Lời cảm ơn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu nhận thức của giáo viên
mầm non khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về phương pháp giáo dục trẻ
trong gia đình”. Em đã gặp phải một số khó khăn vì đây là lần đầu tiên
nghiên cứu khoa học. Nhưng nhờ sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Th.s Hà
Thị Kim Dung, cùng với sự giúp đỡ của các cô giáo trường mầm non Hoa
Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, các thầy cô trong tổ bộ môn Tâm lý – Giáo dục
đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các bạn
sinh viên và các cô giáo trường mầm non.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Tuyết
1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu nhận thức của
giáo viên mầm non khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về phương pháp giáo
dục trẻ trong gia đình” là kết quả nghiên cứu của chính bản thân mình. Đề tài
tôi nghiên cứu không trùng với bất kì đề tài của các tác giả khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Tuyết
2
PHẦN MỞ ĐẦU
thức mà tôi đã được trao dồi ở trường, tôi thấy được tầm quan trọng của việc
chọn các phương pháp hữu hiệu để góp phần phát triển toàn diện cho trẻ. Vì
vậy tôi chọn đề tài “Tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non khu vực
Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về phương pháp giáo dục trẻ trong gia đình”.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều các nhà giáo dục, tâm lí cũng như các văn bản pháp luật
của nhà nước nghiên cứu về nội dung giáo dục trẻ mầm non trong gia đình và
các khía cạnh của nó.
Theo Aixtot – nhà giáo dục Hy Lạp cổ đại, ông đánh giá rất cao vai trò
của gia đình trong việc giáo dục trẻ em nhất là giáo dục ban đầu.
Theo J.A.Coomenxki “Muốn giáo dục trẻ em phải dựa vào đặc điểm
phát triển về mặt tâm lí và sinh lí của trẻ để giáo dục trẻ”.
Ở Việt Nam mục tiêu cao cả của giáo dục gia đình được thể hiện ở
chương IV – Quan hệ giữa cha mẹ và con, Điều 34 – Nghĩa vụ và quyền của
cha mẹ trong luật hôn nhân và gia đình: “… giáo dục để con phát triển lành
mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia
đình, công dân có ích cho xã hội”.
Theo PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết: Gia đình có ảnh hưởng tuyệt đối
trong quá trình phát triển của trẻ thơ, sống trong môi trường giáo dục của gia
đình trẻ được thỏa mãn mọi nhu cầu về thể chất lẫn tinh thần để lớn lên phát
triển khỏe mạnh hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người.
Tác giả Vũ Mạnh Quỳnh cũng đã khẳng định: Với trẻ thơ, gia đình là
môi trường thuận lợi để hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục bằng
tình cảm huyết thống nên không một tổ chức xã hội nào có thể thay thế được.
4
Tuy nhiên vấn đề tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non khu vực
Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về phương pháp giáo dục trẻ trong gia đình thì chưa có
giáo dục trẻ trong gia đình. Nhưng với lối sống, quan điểm, trình độ học vấn
của mỗi người là khác nhau nên việc nhận thức và sử dụng các phương pháp
để giáo dục trẻ trong gia đình còn nhiều điều chưa hợp lý. Tuy nhiên, nếu các
giáo viên được tìm hiểu sâu hơn về tâm lý của các cháu, thì sẽ giúp họ sử
dụng các phương pháp giáo dục gia đình đúng thời điểm, tạo điều kiện cho
các cháu phát triển toàn diện.
8. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tế của đề tài
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về giáo dục mầm non là rất quan trọng và
cần thiết. Trên cơ sở tìm hiểu về giáo dục mầm non và tâm lý trẻ em, chúng ta
sẽ có được những phương pháp giáo dục trẻ ở trường mầm non và ở trong gia
đình một cách đúng đắn. Từ đó giúp cho các giáo viên có thể nhận thức và sử
dụng đúng các phương pháp giáo dục gia đình để giúp trẻ phát triển toàn diện.
xây dựng một xã hội mới với một thế hệ con người mới.
9. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trò chuyện.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
10. Cấu trúc đề tài
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận
1.1. Nhận thức là gì?
1.2. Giáo dục và vai trò của giáo dục gia đình đối với trẻ mầm non
6
1.2.1. Giáo dục là gì?
lao động
2.2.3. Nhận thức của giáo viên mầm non về phương pháp tạo tình huống
2.2.4. Nhận thức của giáo viên mầm non về phương pháp tổ chức hoạt động
cho trẻ
2.2.5. Nhận thức của giáo viên mầm non về việc kết hợp giữa gia đình và nhà
trường
Chương 3: Một số tác động thử nghiệm nhằm nâng cao nhận thức của giáo
viên mầm non khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về phương pháp giáo dục trẻ
mầm non trong gia đình
3.1. Mục tiêu thử nghiệm
3.2. Nội dung thử nghiệm
3.2.1. Phương pháp giáo dục bằng hành vi, hành động mẫu của người lớn
3.2.2. Phương pháp giáo dục bằng lao động
3.2.3. Phương pháp tạo tình huống
3.2.4. Phương pháp tổ chức hoạt động
3.3. Tiến hành tác động
3.4. Kết quả của quá trình tác động
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Nhận thức là gì?
Để phản ánh hiện thực khách quan con người không chỉ bày tỏ thái độ
của mình với nó mà trước hết là nhận thức về thế giới đó. Để có một hành vi
văn hóa đẹp, biết tôn trọng, lễ phép với người lớn, thể hiện bằng cử chỉ hành
động, lời nói thì trước hết chúng ta phải nhận thức được người lớn là những
động tích cực đều bắt đầu từ gia đình. Hiện nay tồn tại khá nhiều định nghĩa
gia đình, mỗi chuyên khảo đều xây dựng cho mình những khái niệm công cụ,
theo đó gia đình có thể định nghĩa theo các cách tiếp cận cấu trúc, chức năng
hoặc nguồn gốc hình thành…
- Theo GS.TS Bruce J. Cohen và GS.TS Jerri L. Orbuch Đại học
Michigan Hoa Kỳ trong “Xã hội học nhập môn” thì: “Gia đình là một hệ
thống của những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan
hệ nhận nuôi (con nuôi, cha mẹ nuôi)”.
- Theo Từ Thanh Hán: “Gia đình là một loại hình thức tổ chức xã hội
lấy quan hệ hôn nhân làm nền tảng, lấy quan hệ huyết thống và quan hệ thu
lợi làm cầu nối”
Vậy gia đình có thể hiểu là một nhóm nhỏ xã hội, các thành viên trong
nhóm có quan hệ gắn bó với nhau qua hôn nhân, huyết thống, tâm – sinh lí, có
chung các giá trị vật chất, tinh thần tương đối ổn định trong các giai đoạn phát
triển lịch sử xã hội.
1.2.3. Giáo dục gia đình là gì?
Giáo dục gia đình được hiểu là tất cả những tác động của gia đình đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách con người, trước hết là của lớp trẻ
không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách đầy đủ và vững bền nếu
không có một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi. Bởi gia đình là thể chế
đầu tiên, quan trọng nhất in dấu lên nhân cách đang hình thành vào lứa tuổi
10
còn non dại, khi trẻ em chưa có ý thức rõ về điều đó. Những mối liên hệ của
trẻ em với môi trường nguyên thủy này, quyết định phương thức ứng xử, nhất
là về mặt tình cảm mà chúng sẽ trải qua sau này trong những mối liên hệ với
những cá nhân khác.
1.2.4. Vai trò của giáo dục gia đình
thành một người tốt sẽ dễ hơn nhiều là phải cải tạo một đứa trẻ hư thành một
người bình thường. Giáo dục trẻ trong gia đình là một khoa học và là một
nghệ thuật. Nó mang ý nghĩa thời sự, nó luôn luôn nảy sinh những điều kiện
mới mẻ nên đòi hỏi các gia đình phải luôn luôn khám phá, tìm hiểu.
1.3. Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi mầm non
1.3.1. Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ ấu nhi
Thời kỳ trẻ ấu nhi là thời kỳ “phát cảm tri giác”, “phát cảm ngôn ngữ”,
đang hình thành và phát triển mạnh các đặc trưng xã hội của con người; hoạt
động nhận thức cảm tính phát triển mạnh, nền tảng hoạt động nhận thức lí
tính (tư duy, tưởng tượng…); các cấu trúc tâm lí bậc cao của con người nhờ
có kích thích ngôn ngữ. Sự xuất hiện ngôn ngữ nói là sự kiện quan trọng.
Ngôn nhữ vừa là vật thay thế cho đồ vật thật, vừa là phương tiện giao tiếp.
Theo Piaget, ngôn ngữ có ba ưu thế so với hành động vật chất:
- Hành động bằng tay diễn ra với tốc độ chậm hơn nhiều so với lời
mô tả.
- Hành động bằng tay bị hạn chế bởi không gian hạn hẹp và thời gian
trực tiếp, trong khi đó nhờ ngôn ngữ, tư duy dễ dàng vượt ra khỏi giới hạn đó.
