UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
VÕ THỊ THANH LỊCH
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC THẠCH TRUNG II-THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
(Bài tập nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục)
Cán bộ hướng dẫn:
ThS. Nguyễn Thị Hương Giang
Hà Tĩnh, tháng 2 năm 2009
2
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích dạy học ở trường tiểu học là làm cho học sinh chiếm lĩnh được hệ
thống tri thức, kỹ năng cơ bản phù hợp với thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
Trong quá trình dạy học, kiểm tra - đánh giá là nhân tố quan trọng không thể
thiếu, nó tạo ra mối liên hệ nghịch, là đòn bẩy thúc đẩy việc lĩnh hội tri thức để đạt
được mục tiêu đã đề ra. Chính vì vậy, quản lý việc kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo của học sinh là giúp cho giáo viên và học sinh biết kiểm tra, đánh giá
và tự kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy và học của mình.
Kiểm tra, đánh giá còn có tác dụng giúp cho người quản lý nắm được tình
hình thực hiện và hiệu quả của các quyết định quản lý, nắm được chất lượng dạy
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề kiểm tra, đánh giá và chỉ
đạo công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường Tiểu học
Thạch Trung 2, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
công tác chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh .
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chỉ đạo công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác chỉ đạo kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học
sinh tại trường Tiểu học Thạch Trung 2 trong năm học 2006-2007 và 2007-2008.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh là một tiêu chí quan trọng trong
quá trình dạy - học, nếu biết đánh giá đúng thực trạng và có biện pháp chỉ đạo công
tác kiểm tra đánh giá thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy - học trong nhà
trường.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận làm cơ sở cho đề tài.
5.2. Điều tra thực trạng về mức độ phù hợp và các giải pháp điều chỉnh đối với các
biện pháp chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh tại
trường Tiểu học Thạch Trung 2 – TP Hà Tĩnh
5.3. Xây dựng quy trình chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh tại trường Tiểu học.
4
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu.
6.2. Phương pháp điều tra viết.
6.3. Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn.
6.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích.
- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân
nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng
của củ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm
6
lực,các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện biến đổi
của môi trường.
1.2. Quản lý giáo dục
Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều quan niệm khác nhau, chẳng hạn:
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, MĐ, có kế
hoạch có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ
thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhà trường) nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra
cho ngành giáo dục.
Hoặc “quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức có hướng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng
một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến
mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường
bên ngoài luôn luôn biến động.
Cũng có thể định nghĩa: Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể
quản lý nhằm huy động, tổ chức điều phối, điều chỉnh, giám sát... một cách có hiệu
quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật liệu, tài liệu) phục vụ cho mục tiêu phát
triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể thấy, các khái niệm trên không khác nhau mà ngược lại bổ sung cho
nhau: Nếu khái niệm thứ nhất và thứ hai đòi hỏi tính định hướng đồng bộ, toàn
diện đối với những tác động quản lý, thì khái niệm thứ ba đòi hỏi tính cụ thể của
những tác động quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý.
- Kết thúc giai đoạn này trong tay hiệu trưởng phải có một bản dự thảo kế
hoạch của nhà trường.
* Giai đoạn kế hoạch hoá.
Đây là giai đoạn quan trọng của quá trình quản lý. Ở đây phải xác định rõ hệ
thống mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết, chỉ rõ trạng thái mong
muốn của nhà trường khi kết thúc năm học.
Để làm được việc đó, người lãnh đạo cần phải:
- Định rõ kế hoạch các mục tiêu cần đạt tới.
- Lựa chọn các biện pháp này.
- Lập chương trình hoạt động của nhà trường trong suốt cả năm học.
- Thông qua tập thể sư phạm và trình duyệt cấp trên.
- Điều chỉnh và hoàn thiện kế hoạch.
8
*Tổ chức thực hiện kế hoạch.
Đây là giai đoạn hiện thực hoá những ý tưởng đã được kế hoạch hoá để đưa
nhà trường từng bước đi lên, đó chính là sự sắp đặt con người và công việc một
cách hợp lý để mọi người đều thấy hài lòng, hào hứng làm cho công việc trôi chảy.
