công cuộc cải cách trong triều đại quang trung thành tựu và hạn chế - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM LỊCH SỬ

Luận văn tốt nghiệp sư phạm Lịch Sử K35

ĐỀ TÀI:
CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TRONG TRIỀU ĐẠI
QUANG TRUNG: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ

GVHD: Ths. Khoa Năng Lập

SVTH: Lê Minh Đủ
MSSV: 6095928

Cần Thơ, 5/2013


Lời cảm ơn
Khoảng thời gian của 4 năm Đại học sao mà trôi qua nhanh quá. Mới
ngày nào còn là một cậu học sinh phổ thông bở ngỡ và xa lạ với môi trường
Đại học, phải khó khăn lắm mới tìm được tài liệu cho những học phần đầu
tiên, thế mà giờ đây đã sắp ra trường, sắp kết thúc quãng đời sinh viên với
bao kỉ niệm vui, buồn bên lớp, bạn bè và Thầy Cô. Đúng là thời gian thật vô
tình, nó trôi qua là đi mãi không bao giờ đợi chờ một người nào cả, khiến
chúng ta phải suy nghĩ lại những tháng ngày đã qua. Trong 4 năm học tập tại
Trường Đại Học Cần Thơ, mặc dù chưa phải là khoảng thời gian dài để tôi
có thể trưởng thành, nhưng đó cũng là khoảng thời gian đã giúp tôi có những
bước đi vừng vàng và chững chạc hơn.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô của trường, của
Khoa, và đặc biệt là Bộ môn sư phạm Lịch Sử, những người đã giảng dạy và

..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................
..........................................................................................................................


Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 5
5. Bố cục luận văn ................................................................................. 5
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVIII VÀ SỰ THÀNH
LẬP VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN ........................................................... 7
1.1. Sự khủng hoảng và suy vong của chế độ phong kiến trong phạm
vi cả nước ........................................................................................... 7
1.2. Quá trình thành lập vương triều Tây Sơn ...................................13
CHƯƠNG 2. CÔNG CUỘC CẢI CÁCH CỦA TRIỀU ĐẠI QUANG
TRUNG ..................................................................................................29
2.1. Xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền ................................29
2.2. Khôi phục và phát triển kinh tế ..................................................34
2.3. Nâng cao và phát triển văn hoá giáo dục ...................................40
CHƯƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG
CUỘC CẢI CÁCH CỦA TRIỀU ĐẠI QUANG TRUNG ......................48

khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất,
Lê Duy Mật, Lý Văn Quang,… đã gây nhiều khó khăn cho các chính quyền
đương thời. Mặc dù, các phong trào nông dân trong giai đoạn này đều bị dập
tắt, nhưng nó đã tạo điều kiện và mở đường cho phong trào nông dân rộng
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 1


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

lớn sau này. Đặc biệt là phong trào nông dân Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn
Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Xuất phát từ thành phần nông dân,
nên trong quá trình khởi nghĩa, phong trào Tây Sơn đã đưa ra những khẩu
hiệu phù hợp lòng người như “lấy của người giàu chia cho người nghèo”,
“đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan ủng hộ hoàng tôn Phúc Dương”,
hay “phù Lê diệt Trịnh”,… Chính vì vậy, phong trào vừa cô lập được kẻ thù,
lại vừa tập hợp và nhận được sự ủng hộ của nhiều tầng lớp nhân dân trong
xã hội. Với mục đích đấu tranh ban đầu là đánh đổ các chính quyền phong
kiến thối nát đương thời giành lấy cơm áo, ruộng đất cho giai cấp mình,
phong trào ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong công cuộc đấu
tranh bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Phong trào Tây Sơn không
chỉ có công trong việc xóa bỏ ranh giới sông Gianh, chia đôi đất nước hàng
mấy thế kỉ, không chỉ đặt nền tảng cơ bản cho việc thống nhất quốc gia dân
tộc, mà còn lãnh đạo nhân dân đấu tranh, đánh đuổi kẻ thù xâm lược, bảo vệ
toàn vẹn lãnh thổ cha ông để lại trước âm mưu “cõng rắn cắn gà nhà” của
các chính quyền phong kiến đương thời và dã tâm xâm lược, cướp nước ta
của các thế lực bên ngoài.

