NHỮNG vấn đề PHÁP lý cơ bản về tòa án HÌNH sự QUỐC tế (ICC) THEO QUY CHẾ ROME 1998 và XU THẾ hội NHẬP của VIỆT NAM - Pdf 31

Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, nhân loại luôn phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn, nh dịch
bệnh lan truyền khắp các châu lục, ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng diễn ra ở
nhiều thành phố lớn trên thế giới và đặc biệt là tình hình tội phạm ngày càng gia
tăng và diễn biến phức tạp. Việc xuất hiện của những loại tội phạm mới (tội
phạm vi tính, tội phạm công nghệ cao) có thể xem là mặt trái của sự phát triển
Khoa học kỹ thuật. Không những thế, trong lịch sử cũng nh hiện tại, loại tội
phạm quốc tế (tội ác chiến tranh, tội chống nhân loại, tội phạm diệt chủng, tội
xâm lợc) vẫn cha bị loại bỏ khỏi đời sống quốc tế và hàng ngày, hàng giờ đe doạ
đến hoà bình và an ninh thế giới. Thực tiễn đó đòi hỏi các quốc gia cần có sự nỗ
lực to lớn để nhanh chóng loại bỏ loại tội ác quốc tế ra khỏi đời sống cộng đồng
và những kẻ phạm tội cần phải đa ra ánh sáng công lý và bị trừng trị.
Ngày 17/7/1998, đại diện của 120 nớc đã bỏ phiếu thông qua Quy chế
Rome (Rome Statute) về thành lập Tòa án hình sự quốc tế (International
Criminal Court, gọi tắt là ICC). Đây đợc xem nh là một trong những cố gắng lớn
lao của cộng đồng quốc tế, nhằm trừng trị tội phạm quốc tế, đem lại một thế giới
hoà bình, ổn định. Trong bối cảnh quốc tế đó, các vấn đề pháp lý và thực tiễn đặt
ra trong quá trình hoạt động của ICC luôn đòi hỏi có sự nghiên cứu từ nhiều góc
độ.
Quy chế Rome 1998 là một Điều ớc quốc tế đa phơng quan trọng, thu hút
đợc sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy mới ra đời đợc 9 năm nhng Quy chế Rome đã có "104 quốc gia thành viên" [25] và chắc chắn con số
thành viên của Quy chế này sẽ còn tăng lên. Sở dĩ Quy chế Rome có tác động
mạnh mẽ đến nhiều quốc gia vì sự hiện diện của Quy chế này đang phần nào đáp
ứng đợc những mong muốn của nhiều quốc gia trong việc áp dụng các biện pháp
trừng trị nghiêm khắc nhất đối với những kẻ thực hiện hành vi bị coi là tội ác
quốc tế.
Song hành với Quy chế Rome, sự xuất hiện của Tòa án hình sự quốc tế đã
và đang tạo ra bớc phát triển mới trong đời sống pháp luật quốc gia và quốc tế.
Mặc dù Quy chế Rome còn có những hạn chế nhất định và khó tránh khỏi những
bất đồng giữa các quốc gia thành viên nhng với tình hình diễn biến tội phạm gia

Quy chế Rome và ICC của TS Lê Mai Anh, TS Dơng Tuyết Miên, ThS Nguyễn
Tuyết Mai Đây là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá giúp các luật gia, các
nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về ICC cũng nh Quy chế Rome.
Tuy nhiên, với một Điều ớc quốc tế chứa đựng nhiều nội dung pháp lý
quan trọng và có tính chuyên môn cao nh Quy chế Rome thì những hoạt động
nghiên cứu nêu trên còn khá khiêm tốn. Điều này đòi hỏi phải có nhiều hơn nữa
những công trình nghiên cứu công phu về Quy chế Rome và ICC, để không chỉ
giúp cho việc đánh giá một cách toàn diện những vấn đề pháp lý cơ bản về quy
chế này mà còn tạo nền tảng lý luận cơ bản cho việc tiếp cận với Quy chế Rome
và ICC ở Việt Nam.
3. Phơng pháp nghiên cứu và nội dung của khóa luận
Khóa luận đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp của Chủ nghĩa MácLênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam và
pháp luật của Nhà nớc ta. Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả đã sử
2


dụng các phơng pháp truyền thống và hiện đại nh phân tích, so sánh, tổng hợp,
thống kê.
Đề tài khóa luận: "Những vấn đề pháp lý cơ bản về Tòa án hình sự
quốc tế (ICC) theo Quy chế Rome 1998 và xu thế hội nhập của Việt Nam"
bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Chơng I: Sự ra đời của Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế đáp ứng
yêu cầu phát triển của Khoa học luật và Luật hình sự quốc tế
Chơng II: Các vấn đề pháp lý cơ bản về Toà án hình sự quốc tế (ICC)
theo Quy chế Rome
Chơng III: Quy chế Rome và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

