Giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thái ở huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay - Pdf 31

1

B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
------------------------

LÊ THị HảO

GI GèN, PHT HUY CC GI TR VN HểA
TRUYN THNG CA DN TC THI HUYN
QY CHU, TNH NGH AN TRONG GIAI ON HIN NAY

Chuyờn ngnh: LL V PPDH B MễN GIO DC CHNH TR
Mã số: 60.14.10

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS. GVCC. Đoàn Minh Duệ

Nghệ An - 2013


2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình
giúp đỡ, góp ý kiến.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS.GVCC
Đoàn Minh Duệ, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn cán bộ Ban dân tộc và miền núi tỉnh Nghệ An,

Chủ nghĩa xã hội

ĐCS

Đảng cộng sản

GS. TS

Giáo sư. Tiến sĩ

KHCN

Khoa học công nghệ

Nxb

Nhà xuất bản

THPT

Trung học phổ thông

UBND

Ủy ban nhân dân


4
MỤC LỤC


và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển.
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thì đến 2009 dân tộc Thái
có dân số 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam.
Trong đó, ở Nghệ An có 295.132 người, chiếm 10,1 % dân số toàn tỉnh và
19,0 % tổng số người Thái tại Việt Nam chỉ đứng sau Sơn La là 572.441
người, chiếm 36,9 % tổng số người Thái tại Việt Nam.
Qùy Châu là huyện miền núi nằm ở Tây Bắc Nghệ An, với dân số
53.910 người (2010), là một trong những nơi tụ cư chính và được coi là cái
nôi của đồng bào Thái ở Tây Bắc Nghệ An. Qùy Châu có 2 dân tộc sinh sống
chủ yếu là người Thái chiếm 74,43% dân số và người Kinh chiếm 25,27%
dân số. Là một huyện có truyền thống cách mạng lâu đời, suốt quá trình hình
thành và phát triển của dân tộc, lịch sử đã chứng minh rằng chúng ta không
thể phủ nhận công lao to lớn của đồng bào dân tộc Thái nơi đây.
Cùng với xu hướng phát triển chung của đất nước, đồng bào dân tộc
Thái ở huyện Qùy Châu cũng có nhiều bước chuyển trên mọi mặt của đời
sống, song không phải vì thế mà ý thức về vấn đề bản sắc của dân tộc mất đi,
ngược lại họ luôn biết giữ gìn phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc mình và loại bỏ những yếu tố cổ hủ, lạc hậu, không phù hợp với hoàn
cảnh mới, đồng thời không ngừng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các
dân tộc khác, làm phong phú thêm bản sắc của mình.
Mặt khác, tự thân quá trình hội nhập cũng tạo ra nhiều thách đố. Nhà
ngôn ngữ học Hoàng Tuệ nhận định rằng: Ở Việt Nam, vấn đề nổi bật hiện
nay không phải là sự tranh giành lãnh thổ hay xung khắc tôn giáo...mà điều
hết sức quan trọng với Việt Nam là sự phát triển đời sống văn hóa- xã hội của
các dân tộc thiểu số, hay nhà nghiên cứu Lê Giáo Sỹ nhận định: “Ngôn ngữ
các dân tộc thiểu số đang mất đi hàng ngày trước mắt chúng ta, mà điều còn


6
nguy hại hơn, đáng tiếc hơn, rất nhiều ngôn ngữ nay chưa hề được nghiên

PGS.TS Đoàn Minh Duệ, Nguyễn Thị Minh (2009), Giữ gìn và phát huy giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở xã Cà Tạ, Kỳ Sơn, Nghệ An, Nxb
Nghệ An; Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2002), Phát triển bền vững miền
núi Nghệ An, Nxb Nông nghiệp; Quán Vi Miên (2011), Văn hóa Thái Nghệ
An, Nxb Lao Động. Các công trình vừa nêu ở trên đã có đóng góp to lớn, giúp
cho chúng tôi hiểu sâu hơn về thực trạng các giá trị truyền thống văn hóa dân
tộc Thái nói chung và ở địa bàn huyện Qùy Châu nói riêng.
Riêng ở huyện Qùy Châu cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến dân tộc Thái nói chung và văn hóa người Thái như: Lịch sử Đảng
bộ huyện Qùy Châu, Nxb Nghệ An, 2009; Đậu Tuấn Nam, Hệ thống các phi
của người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học, số 16/2003;
Nguyễn Thị Nuôi (2009), Đời sống văn hoá vật chất của người Thái ở huyện
Quỳ Châu (Nghệ An), Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Đại
học Vinh; Nguyễn Văn Mạnh (1990), Vài nét về tôn giáo tín ngưỡng của
người Thái ở Quỳ Châu, Nghệ Tĩnh; Trần Văn Thức (2011), Địa chí huyện
Qùy Châu tỉnh Nghệ An, Nxb Khoa học xã hội. Đây là những nguồn tài liệu
có ý nghĩa dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau về đời sống của đồng
bào Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. Về cơ bản những công trình đã
nêu tập trung nghiên cứu đời sống văn hóa của đồng bào Thái. Do vậy, báo
cáo khoa học của đề tài một lần nữa hệ thống lại các giá trị văn hóa của người
Thái ở Qùy Châu qua sự biến thiên của lịch sử trên cơ sở đó đề xuất giải
nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Thái ở huyện
Qùy Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn CNH, HĐH.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số truyền thống văn hóa và sự chuyển biến trong giai
đoạn hiện nay từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá


