Sử dụng phần mềm powerpoint trong dạy học hình thành biểu tượng hình dạng không gian cho trẻ mầm non - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là chìa khoá vàng cho mọi quốc gia, dân tộc tiến bước vào
tương lai. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục và
coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những mục tiêu chiến lược.
Trong đó, giáo dục mầm non (GDMN) là mắt xích đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ. Nhà giáo dục Xô viết A.S.Makarenko khẳng định: “Những cơ sở căn
bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy
cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc
giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả,
cùng những nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên”. Lịch sử
giáo dục mầm non ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo
nhân cách con người mới Việt Nam, với mục tiêu là “Giúp trẻ em phát triển
về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của
nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một”. Mục tiêu này được thể hiện rất rõ
trong nội dung chương trình giáo dục mầm non ở từng độ tuổi. Trong những
nội dung đó, việc hình thành những biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ đã trở
thành một bộ phận vô cùng quan trọng, có một vị trí đặc biệt trong việc giáo
dục trí tuệ, phát triển nhận thức cho trẻ.
Nội dung chương trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non
gồm có: Hình thành các biểu tượng về tập hợp, số và phép đếm; Hình thành
biểu tượng về hình dạng không gian của vật thể; Hình thành biểu tượng về
kích thước vật thể; Hình thành những biểu tượng về định hướng trong không
gian và thời gian. Như vậy, thông qua các biểu tượng toán sơ đẳng, trẻ có
thêm nhiều kiến thức và kĩ năng để nhận biết thế giới xung quanh mình đặc

1


biệt là về thuộc tính của các vật thể như hình dạng, số lượng, kích thước, vị trí

phú, thật sự lôi cuốn và kích thích tính tích cực học tập của trẻ. Cùng với
những nhận thức như trên về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong dạy
học, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Sử dụng phần mềm PowerPoint trong
dạy học hình thành biểu tượng hình dạng không gian cho trẻ mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về phần mềm Microsoft
PowerPoint và việc sử dụng phần mềm này trong dạy học hình thành các biểu
tượng về hình dạng không gian cho trẻ mầm non, giúp GVMN có thể thiết kế
và tạo ra những giáo án, bài giảng điện tử bằng phần mềm PowerPoint qua
một số đề tài cụ thể.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
- Nghiên cứu cách thức khai thác, sử dụng phần mềm PowerPoint vào
việc thiết kế bài giảng.
- Xây dựng quy trình và vận dụng quy trình để thiết kế bài giảng, giáo
án điện tử bằng phần mềm PowerPoint.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng tính hiệu quả của việc ứng dụng
CNTT vào dạy học các biểu tượng về hình dạng không gian.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Việc ứng dụng phần mềm PowerPoint trong thiết kế các bài giảng điện
tử, các giáo án về nội dung hình thành biểu tượng hình dạng không gian cho
trẻ mầm non.
b. Phạm vi nghiên cứu
Phần mềm PowerPoint 2003, 2007, 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.

3


dạng, phong phú và chính xác hơn. Tuy vốn ngôn ngữ và kinh nghiệm sống
của trẻ còn ít nhưng trẻ đã có khả năng gọi đúng tên, phân biệt được hình
dạng khác nhau của các vật thể quen thuộc.
Ví dụ: Khăn lau của trẻ có hình vuông, bàn ăn có hình chữ nhật...
Khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo bé còn thấp, trẻ vẫn bị lôi
cuốn bởi các thao tác với đồ vật hơn là việc nhận biết hình dạng của các vật
thể vì trẻ không tri giác các hình học như những hình chuẩn, mà thường coi
chúng như những đồ chơi thông thường và gọi theo tên của những đồ chơi
giống nó nhưng nếu có sự hướng dẫn, chỉ bảo của người lớn trẻ sẽ không
đồng nhất tên gọi các hình học với tên đồ vật nữa mà trẻ có ý thức so sánh
hình dạng giữa các hình học và các vật.