Chơng I
Sự ra đời của Quy chế Rome về tòa án hình sự quốc tế
đáp ứng yêu cầu phát triển Của khoa học luật

quan tâm thích đáng. Năm 1926, Hội Luật Hình sự quốc tế đã phác thảo một dự
án về Tòa hình sự quốc tế, song dự án này đã không nhận đợc một sự ủng hộ
nào.
Trong khi các cuộc xung đột đẫm máu vẫn liên tục diễn ra trên khắp thế
giới thì một trong những động thái tích cực từ phía Hội quốc liên đó là việc
thông qua Công ớc chống và trừng trị tội khủng bố. Công ớc đã đề cập đến việc
thành lập một Tòa án hình sự quốc tế xét xử tội phạm khủng bố, nhng trên thực
tế, Công ớc này chỉ đợc một quốc gia duy nhất phê chuẩn là ấn Độ.
Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến để lại những hậu quả nặng nề
nhất trong lịch sử. Hàng loạt đau thơng mất mát chung của nhiều dân tộc đã làm
thức tỉnh lơng tri nhân loại, khiến cộng đồng quốc tế quan tâm nhiều hơn đến
việc trừng trị các tội ác quốc tế nguy hiểm, trong đó có tội phạm chiến tranh.
Các Tòa án Nuremberg và Tokyo đợc thiết lập là minh chứng cho điều đó. Ngày
8/8/1945, Hoa Kỳ, Pháp, Liên Xô, Anh đã ký Hiệp ớc London để truy nã và
trừng trị các tội phạm chiến tranh của khối Trục phát xít Châu Âu (Liên minh
Đức, ý, Nhật). Tòa án Nuremberg đợc thiết lập dựa trên Hiệp ớc này, với Liên
Xô, Mĩ, Anh, Pháp là các bên ký kết và 19 quốc gia khác là bên gia nhập. Năm
1946, Tòa án hình sự quốc tế Tokyo đã ra đời theo quy định của Thoả ớc giữa các
nớc Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Canada, Australia, Niudilân, Hà Lan,
ấn Độ và Philipin. Mặc dù Quy chế Tòa án quân sự Nuremberg và Tokyo không
hẳn là đã tối u, vì đây đợc coi là Tòa án xét xử của các nớc thắng trận đối với các
nớc thua trận, nhng xét dới góc độ Khoa học luật hình sự quốc tế thì sự ra đời
của hai Tòa án này là bớc phát triển có tính lịch sử của Luật hình sự quốc tế. Lần
đầu tiên, tại Tòa án Nuremberg và Tokyo, chiến tranh xâm lợc đợc coi là tội ác
man rợ nhất chống lại loài ngời.
Vì còn nhiều ý kiến bất đồng nên phải đến năm 1948, Liên hợp quốc mới
chính thức xem xét và thông qua Công ớc về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt
chủng. Công ớc này không chỉ nêu rõ định nghĩa tội diệt chủng mà còn quy định
4


khách quan và hiệu quả.
Tháng 12 năm 1994, Đại hội đồng thành lập một Uỷ ban đặc biệt bao gồm
đại biểu của tất cả các quốc gia thành viên và các cơ quan chuyên ngành xem xét
lại dự thảo cuối cùng về Quy chế của Uỷ ban pháp luật quốc tế. Tháng 12 năm
1995, Đại hội đồng thành lập Uỷ ban trù bị với sự tham gia của các quốc gia
thành viên Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi Chính phủ để thảo
luận sâu hơn những nội dung quan trọng nhất của dự thảo Quy chế, nhằm xây
dựng một văn bản pháp lý hoàn chỉnh, đợc thừa nhận rộng rãi, chuẩn bị cho Hội
nghị cấp cao xem xét việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế. Tháng 12 năm 1996,
5


Đại hội đồng thẩm định lại kết quả hoạt động sau hai phiên họp của Uỷ ban trù
bị, đồng thời quyết định năm 1998 sẽ tổ chức Hội nghị cấp cao.
Văn bản dự thảo Quy chế đợc đệ trình, thảo luận và thông qua tại Hội nghị
cấp cao về việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế. Hội nghị diễn ra tại Rome từ
15/6/1998 đến 17/7/1998 với đại diện của hơn 160 quốc gia tham dự cùng với
đại diện của nhiều tổ chức quốc tế và hơn 100 tổ chức phi Chính phủ. Mặc dù dự
thảo đợc xây dựng nghiêm túc và tơng đối chi tiết, song nhiều vấn đề quan trọng
nh quyền tài phán, danh mục tội danh thuộc quyền tài phán của Tòa án vẫn còn
nhiều sự bất đồng ý kiến. Sau 5 tuần nỗ lực đàm phán dới nhiều hình thức, Quy
chế Rome đã đợc thông qua với 120 phiếu thuận, 7 phiếu chống và 21 phiếu
trắng.
Trong số 7 quốc gia bỏ phiếu không tán thành Quy chế bao gồm Trung
Quốc, Iraq, Israel, Yamen, Quatar, Libia, Mỹ có 3 quốc gia là Trung Quốc, Mĩ,
Israel tuyên bố lý do phủ quyết. Cụ thể, Trung Quốc cho rằng, việc trao quyền
cho Hội đồng dự thẩm giám sát việc thực thi của Công tố viên còn cha đủ. Mỹ
không tán thành các quy định về việc thực thi quyền tài phán của Tòa án hình sự
quốc tế đối với các quốc gia không phải là thành viên của Quy chế. Israel chỉ
trích không thể hiểu tại sao hoạt động di chuyển đến vùng lãnh thổ bị chiếm