Ở giai đoạn này phải thực hiện những hoạt động sau:
- Thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến từng người, làm cho mỗi
thành viên trong trường tự giác chấp nhận kế hoạch và tự nguyện hành động theo
kế hoạch.
- Xác định cấu trúc bộ máy, sắp xếp các bộ phận và các cá nhân sao cho đúng
người đúng việc, quy định chức năng, quyền hạn cho từng người, từng bộ phận.
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực (người, kinh phí, trang thiết bị …)
theo cấu trúc bộ máy.
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và thành viên, thiết lập các mối
quan hệ quản lý, các cơ chế thông tin, xác định mức độ can thiệp khi cần thiết.
Tiền
KH
2. Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
2.1. Ý nghĩa.
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá là hai công việc được tiến hành
theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhau nhằm khảo sát, xem xét cả về định
lượng và định tính kết quả học tập, đánh giá mức độ chiếm lĩnh nội dung học vấn
của học sinh. Điều đó có nghĩa là muốn kiểm tra, đánh giá khả năng và mức độ
lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỷ xảo các môn học cần phải xác định " thước đo" và
chuẩn đánh giá một cách khoa học, khách quan.
Đối với học sinh, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá
có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả kiểm
tra, học sinh tự đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng so với yêu cầu của
môn học và tự mình ôn tập, củng cố, bổ sung, hoàn thiện học vấn bằng các phương
pháp tự học với hệ thống các thao tác tư duy của chính mình. Do đó, kiểm tra đánh
giá chẳng những là biện pháp để hoàn thiện nội dung học tập mà còn là điều kiện
để rèn luyện phương pháp và hình thành thái độ học tập tích cực cho học sinh.
Đối với giáo viên: Kết quả kiểm tra, đánh giá chẳng những phản ánh thành
tích học tập của học sinh, qua đó, mỗi giáo viên tự đánh giá vốn tri thức, trình độ
chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín của mình với học sinh. Trên
cơ sở đó, không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình cả về trình độ học vấn, về
nghệ thuật sư phạm và nhân cách người thầy giáo.
Đối với các cấp quản lý lãnh đạo nhà trường và ngành giáo dục - đào tạo,
kiểm tra đánh giá là biện pháp để đánh giá kết quả đào tạo cả về định lượng và
định tính. Đó là cơ sở để xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, về đội ngũ
giáo viên, về vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt
động dạy học….
Vì vậy, kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỷ xảo là một khâu quan trọng,
Chức năng này được phản ánh thông quá thái độ nghiêm túc của các em trong
suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện các nhiệm vụ của bài kiểm tra, thái độ đối với
kết quả đánh giá và tự đánh giá. Cụ thể là việc kiểm tra và đánh giá phải giúp học
sinh có nhu cầu, động cơ đúng đắn trong học tập, có thói quen tự giác tích cực, tự
lực huy động vốn tri thức, kỹ năng của chính mình để giải quyết các nhiệm vụ học
tập. Đồng thời học sinh phải có năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá và tự hoàn thiện
học vấn của mình, luôn có ý thức trách nhiệm cao, có ý chí vươn lên đạt kết quả
cao trong học tập. Đặc biệt phải quan tâm giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, tuyệt đối
tránh những biểu hiện sai trái về thái độ, hành vi, thói quen xấu trong khi làm bài.
11
Như vậy chức năng giáo dục của kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh đã
thể hiện sự thống nhất giữa hoạt động dạy học và sự giáo dục phẩm chất, nhân
cách cho học sinh thể hiện sự thống nhất giữa kiểm tra và tự kiểm tra, giữa sự đánh
giá của thầy và tự đánh giá của trò, giữa dạy học và tự học…
Ba chức năng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh có mối quan hệ
mật thiết với nhau, trong đó chức năng phát hiện, điều chỉnh là chức năng cơ bản nhất
là chức năng có tính đặc thù của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Trong quá trình kiểm tra đánh giá nếu chức năng này được thực hiện tốt thì sẽ
tạo cơ sở cho học sinh củng cố tri thức, phát triển thao tác trí tuệ nói riêng, mang
lại hiệu quả giáo dục trong dạy học nói chung.