5


Nếu trẻ dưới 3 tuổi rất khó khăn trong việc nhận biết các hình học khi
chúng được đặt ở các vị trí khác nhau thì trẻ 3 tuổi đã bắt đầu nhận biết được
chính xác các hình học mà không phụ thuộc vào vị trí sắp đặt của chúng trong
không gian nhưng do quá trình tri giác các hình còn sơ sài, qua loa nên
thường có sự nhầm lẫn giữa các hình tương đối giống nhau.
Ví dụ: Hình vuông và hình chữ nhật, hình tròn và hình ô van...
Khả năng lựa chọn các vật theo mẫu khá chính xác nên đầu tiên cho trẻ
làm quen với mỗi loại hình là cho trẻ chọn hình theo mẫu. Sau khi đã nhận
biết được các hình học, việc khảo sát các hình học đóng một vai trò quan
trọng vì thông qua các hoạt động khảo sát đó để trẻ nhận ra điểm khác biệt
giữa các hình và đặc điểm rõ nét, đặc trưng của từng hình. Trong quá trình
khảo sát hình dạng, sự phối hợp giữa các giác quan như thị giác, xúc giác kết
hợp với lời nói giúp cho thúc đẩy sự tri giác và nhận biết hình dạng của các
vật một cách chính xác. Tuy nhiên, ở trẻ mẫu giáo bé khả năng phối hợp hoạt
động của mắt và tay còn chưa tốt, chưa biết sử dụng các đầu ngón tay để khảo

trình sờ nắn vật, hơn nữa trẻ vẫn chưa biết nhìn lần lượt đường bao quanh vật.
Vì vậy, trẻ vẫn chưa nhận biết chính xác hình dạng của vật.
Trẻ có khả năng nhận biết được hình dạng của một số hình khối thông
dụng như: khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật.
c. Trẻ 5 - 6 tuổi
Bước sang giai đoạn này khả năng nhận thức của trẻ đã phát triển hơn
rất nhiều, các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ghi nhớ của trẻ đã bền vững
hơn, hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó nội dung nhận biết càng phức tạp thì trí tuệ
của trẻ càng phải hoạt động tích cực, hoạt động trí óc tích cực làm óc sáng
tạo, suy luận của trẻ càng phát triển, nhiều trẻ có khả năng tạo ra hình mới từ
những hình đã biết.
Ví dụ: Trẻ biết xếp các hình theo trí tưởng tượng của trẻ để tạo thành
ngôi nhà, búp bê, siêu nhân... hay vật gì đó mà trẻ thích.

7


Trẻ hoàn toàn có khả năng thực hiện chọn vật theo lời hướng dẫn của
giáo viên dựa trên những biểu tượng đã có về hình dạng của các vật khác
nhau mà không cần sử dụng tới vật mẫu đã cho. Ta thấy được tư duy của trẻ
đã có bước phát triển hơn hẳn những lứa tuổi trước.
Trong hoạt động khảo sát hình trẻ không còn vụng về như những lứa
tuổi trước mà trẻ đã phối hợp hoạt động của tay và mắt chính xác hơn cầm
nắm vật bằng cả hai tay, sử dụng các đầu ngón tay để sờ các đường bao vật
kết hợp với chuyển động của mắt theo đường bao của vật, đó là phần chủ yếu
đặc trưng cho hình dạng của vật.
Đồng thời cùng sự phát triển của tư duy, ngôn ngữ của trẻ cũng phát
triển hơn, với sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thị giác, xúc giác và ngôn
ngữ đã tạo điều kiện giúp trẻ củng cố và nhớ lâu điều mình cảm giác được.
Lời nói còn giúp cho nhận thức của trẻ tổng quát hơn.

chữ nhật...
+ Dạy trẻ biện pháp khảo sát các khối: khối cầu, khối trụ, khối vuông,
khối chữ nhật nhằm giúp trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng của các hình
khối về cấu tạo bề mặt xung quanh khối, số lượng các mặt, các góc của chúng
và hình dạng các mặt khối.
+ Dạy trẻ nhận biết, phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa khối
cầu và khối trụ, giữa khối vuông và khối hình chữ nhật. Dựa vào đặc điểm về
hình dạng và các mặt bao quanh khối.
+ Dạy trẻ chắp ghép các hình và khối đã học.
1.1.1.3. Phương pháp hình thành biểu tượng hình dạng không gian
cho trẻ mầm non
a. Trẻ 3 đến 4 tuổi
Ngay từ nhỏ, thông qua các trò chơi trẻ đã nhận biết được hình dạng
cũng như nắm được tên gọi của một số hình hình học quen thuộc. Tuy nhiên,
do trẻ chỉ tri giác chúng như những đồ chơi thông thường nên trẻ chưa nhận