Quy chế Rome với các Điều ớc quốc tế thành lập các thiết chế tài phán
quốc tế trớc ICC nh Hiệp ớc London (1945) thành lập Tòa án quân sự quốc tế
Nuremberg, và Thoả ớc 1946 thành lập Tòa án quân sự Tokyo. Quy chế của hai
Tòa án quân sự này đã quy định các vấn đề về cơ cấu tổ chức của Tòa án, thẩm
quyền xét xử, trình tự thủ tục xét xử và ra phán quyết của Tòa án. Đây là một
trong những nguồn tham khảo để Uỷ ban luật quốc tế (Liên hợp quốc) xây dựng
dự thảo Quy chế Rome. Nhiều quy định trong Quy chế Rome có sự kế thừa từ
Quy chế Tòa án Nuremberg và Tokyo, chẳng hạn:
+ Khái niệm về tội chống nhân loại;
+ Các nguyên tắc về trách nhiệm hình sự cá nhân nh cá nhân phải chịu
trách nhiệm hình sự quốc tế đối với hành vi xâm phạm nghiêm trọng luật quốc tế
và phải chịu hình phạt dựa trên cơ sở Luật pháp quốc tế; các cá nhân tội phạm
không đợc miễn trách nhiệm hình sự quốc tế đối với các tội phạm quốc tế nêu
trên ngay cả khi họ là Nguyên thủ quốc gia hoặc ngời đứng đầu Chính phủ.
2.2. Giá trị pháp lý của Quy chế Rome
Khác với quy chế về thành lập một số cơ quan tài phán quốc tế, nh Quy
chế của Tòa án công lý quốc tế (mang tính chất là bộ phận cấu thành của Hiến
chơng Liên hợp quốc), hay Quy chế Tòa án quốc tế về Luật Biển (là phụ lục của
UNCLOS 1982), Quy chế Rome có giá trị pháp lý của một Điều ớc quốc đa phơng, với 128 điều khoản, chia làm 12 phần. Quy chế vừa là cơ sở pháp lý cho sự
ra đời và hoạt động của ICC, vừa đa ra các tội danh, yếu tố cấu thành tội phạm,
biện pháp xử phạt nh quy định của Bộ luật hình sự, cũng nh trình tự điều tra, truy
tố, xét xử nh các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự.
* Quy chế Rome là cơ sở pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của ICC
Tại Điều 1, Quy chế Rome quy định "Thành lập Tòa án hình sự quốc tế.
Tòa án là một cơ quan thờng trực, có thẩm quyền xét xử những cá nhân phạm
các tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất đợc quy định trong Quy chế này và sẽ bổ
sung quyền tài phán hình sự quốc gia". Theo quy chế, ICC là một Tòa án quốc tế
thờng trực, đợc thành lập dựa trên cơ sở một điều ớc quốc tế, nhằm truy tố, xét
xử các cá nhân phạm tội ác quốc tế nghiêm trọng liên quan đến cộng đồng quốc
tế. ICC không phải là Tòa án siêu quốc gia mà đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung cho

biểu hiện ở việc, nếu nh Tòa án Nuremberg và Tokyo do bốn nớc đồng minh
thắng trận (Anh, Mĩ, Pháp, Liên Xô) thành lập, còn Tòa án Nam T và Ruanda do
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thành lập thì ICC do các quốc gia lập nên bằng
một Điều ớc quốc tế đa phơng. Điều ớc này chỉ có hiệu lực khi có 60 quốc gia
phê chuẩn hoặc gia nhập. Mặt khác, các Tòa án Nuremberg và Tokyo, Tòa án
Nam T và Ruanda chỉ có tính chất tạm thời, đợc thành lập để giải quyết một vụ
việc cụ thể sau đó sẽ ngừng hoạt động, còn ICC là Tòa án hình sự quốc tế có tính
thờng trực với cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có nguồn quỹ hoạt động riêng, tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình tố tụng đợc tiến hành nhanh chóng, khách quan và
công bằng. Và cũng không giống các Tòa án quân sự quốc tế và Tòa án hình sự
adhoc trớc đó chỉ đợc lập ra để xét xử các cá nhân về một tội phạm nhất định, đ8


ợc thực hiện ở những nơi nhất định từ trớc khi Tòa án này ra đời, ICC không có
hiệu lực hồi tố và không bị giới hạn thẩm quyền theo những vụ việc cụ thể. Ví dụ
nh Tòa án Ruanda đợc thành lập năm 1994 để truy tố các cá nhân phạm tội diệt
chủng và vi phạm nghiêm trọng Luật nhân đạo quốc tế trên lãnh thổ Ruanda, và
các công dân Ruanda thực hiện hành vi diệt chủng trên lãnh thổ các nớc láng
giềng. ICC chỉ xét xử các cá nhân thực hiện hành vi cấu thành các tội thuộc
quyền tài phán của Tòa án sau khi Quy chế có hiệu lực. Bất kỳ cá nhân nào phạm
một trong các tội quy định tại Điều 5 của Quy chế đều có thể bị đa ra trớc Tòa
án.
Mối quan hệ giữa Tòa án Nuremberg và Tokyo với thẩm quyền tài phán
của Tòa án quốc gia đợc giải quyết theo phơng thức mặc định, còn Tòa án Nam
T và Ruanda có thẩm quyền u tiên hơn Tòa án quốc gia. Trong khi đó, ICC đợc
thiết kế theo hớng không phải là cơ quan t pháp siêu quốc gia, không thay thế
hoàn toàn thẩm quyền tài phán của quốc gia mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bổ sung
cho Tòa án quốc gia.
Tóm lại, với sự ra đời của Quy chế Rome một Tòa án hình sự quốc tế thờng trực đợc thành lập. Từ nay, những kẻ thực hiện tội ác dã man nhất, vi phạm
nghiêm trọng pháp luật quốc tế sẽ bị đem ra trớc công lý, cho dù kẻ đó có là ngời đứng đầu một quốc gia.

