đề tài tiểu luận kinh tế môi trường - Pdf 31

ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN

BÀI TIỂU LUẬN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Đề bài: “Phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế,
nguyên nhân của những hạn chế đó và đề xuất giải pháp để giải quyết vấn
đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.

Giảng viên hướng dẫn: Tiến sĩ Tạ Thị Thanh Huyền
Học viên thực hiện: Hoàng Vũ Chính
Lớp cao học kinh tế nông nghiệp K12

Thái Nguyên, 2015


Phần I. MỞ ĐẦU
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc. 80% diện tích của
tỉnh là vùng nông thôn. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn bộ mặt vùng nông thôn đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên trong quá trình phát
triển đó đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các vấn
đề ô nhiễm môi trường chính thường được nhắc đến là: Ô nhiễm do các hoạt động sản
xuất nông nghiệp; Ô nhiễm môi trường nông thôn do rác thải sinh hoạt cùng với quá
trình đô thi hóa; Ô nhiễm môi trường nông thôn do sự hình thành các khu cụm công
nghiệp; Ô nhiễm do sự phát triển các làng nghề... Sản xuất nông nghiệp là nội tại, là
nền tảng của phát triển nông nghiệp nông thôn, đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp các sản phẩm thiết yếu là lương thực, thực phẩm cho con người tồn tại,
cung cấp nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp nông sản cho
xuất khẩu, phát triển sản xuất nông nghiệp giúp tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của
các ngành kinh tế khác. Nông nghiệp có tác dụng giữ gìn bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên môi trường, ở bất cứ nước nào sản xuất nông nghiệp cũng gắn liền với việc
sử dụng, quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một nền nông nghiệp phát triển

Ngoài ra, cả nước còn khoảng 50 tấn thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu tại hàng chục kho
bãi; 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử
lý. Có đến 60-65% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ; hàng chục triệu tấn
chất thải chăn nuôi, 90% khối lượng chất thải rắn chưa được xử lý chủ yếu đổ ra ven
đường làng, bờ kênh, mương mỗi năm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng… Thực
trạng này khiến cho môi trường nông thôn đang phải gánh chịu những bất lợi từ hoạt
động sản xuất nông nghiệp.


Trong lĩnh vực trồng trọt, có tới 80% khối lượng rơm rạ, thân các loài cây lương
thực bị đốt hoặc vứt bỏ ngoài đồng ruộng. Bên cạnh chất thải hữu cơ, nguồn chất thải
rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất cũng khá lớn và ngày càng đáng báo động. Chỉ
tính riêng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), mỗi năm nước ta nhập khẩu 130.000 150.000 tấn. Hiện tượng lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, tùy tiện
không tuân thủ quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly dẫn đến hậu quả:
ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Với tỷ lệ vỏ bao bì 15% thì hàng
năm thải ra môi trường 19.000 tấn bao bì, đây là loại rác thải nguy hại, nhưng hầu hết
không được xử lý do việc thu gom và gửi đi xử lý không thuận tiện.
2. Ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi
Chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất trong sản
xuất nông nghiệp, theo đó tổng khối lượng chất thải chăn nuôi khoảng 73 triệu
tấn/năm. Trong khi đó, phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn, vì vậy
việc xử lý và quản lý chất thải chăn nuôi ngày càng khó khăn. Cả nước có 8,5 triệu hộ
chăn nuôi quy mô gia đình, 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung, nhưng mới chỉ có
8,7% số hộ xây dựng công trình khí sinh học (hầm biogas). Tỷ lệ hộ gia đình có
chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm 10% và chỉ 0,6% số hộ có cam kết
bảo vệ môi trường. Vẫn còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải bằng
bất kỳ phương pháp nào mà xả thẳng ra môi trường bên ngoài.
3. Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, tình trạng ô nhiễm môi trường cũng rất đáng lo
ngại. Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản,
nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của vật tư sử dụng như

thực tế, phát triển các công nghệ xử lý chất thải nông nghiệp cũng cần được quan tâm.
Các địa phương cũng cần chủ động nguồn ngân sách cho công tác này, đồng thời có
cơ chế chính sách để toàn xã hội có thể tham gia giải quyết vấn đề môi trường. Thực tế
cũng đã có nhiều địa phương giải quyết được vấn đề môi trường từ cơ chế xã hội hóa
công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, việc quy định cụ thể trách nhiệm, trong đó
có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trách nhiệm phục hồi môi trường trong trường