Khi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, cán bộ quản lý giáo dục
và giáo viên cần coi trọng cả 3 chức năng đảm bảo quá trình kiểm tra đánh giá tri
thức, kỉ năng, kỉ xảo của học sinh vừa có thể phát hiện, điều chỉnh kịp thời và hoàn
thiện quá trình dạy học, vừa góp phần phát triển năng lực hoạt động trí tuệ nói
riêng, phát triển toàn diện nhân cách học sinh nói chung.
2.3. Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học sinh.
2.3. 1. Yêu cầu đảm bảo tính khách quan trong quá trình kiểm tra.
từ đó có cơ sở thực tiễn kịp thời đánh giá và điều chỉnh hoạt động học tập nói riêng
của học sinh, điều chỉnh quá trình dạy học nói chung. Mặt khác kiểm tra thường
xuyên, có hệ thống còn tạo nên nguồn kích thích tính tích cực học tập, không
ngừng vươn lên đạt những thành tích mới trong các môn học.
2.3.4. Yêu cầu đảm bảo tính phát triển
Quá trình dạy học luôn vận động và phát triển. Kiểm tra đánh giá tri thức, kỉ
năng, kỉ xảo là một khâu của quá trình dạy học nên khi tiến hành quy trình kiểm tra
đánh giá thành tích học tập của học sinh cần được xem xét theo hướng phát triển
trong tương lai.
Điều đó có nghĩa là khi kiểm tra đánh giá cần nhìn chung cả quá trình trên cơ
sở xem xét, đúng từng giai đoạn, từng khâu của hoạt động học tập, rèn luyện của
các em. Tuyệt đối không nên nhầm lẫn giữa kết quả có thể chưa tốt ở những thời
điểm nhất định với kết quả khả quan chung của cả quá trình học tập. Trong quá
trình dạy học, người giáo viên có lương tâm, có phương pháp sư phạm là người
biết trân trọng sự cố gắng, biết đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của học
sinh mình dù đó chỉ là những dấu hiệu, những mầm muống, những tia hy vọng nhỏ
bé. Đối với những học sinh yếu kém, giáo viên không được thành kiến, không vùi
13
dập, không coi thường những cố gắng, tiến bộ của các em trái lại phải thường
xuyên động viên tạo điều kiện giúp đỡ để các em tiếp tục vươn lên đạt kết quả với
sự nổ lực cá nhân cao nhất.
2.3. Các hình thức kiểm tra đánh giá ở trưởng Tiểu học.
2.3.1. Kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ.
Kiểm tra thường xuyên là tiến trình thu nhập thông tin về việc học tập của học
sinh một cách liên tục trong lớp. Các hình thức kiểm tra thường xuyên dùng để
đánh giá những phương diện cụ thể hay những phần của chương trình học. Kết quả
của kiểu kiểm tra này được dùng để theo dõi sự tiến bộ của người học trong suốt
tiến trình giảng dạy và cung cấp những phản hồi liên tục cho học sinh và giáo viên,
2.4.1. Đánh giá bằng nhận xét.
Đánh giá bằng nhận xét là giáo viên đưa ra những phân tích hoặcnhững phán
đoán về học lực hoặc hạnh kiểm của người học bằng cách sử dụng các nhận xét
được rút ra từ việc quan sát các hành vi hoặc sản phẩm học tập của học sinh theo
những tiêu chí được cho trước.
2.4.2. Đánh giá bằng điểm số:
Đánh giá bằng điểm số là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang
điểm để chỉ mức độ về kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã thể hiện được qua một
hoạt động hoặc sản phẩm học tập.
15
CHƯƠNG 2 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
1. Đặc điểm tình hình chung:
1.1. Tình hình địa phương.
Xã Thạch Trung là một xã ngoại thành có diện tích rất rộng lớn có lẽ là rộng
nhất trong 16 xã, phường thuộc thành phố Hà Tĩnh. Thạch Trung có 1830 hộ dân
với hơn 70% là giáo dân. Tình hình chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng ổn định,
người dân chủ yếu làm nghề nông, một bộ phận dân cư con đông nên kinh tế khó khăn,
hộ nghèo chiếm 70 %.