luật nào có lợi hơn cho ngời ấy (khoản 2 Điều 24); Không truy tố hình sự đối với
ngời cha thành niên phạm tội ( Điều 26)
Một trong những nguyên tắc cơ bản khác của Luật hình sự cũng đợc quy
định trong Quy chế Rome đó là nguyên tắc bình đẳng trớc pháp luật. Nguyên tắc
này đợc thể hiện ở Điều 21 "Việc giải thích và áp dụng luật phải phù hợp với các
quyền con ngời đã đợc quốc tế thừa nhận, không đợc mang tính phân biệt đối xử
về giới tính, độ tuổi, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, hoặc tín ngỡng",
và Điều 27 theo đó, Quy chế này đợc áp dụng bình đẳng với mọi ngời không có
bất kỳ sự phân biệt nào dựa trên thân phận chính thức.
Đối với tội xâm hại hoà bình và an ninh quốc tế có một nguyên tắc rất đặc
trng đó là nguyên tắc không áp dụng thời hiệu. Đây đợc coi là một luận điểm
tiến bộ nhằm buộc cá nhân đã thực hiện hành vi tội ác phải chịu trách nhiệm
hình sự.
Ngoài ra, Quy chế còn quy định một số nguyên tắc khác, nh không xét xử
hai lần đối với một tội, nguyên tắc chịu trách nhiệm cá nhân, nguyên tắc trách
nhiệm do lỗi.
Thứ hai, về tội phạm, Quy chế Rome đợc đánh giá là Văn bản pháp lý quy
định khá rõ ràng, cụ thể những khái niệm và hành vi cấu thành tội phạm thuộc
quyền tài phán của Tòa án (tội phạm chiến tranh, tội diệt chủng, tội ác chống
nhân loại). Quy chế không chỉ là sự pháp điển hoá từ các Công ớc trớc đó mà
còn có sự mở rộng với nhiều luận điểm mới, tiến bộ (điều này sẽ đợc làm rõ hơn
ở Chơng 2 phần phân loại tội phạm).
Thứ ba, về các căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự, Quy chế Rome quy
định thành hai nhóm căn cứ chính
Nhóm 1: Loại trừ tính chất tội phạm của hành vi bao gồm các quy định tại
khoản 1 Điều 31, có thể đợc gọi một cách ngắn gọn là tình trạng mất năng lực
hành vi hình sự (do bị bệnh hoặc đang trong tình trạng say), phòng vệ chính
đáng và tình thế cấp thiết. Nh vậy khi hành vi tội phạm đợc thực hiện mà chủ thể
10


20 nớc Mĩ Latinh và Caribe, 12 nớc Châu á, 15 nớc Đông Âu, còn lại là các nớc
Tây Âu và những nớc khác. Campuchia là nớc Đông Nam á duy nhất tham gia
vào Quy chế.
Nhật Bản một trong những nớc lớn đã dành một lợng đáng kể trong dự
thảo ngân sách năm 2007 của mình để đóng góp với t cách là quốc gia thành
viên trong tơng lai của Toà án hình sự quốc tế [13]. Đây là một động thái quan
trọng thể hiện ý định gia nhập Quy chế Rome của nớc này.
Xem thêm Phụ lục để biết rõ hơn danh sách những quốc gia đã ký kết
hoặc phê chuẩn, gia nhập Quy chế Rome 1998.
11


Chơng II
Các vấn đề pháp lý cơ bản của Toà án hình sự quốc tế
theo Quy chế Rome 1998
1. Khái niệm tội phạm quốc tế
1.1. Định nghĩa
Theo Uỷ ban luật quốc tế, Tội phạm quốc tế đợc xác định là các hành
động chống lại luật pháp quốc tế, phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ của
quốc gia, xâm hại nghiêm trọng đến hoà bình và an ninh quốc tế [2]. Theo khoản
1 Điều 5 Quy chế Rome, Tòa án hình sự quốc tế có quyền tài phán đối với các
tội phạm nghiêm trọng nhất gây lo ngại cho toàn thể cộng đồng quốc tế (tức tội
phạm quốc tế).Tội phạm quốc tế bao gồm tội ác chiến tranh, tội chống lại nhân
loại, tội diệt chủng và tội xâm lợc.
Trong Khoa học Luật hình sự quốc tế cần phân biệt tội phạm quốc tế (hay
còn gọi là tội ác quốc tế) với tội phạm có tính chất quốc tế (hay còn gọi là tội
phạm điều ớc). Hai loại tội phạm này khác nhau ở một số điểm sau:
Thứ nhất, nếu nh tội phạm quốc tế trực tiếp xâm hại luật pháp quốc tế thì
tội phạm có tính chất quốc tế lại trực tiếp xâm hại đến trật tự pháp luật quốc gia
từ đó gián tiếp xâm hại đến quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Thuộc nhóm tội