8


9
Châu, tỉnh Nghệ An sẽ được giữ gìn và phát huy, góp phần vào việc làm cho
dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu ngày càng hội nhập và phát triển.
7. Đóng góp của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
độc giả, các bạn học viên, sinh viên chuyên ngành Chính trị.
- Đề tài có ý nghĩa giáo dục lòng tự hào dân tộc, giữ gìn và phát huy
giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, thấy được trách nhiệm của bản thân
đối với những giá trị văn hóa đó.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Thái
Chương 2. Thực trạng của việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An
Chương 3. Quan điểm và một số giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn hiện nay


10

B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC THÁI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Văn hóa

khoa học…
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho
rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [33; 25].
Tác giả Lê Văn Hòa, trong nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Văn
hoá là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất
cả các dạng hoạt động của họ là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật
chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và
lịch sử xã hội của mình” [15; 13-14].
Điểm chung của các khái niệm trên đều khẳng định rằng văn hóa là
hoạt động của con người nói chung trên hai lĩnh vực vật chất và tinh thần và
tạo ra các giá trị trên hai lĩnh vực đó. Có nghĩa là văn hóa không chỉ là những
vật thể cụ thể hiện diện trước mắt con người như đền đài miếu vũ, lăng tẩm,
thành quách, các tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ, hàm chứa giá trị vật chất mà
còn có cả những giá trị tinh thần vượt thời gian và không gian. Con người
hoạt động trong môi trường tự nhiên và xã hội với trí thông minh và đầu óc
sáng tạo, đối cảnh sinh tình cho nên đã tạo ra được các công trình văn hóa
như văn học, nghệ thuật, hình thái cuộc sống, lối ứng xử, và đạo đức luân lý
của con người.


12
Trong cuốn sách Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn
quan học giả L. Cadiere, Giáo sư Đỗ Trinh Huệ cho biết, văn hóa là một khái
niệm rộng, khó có thể đưa ra một khái niệm rõ ràng trong một định nghĩa trọn
vẹn. Cũng không thể dùng lối chiết tự như có người đã từng làm, dù dựa trên
cơ sở ngôn ngữ nào, dù dựa trên khái niệm phương Đông hay phương Tây, La
Mã hay Hy Lạp, Trung Hoa hay Ấn Độ… Có điều ai cũng cảm nhận được
văn hóa của dân tộc mình, của cộng đồng mình đang chung sống và của mình.

Giá trị văn hoá : “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá,
so sánh nền văn hoá của dân tộc này với nền văn hoá của dân tộc khác, là cái
để xác định bản sắc văn hoá của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền
thống, phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị
chân, thiện, ích, mỹ” [29; 19].
Mỗi dân tộc có những tiêu chuẩn giá trị văn hóa riêng của cộng đồng
đó mặc dù mục đích cuối cùng đều hướng tới một mục đích đó là các giá trị:
chân- thiện- ích- mỹ, hướng tới sự hoàn thiện của các cá nhân, của cả cộng
đồng. Giá trị văn hóa là cái mà chúng ta có thể xem như là “mật mã di truyền
xã hội”, là cái cốt lõi, là những giá trị tiêu biểu của tất cả các thành viên sống
trong cộng đồng đó được tích tích lũy qua quá trình hoạt động của họ. Quá
trình hoạt động ấy đã tạo nên những bản sắc riêng của cộng đồng đó.
Không phải tất cả mọi yếu tố, sản phẩm của hoạt động cộng đồng, dân
tộc đều trở thành giá trị văn hóa, mà giá trị đó chỉ định hình trong một giai
đoạn đỉnh điểm của sự phát triển và đồng thời vì giá trị văn hóa ngoài tính dân
tộc thì nó còn bị tác động bởi tính lịch sử, tính nhân loại chi phối: “Văn hóa
phát triển như một dòng sông chảy liên tục. Trên lịch trình phát triển đó có
những thời kỳ sôi động và một thời kỳ trong đó những giá trị tiêu biểu của
dân tộc được định hình, hoặc là tư tưởng hoặc là văn học nghệ thuật phát triển
đến mức điển phạm: văn hóa dân tộc tìm ra hướng đi vững chắc cho tương lai.
Đặc sắc văn hóa dân tộc hình thành, bộc lộ chính ở thời kỳ đó. Càng về sau,
sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc càng thường xuyên, càng nhiều mặt. Cho