Trên địa bàn có 4 đơn vị trường học từ mầm non đến THCS đều đạt chuẩn
quốc gia giai đoạn một, gồm 1 trường mầm non với 2 cơ sở, 2 trường tiểu học và 1
trường THCS. Chính quyền địa phương luôn luôn quan tâm đến các phong trào
văn hoá, văn nghệ, TDTT. Đặc biệt là một xã nghèo nhưng mấy năm liền được
UBND Thành phố tặng đơn vị có phong trào giáo dục toàn diện.
1.2. Tình hình trường:
1.2.1. Tình hình chung: Trường Tiểu học Thạch Trung 2 được đóng trên địa
bàn trung tâm của xã, gần UBND xã, gần trạm y tế xã, 4 năm liền trường giữ vững
danh hiệu trường chuẩn quốc gia giai đoạn 1, trường tiên tiến cấp Thành phố và
thương yêu, giúp đỡ bạn bè.
- Thực hiện nội quy nhà trường; đi học đều và đúng giờ; tích cực tham gia các
hoạt động học tập; giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập.
- Giữ gìn vệ sinh cá nhân; đầu tóc, quần áo gọn gàng, sạch sẽ; ăn uống hợp vệ
sinh.
- Tham gia các hoạt động tập thể trong và ngoài giờ lên lớp của trường, của
lớp; giữ gìn, bảo vệ tài sản của trường, lớp và nơi công cộng; bước đầu biết giữ gìn
và bảo vệ môi trường, thực hiện các quy tắc về ATGT và trật tự xã hội.
Thông qua việc thực hiện 4 nhiệm vụ này, học sinh bộc lộ ra bên ngoài tình
cảm, thái độ, ý thức trách nhiệm của mình đối với thầy cô, bạn bè cũng như đối với
bản thân mình, việc này giúp giáo viên có thể lượng hoá xem học sinh thực hiện
được mấy nhiệm vụ, đạt được bao nhiêu nhận xét từ đó đi đến đánh giá học sinh đã
thực hiện đầy đủ hay chưa.
* Đánh giá học lực của học sinh:
Học lực được hiểu là kết quả học tập (Thành tích học tập) mà mỗi học sinh đạt
được kiến thức kỹ năng theo chuẩn đã được xác định ở mỗi bài học, mỗi chương,
17
mỗi phần của mỗi môn học. Tổng hợp kết quả đánh giá học lực ở các môn học vào
những thời điểm khác nhau như giữa kỳ, cuối kỳ, cuối năm học ta có kết quả đánh
giá học lực của học sinh. Theo QĐ 30/2005-BGDĐT về đánh giá rèn luyện của
học sinh Tiểu học có 2 hình thức đánh giá.
- Đánh giá bằng điểm số: Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại
ngữ, Tin học các môn học đánh giá bằng điểm số cho điểm từ 1 đến 10, không cho
điểm 0 và điểm thập phân ở các lần kiểm tra.
- Đánh giá bằng nhận xét
+ Ở các lớp 1,2,3: Đạo đức, Thể dục, TN và XH, Nghệ thuật
+ Ở các lớp 4,5 Đạo đức, Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, kỹ thuật
Các môn học đánh giá bằng nhận xét được đánh giá theo 2 mức độ .
thành tốt (A+) nhiều khi chưa rõ ràng.
Một số học sinh còn được lời điểm dẫn đến có sự điều chỉnh về xếp loại so
với năng lực thực sự của các em.
VD: 8,5 -> 9; 6,5 - 7
- Một số giáo viên còn coi trọng điểm thi mà học sinh đạt được hơn là việc
các em nắm bài, hiểu bài và biết cách áp dụng kiến thức, kỹ năng đã được học vào
trong cuộc sống nên dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức như một cái máy theo một
công thức sắp sẵn nên học sinh rất bị động khi gặp dạng bài kiểm tra khác. Vì thế
hiện tượng đánh giá chênh nhau là có.
- Một số bộ phận giáo viên còn xem nhẹ khâu kiểm tra đánh giá hoạt động của
học sinh nên nhiều khi đánh giá theo cảm tính, nâng điểm để chiều lòng phụ huynh
để đạt được chỉ tiêu đăng ký thi đua, việc tổ chức thi cử nhiều khi còn dễ dãi và sai
quy chế coi, chấm thi.