XV ở Mĩ với việc thực dân da trắng tiêu diệt các bộ lạc thổ dân da đỏ; Thế kỷ
XVII-XIX thực dân Anh thảm sát các dân tộc bản địa ở Ai-len, Scôt-len, xứ Uên,
xứ Tasmania; Cho đến trớc và trong chiến tranh thế giới thứ II là vụ thảm sát
khủng khiếp nhất do phát xít Đức gây ra làm cho hơn 6 triệu ngời Do Thái thiệt
mạng;.Ngày nay, hành vi diệt chủng vẫn còn tiếp diễn ở một số nớc.
Khái niệm tội diệt chủng "đợc đề cập lần đầu tiên trong cuốn Sự thống trị
phát xít ở các vùng lãnh thổ châu Âu bị chiếm đóng của ông Rafael Lanpkin
xuất bản năm 1944" [4]. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ đợc làm rõ tại Điều 2 và
Điều 3 Công ớc về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng 1948. Chúng ta có thể
dễ dàng nhận thấy rằng Quy chế Rome quy định về tội diệt chủng gần nh không
có gì khác so với Công ớc trên. Về mặt định nghĩa cả Quy chế Rome và Công ớc
về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng 1948 đều dựa trên 3 yếu tố chính:
Một là, thực hiện một trong các hành vi sau:
+ Giết các thành viên của nhóm;
+ Gây tôn hại nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần cho các thành
viên của nhóm;
13


+ Cố ý áp đặt các điều kiện sống nhằm huỷ diệt về mặt thể chất toàn
bộ hoặc một bộ phận của nhóm;
+ áp đặt các biện pháp nhằm triệt sản trong nhóm;
+ Cỡng ép chuyển trẻ em của nhóm này sang nhóm khác.
Hai là, đối tợng hớng tới cuả tội phạm là một nhóm dân tộc, sắc tộc,
chủng tộc hoặc tôn giáo;
Ba là, có ý định tiêu diệt toàn bộ hay một bộ phận nhóm ngời đó.
Theo Điều 3 của Công ớc ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, hành vi
diệt chủng có thể thực hiện dới nhiều vai trò diệt chủng, cố gắng phạm tội diệt
chủng, đồng phạm tội diệt chủng. Còn tại điểm b khoản 3 Điều 25 Quy chế
Rome cũng quy định "Ra lệnh, dụ dỗ hoặc xúi giục thực hiện tội phạm mà thực

áp dụng cho các cuộc xung đột vũ trang mang tính quốc tế với điều kiện đợc
thực hiện nh một phần trong một kế hoạch hoặc chính sách hoặc nh một phần
của tội phạm này đợc thực hiện trên quy mô lớn (điểm a khoản 2 Điều 8).
Nhóm 2: Những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng luật pháp và tập quán
đợc áp dụng trong xung đột vũ trang có tính chất quốc tế (điểm b khoản 2 Điều
8). ở nhóm này, các hành vi chủ yếu bắt nguồn từ Công ớc La Hay 1907; Nghị
định th bổ sung I các Công ớc Giơnevơ năm 1977. Tuy nhiên, Quy chế Rome
15


cũng quy định một số điểm mới đó là thừa nhận các hành vi vi phạm về giới tính,
tình dục, cỡng bức nhập ngũ, tuyển mộ trẻ em dới 15 tuổi vào quân ngũ và tấn
công nhân viên làm công tác nhân đạo là tội ác chiến tranh.
Nhóm 3: Những hành vi vi phạm nghiêm trọng Điều 3 chung của các
Công ớc Giơnevơ ngày 12/8/1949 trong trờng hợp xung đột vũ trang không
mang tính chất quốc tế, cụ thể là bất kỳ hành vi nào đợc thực hiện nhằm vào
những ngời không tham gia tích cực vào chiến sự, kể cả các binh sĩ đã hạ vũ khí
và những ngời đã bị loại khỏi vòng chiến đấu do bị ốm, bị thơng, bị giam giữ hay
vì bất kỳ lý do nào khác (điểm c khoản 2 Điều 8).
Nhóm 4: Những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng luật và tập quán áp
dụng trong xung đột vũ trang không mang tính quốc tế, trong khuôn khổ pháp
luật quốc tế (điểm e khoản 2 Điều 8). Cần lu ý một điểm là những tội phạm này
chỉ có thể xảy ra khi có xung đột vũ trang diễn ra trên lãnh thổ của một quốc gia
giữa quân đội của quốc gia đó với các nhóm vũ trang có tổ chức hoặc giữa các
nhóm này với nhau (điểm f khoản 2 Điều 8).
Tìm hiểu Điều 8 Quy chế Rome chúng ta có thể rút ra một số nhận xét
sau:
Một là, việc quy định về tội phạm chiến tranh trong các cuộc vũ trang
không mang tính quốc tế đã gây ra nhiều tranh cãi. Một số quốc gia cho rằng
đây là công việc nội bộ của quốc gia, do đó xác định phạm vi thẩm quyền của