14
đến thời cận đại, văn hóa phát triển có quy mô thế giới, văn hóa các dân tộc
thâm nhập vào nhau. Cho nên tìm dáng vẻ dân tộc trong văn hóa hiện đại
không những là khó, và đồng thời ở một số mặt nào đó nhiều khi sắc thái dân
tộc không phải là cái nên đặc biệt hoan nghênh” [17; 150]. Vì vậy, chúng ta
cần phải nhìn nhận, đánh giá các giá trị nói chung và giá trị văn hóa nói riêng

đời, đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ và hành động của dân
tộc ta” [19; 67].
Như vậy, từ những quan điểm trên chúng ta có thể khái quát: Truyền
thống là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực
hành vi, tư tưởng, phong tục tập quán, thói quen lối sống và cách ứng xử của
cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được
truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài.
Lịch sử cho thấy rằng truyền thống mang trong bản thân nó tính hai mặt rõ
rệt: Một là: truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những giá trị quý giá, là cốt
cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng dân
tộc. Xét từ mặt này thì truyền thống mang ý nghĩa tích cực, góp phần tạo nên
sức mạnh, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tới tương lai.
Nhờ có truyền thống, con người lưu giữ, bảo tồn những thành tựu đã đạt được
của người đi trước, rút ngắn được thời gian, không phải mò mẫm từ đầu.
Hai là: truyền thống đồng thời cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi cho
sự dung dưỡng, duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi mà
điều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi. Mặt này thể hiện trong tính chất ổn
định, bền vững, vì vậy nó tính bảo thủ và có sức ỳ lớn. Mặt thứ hai này có tác
dụng không nhỏ trong việc kìm hãm, níu kéo, làm chậm sự phát triển của một
quốc gia, dân tộc nào đó, nhất là khi quốc gia, dân tộc này hạn chế giao lưu
hoặc thi hành chính sách đóng cửa với thế giới bên ngoài vì các lý do khác
nhau. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Quá khứ níu chúng ta lại, nắm chặt lấy chúng ta
bằng trăm ngàn cánh tay và ngăn cản bước tiến của chúng ta hay buộc chúng ta


16
phải bước những bước chệch choạc như ngày nay chúng ta đang bước vậy”
[20; 182].
1.1.4. Văn hóa truyền thống
Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp, dù đã phát triển hay

có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn
lọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng
trong những giai đoạn lịch sử nhất định Tuy nhiên, do tính lịch sử của chúng
nên các giá trị văn hóa và văn hóa truyền thống có tính hai mặt vì vậy yêu cầu
chúng ta phải đứng trên quan điểm phát triển và tính biện chứng, phải nhìn
nhận, đánh giá các giá trị một cách toàn vẹn. Không được lý tưởng hóa giá trị
truyền thống văn hóa cũng như không được tuyệt đối hóa các hạn chế tiêu
cực. Nếu lý tưởng hóa các giá trị truyền thống, xem chúng là bất biến, khuôn
mẫu, không thay đổi thì sẽ dẫn đến ý chí bảo thủ, bằng lòng với quá khứ,
quay lưng lại với hiện tại, ngăn cản sự vận động và phát triển của xã hội. Còn
nếu phủ nhận một cách sạch trơn các giá trị văn hóa truyền thống, coi truyền
thống là nguyên nhân của sự lạc hậu, nghèo nàn của xã hội và hiện đại hóa
bằng con đường ngoại nhập các giá trị văn hóa bên ngoài thì sớm muộn cũng
tự đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, hủy hoại sức mạnh nội
sinh, làm mất tính bền vững và ổn định của sự phát triển.
Tính chất của văn hóa truyền thống: Văn hóa truyền thống tự thân nó
mang rất nhiều tính chất. Với phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào
phân tích và làm rõ một số tính chất cơ bản sau:
- Tính giá trị
Văn hóa và văn hóa truyền thống hướng tới mục đích là các giá trị nhân
bản, sự hoàn thiện của cá nhân, của cả xã hội. Văn hóa truyền thống là tấm
gương phản chiếu cho mọi hành động của các cá nhân trong cộng đồng đó soi
vào. Nó là những nguyên lý mà các cá nhân, cộng đồng, dân tộc trong các giai
đoạn lịch sử dựa vào đó mà phân biệt đúng, sai, phải, trái nhằm định hình
hướng hoạt động, nhằm hướng tới các giá trị: chân- thiện- ích- mỹ.
- Tính ổn định