9


biết được tính chất phong phú của chúng. Vì vậy cần hoàn thiện và làm phong
phú hơn kinh nghiệm cảm nhận hình dạng cho trẻ, ở trường mầm non hoạt
động này được tiến hành dưới hai hình thức: Dạy trẻ trên giờ học và dạy trẻ
ngoài giờ học. Trong giai đoạn mẫu giáo bé nhiệm vụ là dạy trẻ nhận biết dấu
hiệu hình dạng của bốn loại hình: Hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình
chữ nhật không phụ thuộc vào màu sắc kích thước của hình.
* Dạy trên giờ học
GV có thể tiến hành bài dạy theo các bước sau:
+ Cô cho trẻ quan sát hình mẫu để trẻ nắm được hình dạng của hình.
+ Cho trẻ chọn hình theo mẫu.
+ Cho trẻ gọi tên hình theo kinh nghiệm.

những dạng bài tập hay trò chơi, các bài tập cần sắp xếp sao cho tăng dần độ
khó ban đầu sử dụng các hình học phẳng đã học sau đó mới là sự liên hệ các
hình với các vật xung quanh.
Bài tập thứ nhất: Chọn hình theo mẫu, theo tên gọi
GV đưa hình mẫu ra, yêu cầu trẻ gọi tên hình, sau đó gọi kèm cả tên
hình và màu sắc.
GV đưa hình mẫu ra, trẻ chọn hình theo mẫu của cô giơ lên và nói tên
hình, màu sắc.
GV nói tên hình, màu sắc và yêu cầu trẻ chọn được hình theo tên gọi,
màu sắc cô yêu cầu.
Ví dụ: Bước đầu chỉ yêu cầu trẻ chọn hình tròn, hình tam giác không
quan tâm tới màu sắc, sau đó mỗi yêu cầu chọn hình màu xanh, hình tam giác
màu đỏ.
GV cho trẻ xếp tất cả các hình cùng loại trong rổ ra sàn, để trẻ tự nhận
xét xem các hình đó có màu gì? Kích thước các hình thế nào với nhau?...

11


Ví dụ: Trong rổ của trẻ có 3 hình vuông: màu xanh to nhất, màu đỏ và
màu vàng nhỏ hơn và bằng nhau. Sau khi xếp ra trẻ nói được: hình vuông to
màu xanh, hình vuông nhỏ màu đỏ và màu vàng.
Bài tập thứ hai: Cho trẻ so sánh các hình với các đồ vật xung quanh.
Sau mỗi tiết cho trẻ làm quen với hình gì, giáo viên sẽ cho trẻ tìm ở xung
quanh lớp hoặc nghĩ xem có đồ vật gì giống với các hình vừa học, có thể cô
đưa ra các vật và để trẻ liên hệ xem vật đó giống hình gì.
Ví dụ: Cô đưa cái khăn mặt hỏi trẻ giống hình gì?...
GV cụ thể hoá các biểu tượng các hình trên từng đồ vật.
Ví dụ: Chỉ nói miệng cốc giống hình tròn không được nói cái cốc giống
hình tròn, màn hình tivi giống hình vuông chứ không được nói cái tivi giống

Ví dụ: Trong góc xây dựng giáo viên có thể hỏi: Viên gạch giống hình
gì mà các con đã được học? Ngôi nhà có hình gì?
Ở góc nội trợ: Miệng bát có hình gì? Bàn ăn giống hình gì?...
Góc học tập: Cho trẻ quan sát tranh được ghép từ các hình học và đàm
thoại cùng trẻ, có thể cho trẻ nặn, vẽ, tô màu cho các hình...
GV cần linh hoạt trong các tình huống có thể củng cố lại những biểu
tượng đã học cho trẻ trong các trò chơi, các hoạt động trong ngày của trẻ. Đặc
biệt cần cho trẻ hoạt động với đồ vật càng nhiều càng tốt.
b. Trẻ 4 - 5 tuổi
Dựa trên những kiến thức mà trẻ đã được học ở lớp mẫu giáo bé, trẻ đã
nhận biết, phân biệt và gọi tên được một số hình học phẳng. Nhiệm vụ ở lứa
tuổi mẫu giáo nhỡ là giúp phân biệt và tìm ra tính chất đặc trưng của các hình
học đã biết và mở rộng cho trẻ được làm quen với một số hình khối. Các hoạt
động vẫn được tiến hành dưới hai hình thức dạy trên giờ học và dạy ngoài giờ
học.