2. Quy chế Rome về các thiết chế của ICC
2.1. Nguyên tắc chung
Theo khoản 1 Điều 4 Quy chế Rome "Tòa án có địa vị pháp nhân quốc tế.
Tòa án có năng lực pháp lý cần thiết cho việc thực hiện chức năng và hoàn thành
mục tiêu của mình". Nh vậy, Tòa án là tổ chức quốc tế độc lập, đợc thành lập
trên cơ sở Điều ớc quốc tế ký kết giữa các quốc gia. Tuy nhiên, Tòa án vẫn có
những mối liên hệ chặt chẽ với Liên hợp quốc. Có thể nói, "ý tởng về việc thành
lập một Toà án hình sự quốc tế đã xuất hiện từ rất sớm, thậm chí trớc khi Liên
hợp quốc ra đời. Song ý tởng này lại chỉ đợc tiếp tục nuôi dỡng và thực hiện bởi
Liên hợp quốc" [8]. Trở lại lịch sử ra đời của ICC, ta có thể nhận thấy, vai trò
quan trọng của Uỷ ban pháp luật quốc tế (thuộc Liên hợp quốc) trong việc cho ra
bản dự thảo Quy chế Rome. Điều này phần nào nói lên tác động tích cực của
Liên hợp quốc đối với sự ra đời của ICC.
Tại Điều 2 Quy chế Rome quy định "Tòa án quan hệ với Liên hợp quốc
trên cơ sở một thoả thuận đợc Hội đồng các Quốc gia thành viên của Quy chế
này thông qua và do Chánh án Tòa án đại diện cho Tòa án ký". Trên thực tế, thoả
thuận này đã đợc ký kết vào ngày 4/10/2004 (Theo công báo của Tòa án hình sự
quốc tế, tài liệu ICC- ASP 13/Res.1, annexe). Biểu hiện của mối quan hệ giữa
ICC và Liên hợp quốc thông qua việc hai tổ chức này luôn có quan hệ hỗ trợ và
hợp tác với nhau trong quá trình hoạt động. Về phía Liên hợp quốc, tổ chức này
cam kết sẽ cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết theo yêu cầu của Tòa án,
và để các nhân viên của mình ra làm chứng trớc Tòa. Còn Tòa án, Tòa án có thể
thông báo đến Hội đồng Bảo an những trờng hợp các quốc gia bất hợp tác với
Tòa theo quy định tại điểm b khoản 5 và khoản 7 Điều 87.
Song song với mối quan hệ chung đó, ICC còn có mối quan hệ với một số
cơ quan chính của Liên hợp quốc, đặc biệt là với Hội đồng Bảo an. Vai trò của
Hội đồng Bảo an đối với Tòa án thể hiện:
Hội đồng Bảo an có quyền thông báo và yêu cầu Trởng Công tố điều tra
một vụ việc theo quy định tại Chơng VII Hiến chơng Liên hợp quốc (điểm b
17

dựng đợc định nghĩa tội xâm lợc. Tuy nhiên, ngay cả khi đã có định nghĩa thì
ICC cũng chỉ có thể tiến hành điều tra, truy tố đối với trờng hợp cụ thể sau khi đã
có xác định trớc đó của Hội đồng Bảo an về việc tồn tại hành vi xâm lợc của
quốc gia theo quy định tại Điều 39 Hiến chơng Liên hợp quốc.
2.2. Cơ cấu tổ chức của ICC
Để hoàn thành chức năng và nhiệm vụ của một thiết chế tài phán quốc tế
độc lập, Quy chế Rome đã thiết kế các cơ quan của ICC theo đúng mô hình của
tòa án quốc tế thờng trực:
* Ban Chánh án, gồm Chánh án, Phó Chánh án thứ nhất và Phó Chánh án
thứ hai do 18 Thẩm phán bầu ra với đa số tuyệt đối. Các Chánh án, Phó Chánh
18


án có nhiệm kỳ 3 năm hoặc cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ Thẩm phán của mình
trong trờng hợp nhiệm kỳ này kết thúc sớm hơn. Họ có quyền đợc tái ứng cử một
lần theo quy định tại khoản 1 Điều 38. Ban Chánh án có nhiệm vụ điều hành Tòa
án trừ Văn phòng Công tố. Tuy nhiên, Ban Chánh án sẽ phối hợp với Văn phòng
Công tố về những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm.
* Các hội đồng, ngay sau khi kết thúc bầu chọn Thẩm phán, Tòa án sẽ tổ
chức thành các bộ phận phúc thẩm, sơ thẩm và dự thẩm.
Bộ phận phúc thẩm gồm Chánh án và 4 Thẩm phán. Các Thẩm phán đợc
chỉ định vào bộ phận phúc thẩm sẽ làm việc tại bộ phận này trong suốt nhiệm kỳ
của mình. Bộ phận sơ thẩm gồm Phó Chánh án thứ hai và 5 Thẩm phán khác.
Các Thẩm phán đợc chỉ định vào Bộ phận sơ thẩm sẽ làm việc tại bộ phận này
trong thời hạn 3 năm, và sau đó cho đến khi kết thúc các vụ việc đang đợc bộ
phận này giải quyết. Bộ phận dự thẩm gồm có Phó Chánh án thứ nhất và 6 Thẩm
phán khác. Các Thẩm phán đợc chỉ định vào Bộ phận dự thẩm sẽ làm việc tại bộ
phận này trong thời hạn 3 năm, và sau đó cho đến khi kết thúc các vụ việc đang
đợc bộ phận này giải quyết. Việc chỉ định các Thẩm phán vào các bộ phận căn
cứ vào tính chất, chức năng của mỗi bộ phận và trình độ chuyên môn, kinh

