNTB
chứng minh quy luật QHSX phải phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất ( liên hệ thực tế lịch sử ở Việt Nam) Lời nói đầu

của nền sản xuất xã hội : lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất .
- Lực lượng sản xuất: phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người.
Nó biểu hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tạo ra của cải vật
chất. Lực lượng sản xuất bao gồm: những tư liệu sản xuất và người lao động với
những kinh nghiệm sản xuất , kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ. Vì chỉ
có kết hợp tư liệu sản xuất với lao động của con người thì mới có được quá trình sản
xuất ra của cải vật chất. Nếu tư liệu sản xuất không kết hợp với lao động của con
người thì chỉ là đống vật chất chết và ngược lại lao động của con người nếu không
kết hợp với tư liệu sản xuất thì cũng không thể tạo ra bất cứ của cải vật chất nào cả.
Cho nên, tư liệu sản xuất và con người lao động là những yếu tố tạo nên lực lượng
sản xuất . Các yếu tố này thường xuyên có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất xã hội là do sự phát triển của các yếu tố này mà nên. Lực
lượng sản xuất ngày càng phát triển thì con người với trình độ này càng có nhiều
sức mạnh để chinh phục thiên nhiên. Để rồi từ thiên nhiên có thể tạo ra cho mình
nhiều của cải vật chất để phục vụ cho đời sống xã hội .
Với việc biết tạo ra hệ thống cộng cụ lao động và trình độ khoa học kỹ thuật,
kỹ năng lao động của mình, con người đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản
xuất.
Trong điều kiện ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ rất phát
triển, vai trò của con người càng được nhấn mạnh. Con người giữ quyết định đối
với sản xuất cho nên việc nâng cao trình độ, văn hoá, khoa học kỹ thuật, nâng cao
trình độ dân trí dang trở thành nhu cầu bức bách, nó vừa là dòi hỏi của nền sản xuất
xã hội vừa là điều kiện thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh hơn.
- Quan hệ sản xuất: Trong khi sản xuất để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho
mình. Cũng tức là trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, con người không bao
giờ tiến hành đơn độc một mình. Họ đã biết kết hợp với nhau, trao đổi sự hoạt động
cho nhau để sản xuất. Sở dĩ con người nguyên thuỷ có thể tồn tại được là vì họ đã

lượng sản xuất quyết định của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất lại tác động
ngược lại lực lượng sản xuất: khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất của lực
lượng sản xuất thì nó giúp cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, khi quan hệ
sản xuất không còn phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất thì nó biến thành
trở ngại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lúc ấy xảy ra xung đột giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã lỗi thời.
Trong lịch sử phát triển kinh tế đã xảy ra biết bao cuộc cách mạng hay đấu
tranh giữa các giai cấp, giữa công nhân và chủ Xí nghiệp chỉ vì không có sự phù
hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Cách mạng xảy ra vì những người
nông dân phải làm nhiều nhưng họ không được hưởng thành quả của họ làm ra. Vì
đã bị giai cấp địa chủ bóc lột vơ vét. Cho nên họ phải đứng lên đòi quyền lợi cho
mình, dành lại tư liệu sản xuất từ tay bọn địa chủ. Người nông dân sẽ không đấu
tranh khi mà tư liệu sản xuất ruộng đất nắm trong tay họ, họ làm ra và được hưởng
thành quả lao động của mình như vậy thì họ mới yên tâm vừa lao động sản xuất vừa
tìm tòi sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất phục vụ tạo nhu cầu đời sống của
mình.
Vì thế, những quan hệ sản xuất lỗi thời phải được thay thế bằng những quan
hệ sản xuất mới, thích hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cũng tức
là thích hợp với tính chất mới của lực lượng sản xuất đây chính là một quy luật kinh
tế cực kỳ quan trọng, quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất
của lực lượng sản xuất.
II. Sự tồn tại của quy luật quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong 3
phương thức sản xuất trước CNTB.
Trước CNTB lịch sử loài người đã trải qua 3 phương thức sản xuất: phương
thức sản xuất công xã nguyên thuỷ, phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và
phương thức sản xuất phong kiến. Mỗi phương thức đó đều vận động trong sự tác
động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trên con đường phát triển


xuất chính là trồng trọt, chăn nuôi và thủ công nghiệp. Trao đổi phát triển thương
nhân tách khỏi sản xuất.
Nhưng về quan hệ sản xuất thì tất cả tư liệu sản xuất lẫn người lao động đều
thuộc sở hữu tư nhân. Nô lệ bị coi như "công cụ biết nói" họ chịu sự chi phối hoàn
toàn của chủ nô (cả về thân thể). Chủ nô dùng mỗi thủ đoạn cực hình tàn như roi
vọt, cùm xích, đóng dấu để bóc lột lao động. Chủ nô chiếm đoạt hầu hết sản phẩm
của nô lệ, chỉ cấp cho họ chút ít tư liệu sinh hoạt để khỏi chết đói và có thể tiếp tục
lao động. Đến nay dẫn đến sự mâu thuẫn sâu sắc giữa chủ nô và nô lệ và sự đấu
tranh đã nổ ra tầng lớp nô lệ đã đứng lên đòi quyền lợi cho mình. Họ không còn lo
lắng đến việc cải tiến hay là hoàn thiện công cụ nữa thay vào đó họ phá hoại công
cụ lao động bỏ công việc đồn điền. Điều này đã làm cho kinh tế bị suy sụp nhanh
chóng bắt buộc nhiều chủ nô phải giải phóng nô lệ, tiến hành chia ruộng đất.
Như vậy chế độ chiếm hữu nô lệ không còn tồn tại được chỉ vì nó quan sản
xuất phù hợp với sự phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, mà nó còn kìm hãm
sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất vì thế nó cần một phương thức mới
phù hợp với quy luật kinh tế: quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất
của lực lượng sản xuất.
3. Phương thức sản xuất phong kiến
Trong chế độ phong kiến. Nông nghiệp và trên một mức độ nhất định, thủ
công nghiệp phát triển thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và trao đổi tuy vậy,
những biến đổi kỹ thuật dưới chế độ phong kiến diễn ra chậm chạp, sản xuất dựa
chủ yếu vào lao động thủ công của nông dân và thợ thủ công. Công cụ chủ yếu
dùng bằng sắt, phân bón được sử dụng rộng rãi.
ở thời kỳ đầu, tất cả ruộng đất thuộc địa chủ phong kiến được chia làm hai
phần một phần do địa chủ trực tiếp quản lý, phần còn lại được chia cho nông nô.
Nông nô có quyền canh tác trên phần đất của mình để sinh sống, đồng thời phải
thực hiện canh tác trên phần đất của địa chủ dưới hình thức địa tô lao dịch. Sản
phẩm làm ra trên phần đất thuộc về địa chủ.