- Hành động bằng tay diễn ra tuần tự, từng tí một, còn ngôn ngữ thì cho
biểu tượng về toàn bộ (cô hồ như cùng xảy ra).
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ấu nhi theo hai hướng chính: hoàn thiện
sự thông hiểu lời nói của người lớn và hình thành ngôn ngữ tích cực của đứa
12
trẻ.Tính chủ định hình thành và phát triển từ hành động với đồ vật và giao tiếp
với những người xung quanh.
1.3.2. Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ 3-4 tuổi
Ở tuổi lên 3 xuất hiện một mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa một bên là
tính độc lập đang phát triển mạnh, muốn tự mình làm tất cả mọi việc như
vẻ đẹp tưởng chừng như đơn giản trong thiên nhiên, trong cuộc sống và trong
nghệ thuật như khi nhìn thấy một cánh hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ,
nghe một câu thơ giàu vần điệu… Đây là thời điểm thuận lợi cho việc giáo
dục thẩm mĩ, và chính việc giáo dục thẩm mĩ lại có khả năng mang lại hiệu
quả to lớn đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ.
1.3.4. Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ 5-6 tuổi
Đây là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” – tức là
lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông. Giai đoạn này những cấu tạo tâm lí
trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục của
người lớn, những chức năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện
của hoạt động tâm lí để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về
nhân cách của con người. Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, nhưng vẫn còn
nhiều trẻ phát âm ngọng, dùng từ sai, nói năng chưa đúng. Chủ yếu là do trẻ
học lỏm của người lớn hay bắt chước. Do đó ở gia đình hay ở lớp mẫu giáo
cần coi trọng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội dung
quan trọng của giáo dục mầm non.
Trẻ cũng bắt đầu ý thức về giới tính của mình. Những nhận xét đánh
giá bắt đầu mang sắc thái giới tính. Trẻ thường nói: “Con trai mà lại khóc à!”
hay “Con gái mà lại đánh nhau à!”. Trẻ bắt đầu nhận biết mình là người thế
nào có những đặc điểm gì. Trẻ bắt đầu đánh giá người khác nhưng bị xúc
cảm, tình cảm chi phối mạnh. Trẻ biết điều khiển hành vi của mình theo mục
đích đã định. Sự tập chung, tính bền vững của chú ý tăng lên, nhu cầu nhận
thức mạnh. Hoạt động vui chơi không thỏa mãn nhu cầu này trẻ phải tìm đến
14
một hoạt động mới – đó là hoạt động học tập. Vì vậy việc chuẩn bị sẵn sàng
về mặt tâm lý cho trẻ đến trường phổ thông là một việc rất quan trọng.
1.4. Phương pháp giáo dục trẻ mầm non trong giáo dục gia đình
Lời nói thuyết phục trẻ cần rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, cố gắng dùng
ngôn từ giàu hình ảnh, gần gũi đối với trẻ. Khi thuyết phục, khuyên bảo trẻ
cần chọn thời điểm thích hợp để tạo ra sự thân mật, gần gũi giữa cha mẹ với
con, nhờ đó mà sự thuyết phục, khuyên bảo mới có hiệu quả.
1.4.4. Phương pháp giáo dục qua nhu cầu
Trẻ đã có một số vốn kinh nghiệm cá nhân về quá trình thỏa mãn các
nhu cầu cơ bản, nên đối tượng phương diện và điều kiện thỏa mãn nhu cầu là
con đường giáo dục trẻ có tác dụng mạnh. Tuy nhiên, không được lạm dụng
thái quá, nếu không hiệu lực sẽ giảm. Những đối tượng thỏa mãn nhu cầu sẽ
điều khiển được hành vi của trẻ theo định hướng của xã hội.
1.4.5. Phương pháp giáo dục bằng lao động
Khi giao việc cho trẻ cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Không gây nguy hiểm cho trẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ.
- Vừa sức với trẻ, đòi hỏi trẻ phải có một chút cố gắng.
- Tạo hứng thú của trẻ, kích thích sự phát triển của trẻ.
- Không làm ảnh hưởng đến những người xung quanh, môi trường tự
nhiên, xã hội.
- Nhất thiết phải có mục đích giáo dục.
Khi trẻ thực hiện các công việc, cha mẹ, những người thân gần gũi nên
có những nhận xét, đánh giá theo hướng khích lệ trẻ, ngay cả khi trẻ chưa
hoàn toàn làm tốt nhiệm vụ. Tuy nhiên, cũng nên chỉ cho trẻ thấy được lỗi của
trẻ, ví dụ: “Nếu con làm như thế này thì sẽ tuyệt vời hơn”, vừa nói vừa sửa
chữa hành vi, hành động cho trẻ.