13


* Dạy trên giờ học
Trên các tiết học trên lớp do trẻ đã nhận biết được các hình phẳng nên
sử dụng các mẫu hình đa dạng với màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt khác
nhau. Theo nội dung chương trình mẫu giáo lớn (4-5 tuổi) giai đoạn đầu là
giúp trẻ ôn luyện, so sánh sự giống và khác nhau giữa các hình học phẳng giai
đoạn sau mới cho trẻ làm quen với các hình khối.
a. Hình phẳng
Tiếp tục dạy trẻ ôn luyện nhận biết và gọi tên hình, khi xem mỗi hình
cần yêu cầu trẻ nhận xét cả màu sắc và kích thước của hình.
Ví dụ: Trẻ chọn hình tròn màu xanh, hình vuông màu đỏ, hình tam giác
to...

Cho trẻ lăn hình, trẻ nhận ra sự khác biệt là hình tròn có đường cong,
nhẵn nên lăn được. Còn các hình khác đường bao thẳng có các đầu nhọn nên
không lăn được.
Có thể cho trẻ luyện tập, phân loại các hình theo dấu hiệu đường bao
bằng thị giác và xúc giác.
+ Dạy trẻ phân biệt hình vuông, hình tam giác và hình chữ nhật.
Trong bài tập trước trẻ đã nhận thấy hình vuông, hình tam giác, hình
chữ nhật đều có một đặc điểm chung là không lăn được. Để trẻ nhận ra những
đặc điểm khác nhau của các hình qua hoạt động xếp hình và hoạt động khác.
Cách 1: Cho trẻ quan sát hình mẫu, sử dụng kĩ năng đếm và so sánh
chiều dài để lựa chọn số que tính, so sánh chiều dài các que tính xếp từng
hình. Trẻ sẽ nhận thấy:
+ Hình tam giác xếp bằng 3 que tính
+ Hình vuông được xếp bằng 4 que tính dài bằng nhau
+ Hình chữ nhật cũng được xếp bằng 4 que tính nhưng 2 que dài
bằng nhau và 2 que tính ngắn bằng nhau.
* Các bài tập luyện tập nhận biết, phân biệt các hình

15


Sử dụng bước đầu là những bài tập đơn giản: Chọn hình và xếp hình
thành các nhóm theo dấu hiệu hình dạng.
Cuối các tiết học là cho trẻ chơi trò chơi:“ Chiếc túi kì lạ”, “ Về đúng
nhà”, “ Xếp hình”…
Ngoài ra, củng cố kiến thức của trẻ về các hình thông qua các hoạt
động khác nhau : vẽ, nặn, cắt dán…
a.2. Nhận biết các khối
Việc nhận biết các khối cũng được tiến hành như các giờ học nhận biết
các hình học phẳng:

thấy những dấu hiệu giống và khác nhau của các khối cần tiến hành so sánh,
đối chiếu từng cặp một với hình gần giống nó.
Ví dụ: Khối cầu và khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật...
Để đạt được mục đích hình thành ở trẻ biểu tượng về các hình học
phẳng và các khối đầy đủ và sâu sắc. Cần phải cho trẻ làm quen với các dạng
hình khác nhau của một dạng hình học hay hình khối như: hình tam giác có
các cạnh và các góc khác nhau, các khối trụ to, nhỏ khác nhau qua đó trẻ tìm
được những dấu hiệu đặc trưng giống nhau của các hình và các khối cùng
loại.
Thực hiện mục tiêu trên cần tiến hành hướng dẫn trẻ dưới hai hình
thức: dạy trên giờ học và dạy ngoài giờ học.
* Dạy trên giờ học
Trong chương trình hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ mẫu giáo
lớn hiện nay gồm các bài:
Bài 1: Trẻ nhận biết phân loại khối cầu, khối trụ.
Bài 2: Trẻ nhận biết phân biệt khối vuông, khối chữ nhật.
Bài 3: Ôn nhận biết, phân biệt các hình khối: khối cầu, khối trụ, khối
vuông, khối chữ nhật.
Ngoài ra vẫn tiến hành luyện tập, ôn lại các hình học phẳng.