tuyệt đối. Phó Công tố đợc bầu theo thể thức tơng tự từ danh sách ứng cử viên do
Trởng Công tố đề xuất. Trởng Công tố và Phó Công tố làm việc với nhiệm kỳ 9
năm và không đợc tái ứng cử, trừ khi nhiệm kỳ đợc bầu trớc đó ngắn hơn. Trởng
Công tố và Phó Công tố phải có quốc tịch khác nhau. Họ không đợc tham gia bất
kỳ hoạt động nào mà chắc chắn có thể ảnh hởng đến chức năng công tố hoặc sự
độc lập của họ. Họ cũng không đợc tham gia vào bất kỳ công việc nào có tính
chất nghề nghiệp ( khoản 5 Điều 42). Ngoài ra, Trởng Công tố cũng nh Phó
Công tố không đợc tham gia vào bất kỳ vụ kiện nào khi có căn cứ nghi ngờ về sự
không vô t của họ (khoản 7 Điều 42). Mọi vấn đề liên quan đến việc tuyên bố
không đủ t cách đối với Trởng Công tố và Phó Công tố sẽ do Hội đồng Quốc gia
thành viên quyết định (khoản 8 Điều 42).
* Văn phòng Lục sự chịu trách nhiệm về các lĩnh vực hành chính và dịch
vụ, không mang tính chất t pháp của Tòa án. Đứng đầu Văn phòng Lục sự là
Chánh Lục sự, đợc các Thẩm phán bầu bằng bỏ phiếu kín với đa số tuyệt đối trên
cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Quốc gia thành viên. Các Thẩm phán có thể bầu
một Phó Lục sự theo thể thức tơng tự dới sự giới thiệu của Chánh Lục sự nếu
thấy cần thiết. Chánh Lục sự và Phó Lục sự phải là ngời có đạo đức tốt, năng lực
cao, có kiến thức xuất sắc và thông thạo ít nhất một trong những ngôn ngữ làm
việc của Toà án. Chánh Lục sự làm việc với nhiệm kỳ 5 năm và đợc quyền tái
ứng cử một nhiệm kỳ. Phó Lục sự làm việc với nhiệm kỳ 5 năm hoặc ít hơn theo
quyết định của đa số tuyệt đối các Thẩm phán (khoản 5 Điều 43). Chánh Lục sự
thành lập phòng Nạn nhân và Nhân chứng để đa ra các biện pháp bảo vệ và bảo
đảm an ninh, t vấn và các trợ giúp thích hợp khác cho ngời làm chứng và ngời bị
hại tham gia tố tụng tại toà án và những ngời gặp nguy hiểm do lời khai của ngời
làm chứng (khoản 6 Điều 43). Mọi hoạt động tác nghiệp của phòng này đợc thực
hiện sau khi đã thống nhất với phòng công tố.
* Thẩm phán, theo khoản 1 Điều 36 Tòa án có 18 Thẩm phán do quốc gia
thành viên đề cử. Mỗi quốc gia thành viên có thể đề cử một ứng cử viên cho bất
kỳ cuộc bầu chọn nào mà ngời đó không nhất thiết phải là công dân quốc gia
mình nhng trong bất kỳ trờng hợp nào cũng phải là công dân của một quốc gia

Hội đồng Quốc gia thành viên thông qua. Tuy nhiên, Ban Chánh án phải chỉ rõ lý
do tại sao việc tăng số lợng Thẩm phán là cần thiết và chính đáng. Sau khi đề
nghị tăng số lợng Thẩm phán đợc thông qua và có hiệu lực. Ban Chánh án vào
bất kỳ thời điểm nào, căn cứ vào khối lợng công việc có thể đề nghị giảm số lợng
Thẩm phán. Nếu đề nghị này đợc Hội đồng Quốc gia thành viên thông qua thì số
lợng Thẩm phán sẽ giảm dần khi nhiệm kỳ của các Thẩm phán kết thúc cho tới
khi đạt đợc số lợng cần thiết và không đợc ít hơn 18 Thẩm phán (khoản 2 Điều
36).
Các Thẩm phán độc lập trong khi thực hiện chức năng của mình. Họ
không đợc tham gia những hoạt động mà chắc chắn có thể gây ảnh hởng đến các
chức năng xét xử hoặc sự độc lập của mình. Họ phải làm việc chuyên trách tại
trụ sở và không đợc tham gia công việc khác mang tính chất nghề nghiệp. Để
21


đảm bảo tính khách quan khi xét xử, một Thẩm phán sẽ không đợc tham gia vào
các vụ kiện trong các trờng hợp: Có căn cứ hợp lý nghi ngờ sự vô t của thẩm
phán; Thẩm phán đó trớc đây đã tham gia với bất kỳ t cách nào trong vụ án đó trớc Toà hình sự quốc tế, hoặc trong một vụ án hình sự có liên quan đến vụ án nói
trên đợc giải quyết ở quốc gia liên quan đến ngời đang bị điều tra, truy tố.
* Hội đồng Quốc gia thành viên, là cơ quan giám sát và lập pháp của ICC.
Mỗi quốc gia thành viên có một đại diện tại Hội đồng kèm theo ngời dự khuyết
và ngời cố vấn. Các quốc gia khác đã ký kết Quy chế hay văn kiện cuối cùng có
thể là quan sát viên trong Hội đồng (khoản 1 Điều 112). Hội đồng sẽ thành lập
một văn phòng gồm Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và 18 thành viên do Hội đồng
bầu ra với nhiệm kỳ 3 năm. Văn phòng có tính chất đại diện, có tính đến sự phân
bổ công bằng về mặt địa lý và đại diện tơng xứng của các hệ thống pháp luật cơ
bản trên thế giới. Văn phòng sẽ nhóm họp thờng xuyên khi cần nhng ít nhất mỗi
năm một lần. Văn phòng có chức năng hỗ trợ cho Hội đồng thực hiện các nhiệm
vụ của mình.
Hội đồng Quốc gia thành viên họp tại trụ sở Tòa án hoặc của Liên hợp