2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn.
Cách tiến hành nghiên cứu.
Phương pháp chính được thực hiện trong đề tài này là phương pháp điều tra
bằng Anket, tôi đã tiến hành điều tra 2 BGH và 20 giáo viên trong trường về sự
thành công của các biện pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tại
trường Tiểu học Thạch Trung 2, ngoài ra đề tài còn được thực hiện bằng phương
pháp phỏng vấn trực tiếp và phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
19
2.2. Kết quả thể hiện ở bảng sau:
TT
Mục đích hoạt
động
- Đổi chéo GV coi thi,chấm thi, chấm
tập trung.
22
22
22
100
100
100
- Sử dụng nhiều hình thức kiểm tra
(miệng, vấn đáp, trắc nghiệm, tự luận).
- Đề thi cấn đối giữa tri thức và kỹ
năng, giữa nhớ , hiểu, vận dụng..
- Tập huấn cho GV cách ra đề thi, chấm
thi.
18
81,8
15
68,2
7
11
15
11
11
68,2
50
50
20
4
6
18,2
27,3
7
2
7
31,8
11
11
Phương án điều chỉnh (Nếu
cần thiết)
-BGH dự giờ đột xuất, thanh
Đánh giá các biện pháp cụ thể như sau:
2.1.Đảm bảo tính khách quan của kiẻm tra đánh giá kết quả học tập
của học sinh
2.1.1. Biện pháp kiểm định chất lượng.
Qua số liệu khảo sát ở trên ta thấy có 100% giáo viên có đánh giá là nhà
trường đã sử dụng rất thành công biện pháp này trong kiểm tra đánh giá kết quả
học tập của học sinh. Tôi đã phỏng vấn trực tiếp cô Trần Thu Hằng - dạy lớp 3C
với câu hỏi : “Xin cô cho biết suy nghĩ của cô khi nhà trường sử dụng biện pháp
kiểm định chất lượng học sinh để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của các em?”
Tôi đã thu được ý kiến trả lời như sau: “Với cá nhân tôi thì ngoài việc giáo viên
kiểm tra đánh giá học sinh thường ngày thì nhà trường tổ chức kiểm định chất
lượng 2 lần/ kì là thích hợp. Đó là cơ sở để nhà trường quản lý chỉ đạo công tác
kiểm tra đánh giá của giáo viên đối với học sinh và cũng qua đó giáo viên tự
điều chỉnh phương pháp kiểm tra đánh giá của mình để đảm bảo được tính khách
quan.’’
Cô giáo Võ Thuý Hằng - dạy lớp 5B thì cho biết: “Đối với học sinh việc
kiểm tra đánh giá thường xuyên của giáo viên là rất cần thiết tuy nhiên có những
lần kiểm định chất lượng của nhà trường như thế giúp cho HS, GV thấy được
mặt bằng chung về chất lượng trong khối, trong trường đồng thời một lần nữa
21
qua kiểm định này để phân loại được HS từ đó có phương án điều chỉnh bổ sung
vào việc dạy buổi 2/ ngày.”
Như vậy biện pháp kiểm định chất lượng trong kiểm tra đánh giá là rất
khách quan và được sự đồng tình ủng hộ cao trong GV, HS. Cần tiến hành 2 lần/
kỳ và 4 lần/ năm.Ngoài ra có thể kiểm định chất lượng học sinh giỏi, học sinh
yếu.
2.1.2. Biện pháp sử dụng ngân hàng đề.
Với biện pháp này, có 100% ý kiến cho rằng rất thành công.
Trước khi coi thi, chấm thi, tổ chức họp hội đồng giám khảo, phân công tổ
chấm, và sau mỗi buổi có tổng kết, rút kinh nghiệm. Trong chấm thi yêu cầu các
giám khảo chấm độc lập. Mỗi tổ phải chấm chung ít nhất là 2 bài và BGH chấm
thanh tra một số bài để xác suất tính chính xác, khách quan
2.2. Đảm bảo tính toàn diện.
2.2.1. Biện pháp sử dụng nhiều hình thức kiểm tra.(Miệng, vấn đáp, trắc
nghiệm, tự luận).