17


a1. Đối với các hình học phẳng.
Tiến hành luyện tập để trẻ so sánh, phân biệt, nắm sâu sắc đầy đủ dấu
hiệu đặc trưng của các hình phẳng để trẻ lấy đó làm chuẩn, đối chiếu với các
mặt của hình khối và so sánh với các vật thường gặp, cho trẻ tiến hành các bài
tập thông qua các trò chơi:
Cô đặt lên mỗi bàn một hình, chia lớp ra thành các đội, mỗi đội một
bàn, cho các đội thi tìm các vật trong thực tế có dạng giống với các hình đặt

khối không lăn được như khối vuông, khối chữ nhật. Vậy là sẽ chia các khối
thành 2 nhóm: nhóm khối lăn được và nhóm khối không lăn được và ta sẽ tiến
hành cho trẻ phân biệt các khối trong cùng một nhóm với nhau.
- Phân biệt khối cầu và khối trụ
Cho trẻ khảo sát hai khối bằng các giác quan: thị giác, xúc giác, cầm
nắm, sờ xung quanh mặt bao hình, lăn hình rồi chỉ ra những điểm giống và
khác nhau.
Giống nhau: Cả hai khối đều lăn được
Khác nhau: Khối cầu có thể lăn được theo các hướng tuỳ ý vì bề mặt
khối cong đều. Còn khối trụ có hai mặt là mặt phẳng nên không lăn được theo
mọi hướng.
Dựa trên bề mặt khối, cô cho trẻ tiến hành đặt chồng các khối lên nhau:
Khi đặt khối trụ lên khối trụ thì đặt được.
Đặt khối cầu lên khối trụ thì cũng đặt được nhưng phải giữ thăng bằng
theo phương thẳng đứng.
Đặt khối trụ lên khối cầu hay khối cầu lên khối cầu thì không đặt được
vì khối cầu cứ lăn đi.
Để trẻ cảm nhận rõ nhất sự khác biệt giữa hai khối ta cho trẻ tiến hành
hoạt động nặn. Khi nặn khối cầu thì phải xoay tròn đất còn khi nặn khối trụ
phải lăn dọc rồi sau đó dỗ bẹt hai đầu.

19


- Phân biệt khối vuông và khối chữ nhật.
Bước đầu vẫn tiến hành cho trẻ ôn luyện lại bằng cách cho trẻ chọn
khối theo mẫu và theo tên gọi. Để trẻ tự quan sát và cho trẻ nhận xét hình
dạng các mặt bao quanh khối, xem các mặt bao đó được tạo bởi hình học
phẳng nào. Sau đó cô có thể sử dụng trò chơi “ Thi dán hình” để trẻ chọn các
hình phù hợp dán lên mặt bao của các khối. Khi thực hiện trò chơi, trẻ phải

phân tích, khả năng tách những dấu hiệu chung của những vật khác nhau khỏi
những dấu hiệu khác, khái quát hiểu từ “hình dạng” như một khái niệm
chung.
* Dạy ngoài giờ học
Trong quá trình tổ chức hoạt động góc cho trẻ thì khuyến khích trẻ sử
dụng các khối trong trò chơi, cô hướng dẫn trẻ lắp ghép các khối để tạo thành
những chiếc ô tô, ngôi nhà với những kiểu dáng đa dạng khác nhau, khi chơi
cô có thể kết hợp hỏi tên các khối để trẻ trả lời.
Hướng dẫn trẻ tạo khối bằng các cách khác nhau: nặn các khối bằng
đất, xếp các khối nhỏ thành các khối lớn cùng dạng hoặc khác dạng.
Ví dụ: Ghép 2 khối tam giác thành 1 khối vuông, ghép các khối vuông
nhỏ thành khối vuông lớn...
Hướng dẫn trẻ tìm các dạng khối trong thực tế xung quanh.
Ví dụ: Quả bóng là khối cầu, các loại vỏ hộp có hình dạng là khối
vuông hoặc khối chữ nhật.
GV cần tạo điều kiện để trẻ vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có ở
mọi nơi, mọi lúc, trong lúc chơi, trong các hoạt động khác nhau như: tạo hình,
tìm hiểu môi trường xung quanh. Qua đó, củng cố kiến thức, kĩ năng cho trẻ
ngày càng trở nên sâu sắc, đầy đủ và bền vững hơn. Đặc biệt trẻ biết ứng dụng
những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.