- Thành phần kinh tế tư bản tư nhân được phát triển dưới sự kiểm kê, kiểm
soát của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược - kinh tế - xã hội.
- Không ngừng thu hẹp chênh lệch, đổi mới và hoàn thiện quan hệ giữa thành
thị và nông thôn nhằm phát huy sức mạnh tổng thể.
- Mở rộng quan hệ quốc tế theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
- Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đây là những đặc điểm
kinh tế mà Đảng và nhân dân ta đã và đang thực hiện nhằm đưa đất nước đi lên theo
con đường xã hội chủ nghĩa.
2. Tình hình quy luật QHSX và LLSX ở Việt Nam
Nước ta quá độ lên xã hội chủ nghĩa từ một xã hội là thuộc địa nửa phong
kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Với nền kinh tế lạc hậu, điểm xuất phát thấp, lại
càng không thể xây dựng nhanh chế độ công hữu mà phải trải qua thời kỳ lịch sử
lâu dài, qua nhiều trung gian, quá độ. Vì thế chúng ta đã không nhận thức rõ mối
quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là: quan hệ sản
xuất nhất định phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất. Cho nên chúng ta đã
phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc thiết lập chế độ công hữu. Điều đó đã
làm tổn hại đến sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế đó là thời kỳ
bao cấp thời kỳ mà người dân sống với chế độ tem phiếu và sản xuất hợp tác xã.
Điều này đã không làm phát huy được tính sáng tạo trong lao động của con người
mà còn tạo cho họ sự ỷ lại vào người khác dẫn đến sự đình trệ sản xuất và kinh tế
không phát triển.
Nhưng nước ta đã kịp sửa đổi. Dưới sự lãnh đạo của Đảng các sai sót đã kịp
thời sửa chữa. Nước ta đã mở cửa thị trường kinh tế tiếp thu những thành quả phát
triển khoa học - kỹ thuật của các nước. Biết áp dụng đúng đắn máy móc thiết bị kỹ
thuật vào sản xuất vì thế năng suất sản xuất không ngừng tăng lên. Nước ta là nước
mạnh về nông nghiệp với 80% dân số là người sản xuất thì với việc Nhà nước chia

vừa với tư cách là con người có ý thức chủ thể của những quan hệ kinh tế. Trình độ
văn hoá, trình độ kỹ thuật chuyên môn, ý thức và thái độ của người lao động đối với
sản xuất và sản phẩm là những yếu tố quan trọng để sử dụng và khai thác kỹ thuật
và tư liệu sản xuất vốn có, để sáng tạo trong quá trình sản xuất. Ăngghen đã nhấn
mạnh "muốn nâng cao sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đến mức độ cao, mà
chỉ có phương tiện cơ giới và hoá học phù hợp thì vẫn chưa đủ. Còn cần phải phát
triển một cách tương xứng năng lực của con người, sử dụng những phương tiện đó
nữa" nghĩa là phải có sự phối hợp phát triển hài hoà các nhân tố khách quan của lực
lượng sản xuất hiện đại. Kết luận

Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất. Đây là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế xã hội, vạch ra tính chất phụ
thuộc khách quan của Quan hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đến
lượt mình Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.
Xu hướng cua sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi, phát triển sự biến
đổi phát triển đó bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi phát triển của lực lượng sản
xuất. Trước hết là công cụ lao động, công cụ lao động phát triển dẫn đến mâu thuẫn
gay gắt với Quan hệ sản xuất hiện có, đòi hỏi khách quan phải xoá bỏ Quan hệ sản
xuất cũ thay bằng Quan hệ sản xuất mới.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử thay đổi các phương thức
sản xuất, sự thay đổi đó bắt đầu từ sự thay đổi của lực lượng sản xuất. Xã hội loài


Mục lục

Lời nói đầu 2
I. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất : 3
1. Khái niệm về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất 3
2. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 5
II. Sự tồn tại của quy luật quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong 3
phương thức sản xuất trước CNTB. 5
1. Phương thức sản xuất công xã nguyên thuỷ 6
2. Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ 6
3. Phương thức sản xuất phong kiến 7
III. Nền kinh tế Việt Nam 8
1. Đặc điểm nền kinh tế Việt Nam 8
2. Tình hình quy luật QHSX và LLSX ở Việt Nam 9
3. Một số giải pháp phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam 10
Kết luận 12
Tài liệu tham khảo 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status