muốn thực hiện thẩm quyền tài phán đối với công dân nớc khác khi có hành vi
23


thuộc nhóm tội phạm quốc tế xảy ra trên lãnh thổ nớc mình, vì phải chịu sức ép
từ phía quốc gia mà công dân đó mang quốc tịch. Không chỉ có vậy, nguyên tắc
này còn nhằm tránh xảy ra tình trạng xung đột thẩm quyền giữa Tòa án quốc gia
và ICC, tránh bỏ lọt tội phạm thực hiện tốt mục tiêu bắt các cá nhân phải chịu
trách nhiệm cho các tội ác nghiêm trọng nhất mà chúng đã gây ra làm cả cộng
đồng quốc tế phải lo ngại.
Có thể nhận thấy rằng nguyên tắc bổ sung thẩm quyền tài phán quốc gia
cha từng xuất hiện trớc đó trong lịch sử pháp luật quốc tế. Chúng ta có thể xem
xét mối quan hệ giữa Tòa án quốc gia với một số Tòa án hình sự quốc tế ra đời
trớc ICC để thấy rõ hơn điều này. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia
thắng trận đã thiết lập hai Tòa án quân sự quốc tế ở Nuremberg và Tokyo để truy
tố những tên tội phạm sừng sỏ nhất phe Trục (Liên minh Đức, ý, Nhật). Tòa án
Nuremberg đợc thành lập ngày 8/8/1945 theo Hiệp ớc London, còn Tòa án
Tokyo đợc thành lập ngày 16/11/1946. Đây đợc coi là Tòa án của những kẻ chiến
thắng đối với kẻ chiến bại. Mối quan hệ về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án quân
sự quốc tế với Tòa án quốc gia đợc "giải quyết theo phơng thức mặc định"[12].
Tòa án quân sự quốc tế sẽ xét xử tội phạm chiến tranh, tội chống hoà bình và
chống loài ngời (Điều 6 Quy chế Tòa án Nuremberg). Còn những tội phạm khác
sẽ thuộc thầm quyền xét xử Tòa án quốc gia hoặc Tòa án do lực lợng chiếm đóng
quản trị.
50 năm sau đó hai Tòa án hình sự quốc tế adhoc đợc Hội đồng Bảo an
thiết lập trên cơ sở của Chơng VII Hiến chơng Liên hợp quốc. Hội đồng Bảo an
đã ra Nghị quyết 827 (25/5/1993) thành lập Tòa Nam T và Nghị quyết 955
(8/11/1995) thành lập Tòa Ruanda. Hai Tòa án hình sự vụ việc này có thẩm
quyền u thế hơn Tòa án quốc gia "loại trừ thẩm quyền xét xử của Toà án quốc
gia" [12]. Tòa án có quyền yêu cầu Tòa án quốc gia chuyển vụ việc cho mình xử

phạm quốc tế quan trọng nên không thể không thuộc thẩm quyền của ICC. Cuối
cùng thì các nớc cũng thoả hiệp đợc với nhau nhất trí đa tội xâm lợc vào danh
mục các tội phạm thuộc thẩm quyền tài phán của ICC.
Tuy nhiên, trớc mắt ICC vẫn cha thể thực hiện đợc quyền xét xử đối với tội
phạm này cho đến khi các Quốc gia thành viên thống nhất đợc định nghĩa. Hiện
nay nhóm làm việc đặc biệt về tội xâm lợc do Hội đồng Quốc gia thành viên
thành lập đang tích cực soạn thảo định nghĩa về tội này.Theo dự kiến định nghĩa
về tội này sẽ đợc đa lên Hội đồng Quốc gia thành viên tại phiên họp đánh giá về
Quy chế Rome năm 2009.
Một câu hỏi đặt ra là liệu Toà án có mở rộng thẩm quyền tài phán của
mình đối với các tội phạm khác hay không? Ngày nay, cùng với sự phát triển của
toàn cầu hoá, các tội phạm có tính chất quốc tế ngày càng trở nên nguy hiểm với
nhiều thủ đoạn tinh vi, gây hậu quả lớn cho cộng đồng quốc tế. Ví dụ điển hình
có thể nói đến ở đây là tội phạm khủng bố và tội phạm ma tuý.
Trên thực tế, văn bản dự thảo Quy chế đệ trình tại Hội nghị cấp cao về
việc thành lập Tòa hình sự quốc tế cũng có đề cập đến nhiệm vụ xét xử các tội
phạm khủng bố và buôn bán ma tuý quốc tế của ICC và đa ra định nghĩa về các
loại tội phạm này. Hầu hết các quốc gia tham dự Hội nghị đều thừa nhận 2 loại
tội phạm trên là đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hởng đến tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội của nhiều nớc. Tuy nhiên, các quốc gia vẫn cha đạt đợc sự thống nhất
chung về định nghĩa các tội phạm này. Một số quốc gia cho rằng điều tra tội
phạm ma tuý vợt quá khả năng của Toà án. Giải pháp đợc đa ra là các quốc gia
25


Trích đoạn Quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên Quy chế Rome 1 Các quyền cơ bản Trong khuôn khổ các điều ớc quốc tế Những cơ hội, thách thức đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập Quy chế Rome và ICC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status