Được tham gia lao động đem lại niềm vui cho trẻ; chứng tỏ trẻ được
mọi người tôn trọng trẻ; và khi trẻ hoàn thành nhiệm vụ trẻ được đánh giá
16
đúng và cảm thấy tự hào… Những nhiệm vụ vừa sức, hoặc cần phải cố gắng
mỗi lần tạo tình huống, nên khen hành vi của trẻ kịp thời để củng cố nét tính
cách tốt xuất hiện ở trẻ.
Ví dụ: Bố đem chia bánh, kẹo… cho trẻ nhưng ra điều kiện sau: Ai biết
nhường nhịn em bé hơn thì bố sẽ thưởng cho đi chơi công viên. Như vậy đứa
trẻ A hàng ngày tham lam, ích kỉ phỉ tự điều chỉnh nhường cho bé bánh, kẹo.
Khơi dậy lòng tự trọng ở trẻ bởi nó giúp trẻ sửa đổi khuyết điểm của mình,
giúp trẻ tự điều chỉnh hành vi theo chuẩn mực hành vi của xã hội.
1.4.8. Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ
Đây là con đường cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách con
người, qua đó thể hiện được mối quan hệ của mình với thế giới xung quanh.
Với trẻ mầm non thì hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo. Gia đình cần tổ
chức những trò chơi lành mạnh, hợp lứa tuổi, hợp vệ sinh, hợp sở thích, an
toàn cho trẻ. Khi tham gia vào hoạt động trẻ sẽ hiểu biết thêm về thế giới đồ
vật, về quan hệ con người – con người, con người với thế giới đồ vật. Qua đó
trẻ thấy được cái hay để học tập, cái xấu, cái dở để tránh. Cha mẹ cần hướng
dẫn, giao trách nhiệm cho trẻ, hướng dẫn cụ thể các tình huống, thao tác.
Đồng thời người lớn cũng cần đánh giá việc thực hành quá trình hoạt động
của trẻ để kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai sót. Cần động viên, khích lệ trẻ
có sự sáng tạo.
Ngoài ra còn nhiều phương pháp khác, cần sử dụng các phương pháp
sao cho hài hòa. V.A.Xukhomlinxiki đã từng nói: “Nếu chỉ giáo dục bằng một
cách thức nào đó thôi thì cũng như cố chơi một bản nhạc giao hưởng trên một
phím đàn”.
18
Chương 2
THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA CÁC GIÁO VIÊN MẦM NON
VỀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ TRONG GIA ĐÌNH
2.2.1. Nhận thức của giáo viên mầm non về phương pháp giáo dục bằng
mẫu hành vi hành động của người lớn
Bảng 1: Nhận thức của giáo viên mầm non về phương pháp giáo dục bằng
mẫu hành vi hành động của người lớn
Câu hỏi
Phương án lựa chọn
1. Khi ở trường, anh (chị) A: Có
Số ý kiến
Tỉ lệ %
38
95%
2
5%
35
87,5%
5
12,5%
2. Những việc nhỏ ở trong A: Có
lớp anh (chị) có hướng dẫn B: Không
cháu thực hiện không?
C: Thỉnh thoảng
3. Anh (chị) kể chuyện, đọc A: Để trẻ học tập tấm
thơ cho trẻ nghe nhằm mục gương tốt
đích gì?
B: Vì tôi muốn trẻ trật
tự không nói chuyện
4. Khi ở lớp, anh (chị) có A: Có
hình thành thói quen đánh
răng, rửa mặt, rửa tay… B: Không
cho trẻ không?
5: Anh (chị) làm việc đó A: Dạy trẻ thông qua
như thế nào?
các bài thơ, câu chuyện
B: Trò chuyện và yêu
20
cầu trẻ về nhà phải làm
C: Không quan tâm
0
0
0
đến việc dạy cho trẻ
sao?
hành vi đúng để trẻ làm
theo
C: Trẻ con mà, lớn lên
nó sẽ hiểu
7. Giúp trẻ có hành vi tốt, A: Lấy tấm gương tốt
anh (chị) đã làm gì?
và nhắc trẻ học theo
B: Khuyên bảo trẻ
8. Các mẫu hành vi, hành A: Có
động của anh (chị) trong
lớp có thống nhất với nhau B: Không
không?