21


1.1.2. Sử dụng CNTT trong dạy học hình thành các biểu tượng
toán cho trẻ
1.1.2.1. Vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học các biểu tượng
toán
Trong quá trình dạy học ngày nay, với sự phát triển và tác động mạnh
mẽ của CNTT, việc ứng dụng CNTT ngày càng trở nên quan trọng và cần

dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong phương
tiện.
- Bài giảng điện tử giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi
tiết học. Giúp GV điều khiển được hoạt động nhận thức của trẻ, kiểm tra và
đánh giá kết quả học tập của trẻ được thuận lợi và có hiệu suất cao thông qua
hệ thống trò chơi.
1.1.2.2. Ưu, nhược điểm của việc sử dụng CNTT trong dạy học các
biểu tượng toán
* Ưu điểm.
- HS hứng thú với bài học đặc biệt là thu hút bởi hình ảnh.
- Kênh hình kênh chữ phong phú, đa dạng về cả màu sắc và chất lượng,
không mất công trong chuẩn bị các vật mẫu hay vẽ tranh ảnh, in hình, phô tô,
ken ảnh...
- GV chủ động thời gian giảng dạy hơn là cách giảng dạy truyền thống,
bài giảng phong phú cho cả nội dung lẫn chương trình bài học, môn học, cách
tổ chức, phương pháp giảng dạy.
- Giúp HS dễ hình dung bài học có chứa nội dung lịch sử hay quá trình
diễn biến của sự vật hiện tượng trong thực tế hoặc trong tự nhiên một cách
khách quan bằng hình ảnh động hoặc bằng video clip chuẩn bị sẵn có liên
quan đến nội dung bài học.
- Giúp GV phát huy khả năng sáng tạo trong giảng dạy và trong tổ chức
các hoạt động như (bài tập trắc nghiệm, bài tập giải ô chữ....).

23


Tạo sự liên hoàn và đồng hiện nội dung bài học trên cùng một trang
giao diện trên màn hình (slide) giúp HS có thể dễ dàng hệ thống nội dung bài
học.
* Nhược điểm:

mềm này là không thể chạy được các ảnh động, các video; giao diện bằng
tiếng anh nên khó khăn cho nhiều GV còn hạn chế về ngoại ngữ; ít có khả
năng lập trình,...Vì vậy nhiều GV vẫn chưa thực sự chú ý tới phần mềm này.
b. Phần mềm Violet
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online Leson Editor
for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho GV).
Violet là phần mềm công cụ giúp GV có thể xây dựng được các bài
giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả. So với các công cụ
khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình
ảnh, chuyển động và tương tác... rất phù hợp với đối tượng người học là trẻ
nhỏ. Tương tự phần mềm PowerPoint, Violet có đầy đủ các tính năng dùng để
xây dựng nội dung bài giảng như: nhập các dữ liệu văn bản công thức, hình
vẽ, các dữ liệu Multimedia (hình ảnh âm thanh, phim hoạt hình, Flas...), sau
đó lắp ghép với nhau, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh và và thiết lập tham số; tạo
các hiệu ứng hình ảnh, hiệu ứng chuyển động, riêng với việc xử lý các
Multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn các phần mềm khác; xây dựng hệ thống
bài tập trắc nghiệm khách quan, tạo bài tập ô chữ cần thiết cho hoạt động
củng cố kiến thức và nâng cao nhận thức của HS. Đặc biệt, Violet có tính
vượt trội hơn so với các phần mềm khác đó là khả năng nhúng vào một phần
mềm như PowerPoint.
Đây là một phần mềm dễ sử dụng, có đầy đủ các chức năng soạn thảo
trình chiếu; tạo ra các bài tập trắc nghiệm, bài tập giải ô chữ, lập trình mô
phỏng, và có thể đóng gói nhúng trực tiếp vào bài giảng của PowerPoint một

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status