hợp các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp gây ô nhiễm, làm thiệt hại tới môi
trường cũng rất quan trọng. Nếu thực hiện được đồng bộ các nhóm giải pháp này thì
môi trường nông nghiệp nông thôn mới sớm được cải thiện, nền nông nghiệp mới có
thể phát triển theo hướng bền vững và người nông dân mới đảm bảo sức khỏe và yên
tâm làm việc, sinh sống.
II. Thực trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái
Nguyên
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên được quan tâm
chỉ đạo phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá bền vững, góp phần nâng cao đời
sống cho nông dân. Tuy nhiên, việc lạm dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật (BVTV) và các chất kích thích sinh trưởng để tăng năng suất, sản lượng cây
trồng; việc xử lý các chất thải trong chăn nuôi và nước thải trong nuôi trồng thủy
sản chưa triệt để đã và đang làm gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
xấu tới sức khỏe cộng đồng cũng như sự phát triển bền vững của ngành.
1. Trồng trọt:
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 giá trị sản xuất trồng trọt đạt trên 50 triệu
đồng/ha canh tác; cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt 33-34%, chăn nuôi chiếm
46-47%, lâm nghiệp 6-7%, thủy sản 7,5-8%, dịch vụ nông-lâm-thủy sản 6,5-7% và
từng bước hình thành các vùng sản xuất nông-lâm-sản hàng hóa tập trung gắn với
công nghiệp chế biến và tiêu thụ như vùng cây ăn quả đặc sản, vùng chè, vùng rau
sạch, vùng lúa thâm canh…, các vùng sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn
tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục bị sức ép từ chất thải và dư lượng phân bón, hoá chất bảo

còn đa phần là đốt trực tiếp ngoài ruộng vừa gây lãng phí chất hữu cơ, vừa gây khói
bụi mù mịt làm ảnh hưởng đến sức khỏe nông dân như gây các bệnh đường hô hấp,
phổi, phát thải khí nhà kính khi rơm rạ bị phân hủy trong điều kiện ngập nước, làm


nghẹt rễ, giảm năng suất lúa, lãng phí nguồn chất thải hữu cơ cho canh tác nông
nghiệp.
- Trong các năm từ năm 2011 đến nay, Tỉnh đã quan tâm đầu tư hỗ trợ trong
sản xuất trồng trọt theo hướng phát triển bền vững: Hỗ trợ xây dựng mô hình; hỗ
trợ công tác đào tạo, tập huấn hộ nông dân và cán bộ cơ sở về sản xuất sản xuất rau,
chè, quả an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, UTZ; mô hình canh tác giảm phát thải
khí nhà kính như mô hình sử dụng phân nén dúi sâu cho lúa; mô hình áp dụng biện
pháp canh tác lúa cải tiến (SRI); mô hình canh tác sử dụng phân hữu cơ, ...
- Trên diện tích sản xuất rau, chè, quả an toàn người sản xuất đã xây dựng bể
thu gom bao bì thuốc BVTV, tuy nhiên việc tiêu hủy vỏ bao bì thuốc BVTV chưa
đảm bảo do người dân tự tiêu hủy. Năm 2015 Tỉnh hỗ trợ ngân sách để tiêu hủy 1,1
tấn vỏ bao bì thuốc BVTV.
2. Chăn nuôi:
- Hiện nay, số lượng trang trại chăn nuôi của tỉnh Thái Nguyên là 548 trang
trại. Tổng đàn số lượng đàn trâu gần 70.000 con; đàn bò 36.500 con, bằng; đàn lợn
600.000 con; đàn gia cầm 10 triệu con. Cùng với việc phát triển chăn nuôi hiện nay
thì hiện trạng ô nhiễm do chăn nuôi gây ra ngày một gia tăng.
- UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chăn nuôi; Quyết định quy định về quản
lý môi trường chăn nuôi; quy định về điều kiện vận chuyển, giết mổ, kinh doanh
động vật và sản phẩm động vật; quy định điều kiện kinh doanh, sử dụng hóa chất
bảo vệ thực vật; chủ trì thực hiện các dự án về bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển
rừng, ...
- Trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay hầu hết các trang trại, gia trại xây dựng hầm
khí Biogas, sử dụng các chế phẩm sinh học để tiệt trùng, hạn chế sự lây lan của
virus, vi trùng gây hại. Hiện tại toàn tỉnh có khoảng 16.500 công trình Biogas, công

- Nghiên cứu ứng dụng mô hình xử lý chất thải chăn nuôi sau hệ thống
biogas nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong các cơ sở chăn nuôi,


quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường;
xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình; thu gom xử lý vỏ bao bì đựng hóa chất bảo
vệ thực vật; xử lý chất thải của các làng nghề.
- Cải tạo, nâng cấp, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn:
xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong xóm, làng, thị trấn; xây
dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã nông thôn mới.
- Cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh
ở các công trình công cộng.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức môi
trường. Trong đó, tập trung xây dựng các nội dung tuyên truyền phù hợp với từng
đối tượng, mục đích tuyên truyền; xây dựng được mạng lưới các tuyên truyền viên
bảo vệ môi trường ở các cấp hội của các tổ chức chính trị - xã hội.
- Xây dựng và cụ thể hoá các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật bảo vệ
môi trường của nhà nước phù hợp với điều kiện của tỉnh.
- Xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật nhằm huy
động các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường, xây dựng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ
môi trường, khuyến khích và thúc đẩy xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
- Xây dựng và ban hành quy chế phối hợp bảo vệ môi trường giữa các ngành
liên quan với ngành tài nguyên và môi trường.
- Nâng cao năng lực quản lý môi trường đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm
vụ; đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường; bố trí và quản lý sử dụng
nguồn kinh phí đúng mục đích; đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho công tác bảo vệ
môi trường; nghiên cứu ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường; đẩy
mạnh hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường:
- Tăng cường biên chế cán bộ quản lý tài nguyên và môi trường, trong đó bố
trí cán bộ chuyên trách quản lý tài nguyên khoáng sản, nước và môi trường ở cấp xã,