18
Những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta từ trước đến nay và

tế. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát
triển năm 2010) nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có
sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt
Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triền khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát
triển. Sự phát triền cùa khoa học và công nghệ ngày càng có ý nghĩa quyết
định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của xã hội.
Chúng ta thấy được KHCN tác động đến văn hóa theo các hướng sau:
KHCN là một lĩnh vực trọng yếu của văn hóa.
KHCN tăng cường khảo năng truyền dẫn, lan tỏa, khuyêchs tán văn hóa
trong quá trình phát triển.
KHCN làm thay đổi căn bản đời sống văn hóa của thế hệ trẻ hiện nay
so với văn hóa truyền thống của dân tộc.
KHCN tạo ra bước nhảy vọt của ngành công nghiệp văn hóa.
1.2.2. Tác động của kinh tế thị trường
Ngày nay, văn hóa cũng như các ngành kinh tế khác đều chịu sự tác
động của các quy lật kinh tế thị trường, cơ bản là quy luật lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở
nước ta, kinh tế và văn hóa gắn kết chặt chẽ với nhau, kinh tế không thể phát
triển bền vững nếu thiếu nền tảng văn hóa và văn hóa không phải là sản phẩm
thụ động của kinh tế. Do đó, phát triển văn hóa phải trên cơ sở kết hợp hài
hòa với phát triển kinh tế.
Kinh tế và văn hóa có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Có thể
khái quát sự tác động của kinh tế đến văn hóa theo ba hướng sau:
- Tác động cùng chiều với sự phát triển văn hóa;
- Tác động ngược chiều với sự phát triển văn hóa;


20

21
hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác
của kinh tế thị trường, đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn
hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Chủ
động tham gia hội nhập và giao lưu văn hóa với các quốc gia để xây dựng
những giá trị mới của văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần bảo vệ bản sắc
văn hóa dân tộc là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân Việt Nam.
Hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến văn hóa theo hai xu hướng: Một
mặt, nó "góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp,
thể hiện ở việc phổ biến các giá trị văn hóa công nghệ, văn hóa thông tin cùng
các hoạt động và loại hình văn hóa mới phục vụ cho việc nâng cao đời sống
tinh thần của nhân dân và qua đó, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm
các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống. Mặt khác, nó cũng đang đặt ra
trước dân tộc ta những thách thức lớn trong việc giữ gìn và phát huy những
giá trị văn hoá truyền thống. Về phương diện này, có thể nói, thách thức lớn
nhất đối với Việt Nam là làm thế nào để nền văn hóa dân tộc vừa có thể tiếp
thu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa có thể giữ được
bản sắc dân tộc vốn có; tiếp tục phát triển trong sự giao lưu với cộng đồng thế
giới mà không bị hoà tan, không bị nhấn chìm vào các nền văn hóa khác hoặc
trở thành “cái bóng mờ” của dân tộc khác, nền văn hoá khác [27; 514].
Theo đó, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay là một yêu cầu tất yếu, một nhiệm vụ
nặng nề, cấp bách và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta. Kinh
nghiệm của nhiều nước, cũng như của chính chúng ta đã chỉ ra rằng, không
thể đánh đổi bằng mọi giá để có được sự tăng trưởng về kinh tế, cũng không
thể để cho bản sắc văn hóa dân tộc bị mai một. Để tiếp tục phát triển và khẳng
định mình trong quá trình toàn cầu hoá, ngoài nỗ lực tăng trưởng kinh tế, một
trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chúng ta là phải xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đúng như