Với trẻ nhỏ, mọi thứ đều cần người lớn hướng dẫn chỉ bảo và luôn luôn
kịp thời uốn nắn tránh những sai lệch. Cha mẹ, ông bà, người thân trong gia
đình sẽ là tấm gương đầu tiên cho trẻ học tập và noi theo. Nhưng khi trẻ được
đi học, được đến trường thì tất cả những hành vi, hành động của cô giáo đều
được trẻ chú ý quan sát và bắt chước. Trong mắt trẻ, cô giáo nói gì, làm gì
tốt trong cuộc sống.
Có 15 giáo viên trong 40 giáo viên (chiếm 37,5%) lại trò chuyện và yêu
cầu trẻ về nhà tự làm. Họ cũng đã có nhận thức nhất định trong việc chăm sóc
trẻ nhưng chưa cao vì tính trẻ nhỏ là hay quên, rất ít trẻ nhớ và làm theo.
22
Không có giáo viên nào lựa chọn câu trả lời: không quan tâm đến việc
dạy cho trẻ.
Khi được hỏi: “Anh (chị) kể chuyện, đọc thơ cho trẻ nghe nhằm mục
đích gì?”. Đã có 40 giáo viên (chiếm 100%) chọn phương án để trẻ học tập
gương tốt trong câu chuyện, bài thơ. Đây là những giáo viên thường xuyên
phân tích tốt xấu trong đó để trẻ nhận ra và học tập theo tấm gương nào. Đó là
những giáo viên luôn quan tâm dạy điều hay, lẽ phải cho trẻ để từ đó giáo dục
trẻ.
Khi ở trường các trẻ nhỏ không thể tránh khỏi việc trẻ làm được việc
này hay làm sai việc khác. Khi các cháu có hành vi sai so với chuẩn thì giáo
viên đã có những phương án khác nhau:
Có 30 giáo viên trong tổng số 40 giáo viên (chiếm 75%) đưa ra cách
giải quyết là người lớn làm mẫu hành vi để trẻ làm theo. Khi trẻ hành động sai
thì giáo viên cần có trách nhiệm sửa sai ngay cho trẻ tránh sự sai lệch trở
thành thói quen. Trong giờ trả trẻ tôi quan sát thấy: Cô Quỳnh chủ nhiệm lớp
5 tuổi C đã nhắc nhở cháu Thanh Thảo đi lại dép vì cháu đang đi dép trái. Khi
cháu định chạy đi, cô đã gọi lại và bảo cháu một lần nữa, cháu nhìn cô và cô
mỉm cười nói: “Cháu hãy nhìn xem có phải mình đi dép trái không? Các bạn
có ai đi dép trái đâu”. Ngay sau đó bé đã đi lại cho đúng và vui vẻ ra về.
Nhưng 10 giáo viên (chiếm 25%) xử lí các cháu bằng đánh đòn để cháu
chừa lần sau không làm như vậy nữa. Đây là những giáo viên cũng quan tâm
đến dạy dỗ trẻ nhưng phương pháp họ đưa ra chưa đúng cách. Đôi khi vì
hành vi thành thói quen. Chính sự thống nhất trong cách giáo dục của các
thành viên sẽ tạo cho trẻ sự ngăn nắp gọn gàng, nâng cao tính tự giác, tính
kỷ luật.
Như vậy, qua 8 câu hỏi thì phần đông các giáo viên đã nhận thức được
tầm quan trọng của việc làm gương cho trẻ học theo. Bên cạnh đó, vẫn có ít
giáo viên còn xem nhẹ hoặc nhận thức chưa đầy đủ về các phương pháp giáo
24
dục trẻ trong gia đình. Những giáo viên này cần bổ sung kịp thời những kiến
thức để chăm sóc trẻ thật tốt.
2.2.2 Nhận thức của giáo viên mầm non về phương pháp giáo dục trẻ
bằng lao động
Bảng 2: Nhận thức của giáo viên mầm non về phương pháp giáo dục trẻ
bằng lao động
Câu hỏi
Số ý kiến
Tỉ lề %
1. Theo anh (chị) giáo A: Có, rất cần thiết
25
62,5%
dục trẻ bằng lao động có B: Cần thiết
0
0
40
100%
0
0
10
25%
thực hiện?
Phương án lựa chọn
C: Không cần thiết
của trẻ
C: Công việc theo ý của
cô
3. Với những công việc A: Có, vì trẻ cũng cần
chung, anh (chị) có tạo giúp đỡ mọi người
điều kiện để các trẻ cùng B: Không, vì trẻ còn bé,