trường trước khi chính thức đi vào hoạt động sau khi báo cáo đánh giá tác động
môi trường được phê duyệt.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng mục đích và đúng kỹ thuật sẽ mang lại
hiệu quả tốt trong quản lý dịch hại cây trồng, bảo vệ nông sản.
Vì vậy, khi sử dụng thuốc cần phải có kiến thức nhất định để ngăn ngừa hoặc hạn
chế tác hại của thuốc có thể gây nên đối với chính bản thân người sản xuất, người
tiêu dùng, cây trồng, vật nuôi và môi trường sống, đồng thời phát huy những mặt
tích cực của nó. Gieo trồng các giống cây kháng sâu bệnh, bảo đảm yêu cầu phân
bón và nước thích hợp, tận dụng các biện pháp thủ công, Trong điều kiện áp lực
dịch hại cây trồng ngày càng phức tạp, định hướng phát triển ngành nông nghiệp
(năng suất, chất lượng, an toàn, hiệu quả và thân thiện với môi trường) thì việc
quản lý dịch hại cây trồng phải tổng hợp bằng nhiều biện pháp.
- Tổ chức tập huấn cho cán bộ kỹ thuật, dự báo viên BVTV ở cấp cơ sở về sử
dụng thuốc BVTV, quản lý dịch hại tổng hợp trên lúa và rau màu. Đẩy mạnh tuyên
truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng đúng thuốc BVTV trong danh mục cho phép
và thu gom, xử lý đúng cách bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng; xây dựng những
mô hình trình diễn về sử dụng thuốc BVTV góp phần nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của nông dân trong sản xuất theo hướng nông nghiệp sinh thái bền vững,
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới các xã NTM
phải xây dựng mô hình thu gom rác thải sinh hoạt gắn với thu gom bao bì các loại
thuốc BVTV đã sử dụng, từng bước khắc phục thói quen xả thải phế phẩm nông
nghiệp bừa bãi.
- Để ngăn chặn, hạn chế việc đốt rơm, rạ sau thu hoạch, một số mô hình
được nghiên cứu và triển khai như: sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm, rạ, phụ
phẩm ngay tại ruộng để trả lại lượng mùn, chất hữu cơ cho đất; mô hình trồng
khoai


giảm ô nhiễm, nâng cao hiệu quả chăn nuôi; phổ biến rộng rãi việc sử dụng chế
phẩm sinh học xử lý chất thải chăn nuôi để giảm mùi hôi thối, diệt khuẩn có hại và
tăng khả năng phòng chống dịch bệnh cho động vật
- Trong lĩnh vực thủy sản, Sở NN và PTNT tăng cường quản lý thức ăn, hóa
chất, thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi trồng thủy sản;
hướng dẫn nông dân thực hiện nghiêm túc quy trình nuôi, nhất là quy trình chuẩn bị
ao nuôi.. Hiện nay, nhiều mô hình trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản
theo quy trình VietGAP đã được nhân rộng.
Triển khai các kế hoạch, chương trình, đề án quy trình canh tác bền vững
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp như: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng
theo hướng bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu (thay thế một phần
diện tích đất lúa nước không ổn định bằng những cây trồng có nhu cầu nước thấp
hơn và cho hiệu quả kinh tế cao hơn như ngô, lạc...). Các chương trình thâm canh
lúa cải tiến (SRI); “ 3 giảm 3 tăng” và “1 phải 6 giảm” mang lại hiệu quả bảo vệ
môi trường như tiết kiệm nước, giảm sử dụng phân bón và thuốc BVTV; Các biện
pháp tăng cường kiểm soát việc sử dụng hóa chất trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp; sản xuất nông nghiệp theo hướng Viet GAP, khuyến khích các mô hình sản
xuất nông nghiệp hữu cơ nhằm hạn chế, sử dụng hợp lý phân bón hóa học, thúc đẩy
việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp.
IV. Định hướng công tác bảo vệ môi trường, giải pháp thực hiện giai
đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên


- Tuyên truyền, vận dụng, cả hệ thống chính trị vào cuộc: Tăng cường tuyên
truyền giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực của
ngành cho cán bộ quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp, và người dân.
- Quy hoạch vùng sản xuất, chế biến tập trung, đầu tư hạ tầng đồng bộ từ sản
xuất đến sơ chế, chế biến bảo quản.
- Giải pháp về ứng dụng KHCN trong sản, chế biến giảm ô nhiễm môi
trường nghiệp, nông thôn.

quyền, các tổ chức đoàn thể cũng như ý thức bản thân người nông dân để đạt được
mục tiêu phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên theo hướng nâng cao giá
trị gia tăng và phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, hoàn thành “Tiêu chí
môi trường” trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status