23
hòa nhập nhưng không hòa tan, góp phần củng cố, phát triển chính trị, xã hội,
thực hiện thắng lợi công cuộc cách mạng của nước ta.
Kế thừa và phát huy là một nguyên tắc căn bản trong quy luật phát triển
của mọi sự vật hiện tượng. Mọi sự phát triển luôn là sự phủ định có kế thừa.
Trong quá trình đó những mặt tích cực, tiến bộ được giữ lại, kế thừa và phát
triển trong sự ra đời của cái mới. Đối với lĩnh vực văn hóa cũng vậy! Những
tinh hoa, truyền thống tốt đẹp luôn được giữ gìn và phát huy. Tuy nhiên,
truyền thống văn hóa của dân tộc là một mảng của kiến trúc thượng tầng,
chúng không cứng nhắc, không thể là cùng một khuôn mẫu trong các thời đại
khác nhau. Do vậy khi thời đại thay đổi thì chúng cũng phải thay đổi, bổ sung
cho phù hợp với thời đại mới.
Việc kế thừa, phát huy phải mang tính chọn lọc, thiết thực, phù hợp với
điều kiện, thời đại. Bởi vì không phải mọi truyền thống văn hóa đều phù hợp
với mọi thời đại và đều được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, phát
huy, không phải tất cả mọi giá trị văn hóa đều là nhân tố nội sinh để thúc đẩy
sự phát triển xã hội mà ngược lại. Có những giá trị trong thời này là động lực
nhưng khi ở thời đại mới nó lại ngăn cản, kìm hãm sự vận động đi lên của xã
hội. Ngoài ra, chúng ta không thể ôm đồm kế thừa tất cả mọi nét văn hóa của
dân tộc Thái từ thời xa xưa đến nay được mà kế thừa những nét văn hóa đặc
trưng, dù đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, sự kiểm chứng của thời
gian nhưng những giá trị ấy vẫn giữ nguyên được những cái hay, tốt đẹp nhất
và trở thành những giá trị mà khi chúng ta nhìn vào đó có thể hình dung nó là
nét đặc trưng của văn hóa Thái chứ không phải của dân tộc khác.
Trải qua quá trình di cư, tụ cư nhóm người Thái đã di cư đến các vị trí
địa lý khác nhau để sinh sống: Lào, Thái Lan, Việt Nam… trong quá trình đó
nhóm người Thái đã giao lưu với biết bao luồng văn hóa, họ vừa tiếp thu vừa
gìn giữ những đặc trưng của họ, dù họ sinh sống ở các miền địa lý khác nhau

hóa của người Thái ở Qùy Châu và bước đầu đã có nhiều khả quan, song kết


25
quả vẫn chưa được như mong đợi, do vậy việc giữ gìn, phát huy các giá trị
văn hóa vẫn đứng trước nguy cơ mất dần bản sắc.
Vậy từ những truyền thống văn hóa dân tộc Thái ở huyện Qùy Châu thì
cần được bảo tồn và giữ gìn, phát huy những giá trị nào trong giai đoạn hiện
nay? Như ở trên đã nói truyền thống văn hóa của người Thái thì rất nhiều
song không phải tất cả các truyền thống ấy đều là những giá trị tốt đẹp cả, phù
hợp với thời đại nhất là trong giai đoạn hiện nay và chúng ta không thể tham
lam, ôm đồm tất cả gia tài mà ông cha ta ngày xưa sáng tạo ra để đến tương
lai được mà điều quan trọng nhất là chúng ta phải xác định được những giá trị
nào cần thiết và những truyền thống nào cần phải loại bỏ cho phù hợp với
thực tế. Phải bảo tồn vì chúng là những tài sản vô giá nhưng dần bị mai một
nếu không có những biện pháp thích hợp như chữ Thái Lai Tay, các điệu hát
dân gian...còn việc giữ gìn, phát huy thì tất cả các giá trị văn hóa truyền thống
là sản phẩm đặc trưng của người Thái còn phù hợp với thời đại thì cần phải
giữ gìn và phát huy, mặt khác những yếu tố cổ hủ, lạc hậu, ngăn cản sự phát
triển của xã hội thì cần phải loại bỏ.
1.4. Đặc trưng văn hóa của dân tộc Thái
Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa đặc trưng, không lẫn với bất kỳ đặc
trưng dân tộc khác được. Văn hóa của cộng đồng người Thái gồm có bốn nét
đặc trưng cơ bản sau:
1.4.1. Đặc trưng hệ sinh thái nhân văn
Đặc trưng này thể hiện mối quan hệ giữa con người với môi trường
sống xung quanh trong cả tự nhiên và xã hội. Khi nhắc đến đặc trưng này
người ta gọi nền văn hóa của người Thái là nền “văn hóa thung lũng” vì khác
với các dân tộc khác như người H’mông, Tày... chọn cho dân tộc mình sinh
sống, lập bản dựng mường ở những nơi có vị trí địa hình cao của đồi núi, hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status