Biện pháp này có 81,8% đánh giá tốt, 18,2% đánh giá khá.
Đây là biện pháp quan trọng trong công tác kiểm tra đánh giá kết quả học
tập của học sinh, qua các hình thức kiểm tra này, giáo viên xác định được năng
lực học tập của từng học sinh ở từng môn, trên cơ sở đó giáo viên có biện pháp
tác động tích cực riêng cho từng đối tượng tạo động lực thúc đẩy học sinh học
tập và đây thực sự là một công cụ để quản lý học sinh. Tuy nhiên kiểm tra miệng
và vấn đáp nhiều khi đang tập trung vào một số học sinh giỏi hay học sinh yếu
mà chưa chú ý đến tất cả các đối tượng học sinh. Hơn nữa trong quá trình giảng
dạy, nhiều khi, nhiều lúc giáo viên còn bỏ qua kiểm tra miệng như kiểm tra bài
cũ ở nhà, bỏ qua vấn đáp vì sợ cháy giáo án.
Chúng tôi đã quán triệt tinh thần nghiêm túc kiểm tra miệng đến tận từng
giáo viên, đã giao cho trưởng Khối lớp kiểm tra công tác này, tuy vậy hiệu quả
vẫn chưa tối ưu.
Do đó để tối ưu hoá phương pháp này thì BGH phải dự giờ đột xuất, thanh
tra giờ dạy của giáo viên, kiểm tra vở bài tập học sinh, sổ ghi điểm, sổ chủ
nhiệm của giáo viên thường xuyên.
2.2.2. Đề thi cân đối giữa tri thức, kỷ năng, giữa nhớ, hiểu, vận dụng.
23
Đề kiểm tra không chỉ nhằm đánh giá về kiến thức, kỹ năng học sinh cần
đạt mà còn nhằm phát hiện được khả năng vận dụng sáng tạo của học sinh vào
thưởng thích đáng với những giáo viên có những bộ đề hay, đều về mặt tri
thức, kỹ năng và thiết thực.
2.3. Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
2.3.1 Kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên.
Có 22 giáo viên được hỏi thì cả 22 giáo viên đều đồng ý rất thành công đạt tỉ lệ
100%
Ban giám hiệu nhà trường đã quan tâm đến các hình thức kiểm tra này và
quán triệt đến từng giáo viên, coi kiểm tra định kỳ là phương thức xem xét kết
quả học tập của học sinh theo thời điểm để giúp giáo viên biết xem những học
sinh đã tiếp thu được gì sau những đơn vị bài học hay sau những phần học để kịp
thời bổ khuyết hay điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học những phần kế
tiếp còn kiểm tra thường xuyên dùng để đánh giá những phương diện cụ thể hay
những phần của chương trình học. Kết quả của kiểu kiểm tra này được dùng để
theo dõi sự tiến bộ của người học trong suốt tiến trình giảng dạy và cung cấp
những phản hồi liên tục cho học sinh và giáo viên, nhằm giúp giáo viên có
những biện pháp điều chỉnh việc giảng dạy cũng như giúp học sinh nhận ra
những tiến bộ và chưa tiến bộ của bản thân để tự điều chỉnh.
Trường chúng tôi đã thực hiện rất thành công biện pháp này, cách tiến
hành là xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên từ đầu
năm, coi kết quả đợt kiểm tra này là một tiêu chí quan trọng để đánh giá kết quả
hoạt động của giáo viên và thông qua kết quả học tập của học sinh trong đợt
kiểm tra đó để làm cơ sở điều chỉnh hoạt động dạy học của giáo viên
2.3.2.Kiểm tra đột xuất chẩn đoán và kiểm tra tổng kết.
Như chúng ta biết, kiểm tra đột xuất chẩn đoán không theo những thời điểm
được ấn định trước. Qua kiểm tra này phản ánh hành vi học tập điển hình của
người học, nghĩa là những điều người học làm được trong điều kiện bình thường,
không có sự chuẩn bị hay nổ lực tối đa. Những đánh giá dựa trên kết quả của
những bài kiểm tra đột xuất trong phạm vi lớp học thường được dùng để chẩn
đoán các mặt tồn tại của quá trình dạy học, từ đó đề ra phương hướng hay quá