người dân Việt Nam, và đó là thời kì của những trang sử vẻ vang và hào
hùng của dân tộc. Điều đó đã cuốn hút tôi đi vào tìm hiểu và góp phần nhỏ
kiến thức của mình, để có thể phần nào nói lên được những nguyên nhân đưa
đến sự thành công, cũng như nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của những
chính sách cải cách của Quang Trung. Từ đó, người viết đã chọn đề tài
“Công cuộc cải cách trong triều đại Quang Trung: Thành tựu và hạn
chế” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vương triều Tây Sơn, cùng với người anh hùng áo vải Quang Trung –
Nguyễn Huệ, là một đề tài nghiên cứu rất sâu rộng, đã được nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, và đã cho xuất
bản nhiều tác phẩm rất nổi tiếng và có giá trị. Vì vậy, với nguồn tài liệu
phong phú và đa dạng, nên trong quá trình thực hiện đề tài “Công cuộc cải
cách trong triều đại Quang Trung: Thành tựu và hạn chế” người viết đã
gặp nhiều thuận lợi trong việc tìm kiếm tài liệu. Tuy nhiên, việc thừa tài liệu
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 3


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

cũng khiến người viết ít nhiều cũng bị chi phối trong cách viết của mình.
Mặc khác, người viết cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thu nhặt những tài
liệu có liên quan, vì viết về những chính sách cải cách của Quang Trung
không được nhiều tài liệu đề cập đến. Do đó, để thực hiện đề tài của mình,
người viết đã tìm hiểu và trích dẫn một số nguồn tài liệu như sau:
Quyển Tìm hiểu thêm về phong trào nông dân Tây Sơn của giáo sư

dịch của nghĩa quân Tây Sơn, cùng với tài năng quân sự của người anh hùng
áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Vì đây là một đề tài nghiên cứu sâu rộng
trong và ngoài nước nên trong đề tài nghiên cứu của mình, người viết chủ
yếu tìm hiểu về công cuộc cải cách, chấn hưng đất nước của vua Quang
Trung, với việc ban hành và thực hiện những chính sách tiến bộ, nhằm khôi
phục nền kinh tế nước nhà sau thời kì khủng hoảng kéo dài. Từ đó, người
viết đưa ra những mặt tích cực, tiến bộ, cũng như những hạn chế trong
những chính sách cải cách của vua Quang Trung.
Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tìm hiểu về thời gian thực hiện
những chính sách cải cách của triều đại Tây Sơn từ khi vua Quang Trung lên
ngôi hoàng đế, và đến khi vua Quang Trung đột ngột qua đời, tức là trong
giai đoạn từ năm 1788 đến năm 1792.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài của mình, ngoài hai phương pháp nghiên cứu chính là
phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử, thì người viết còn sử dụng một
số phương pháp khác như phân tịch, liệt kê, tổng hợp, so sánh,… để bài
nghiên cứu của mình được mạch lạc và rõ ràng hơn.
5. Bố cục luận văn
Người viết chia nội dung đề tài của mình làm 3 chương:
Chương 1: Trình bày khái quát về bối cảnh đất nước Đại Việt trước
khi vương triều Tây Sơn thành lập, cùng với quá trình khởi nghĩa của anh

SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 5


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

nửa thế kỉ, các chúa Trịnh cho tiến hành một số chính sách nhằm cứu vãn
nguy cơ ngày càng suy thoái của chế độ phong kiến. Những chính sách của
họ Trịnh mặc dù cũng có được những tiến bộ nhất định, nhưng những mâu
thuẫn về kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ đã quá gay gắt, đã làm cho chế
độ phong kiến Đàng Ngoài càng trở nên khủng hoảng và nghiêm trọng hơn.
Giai cấp thống trị từ vua – chúa, quan lại cho đến bọn cường hào, địa chủ
ngày càng lao sâu vào con đường ăn chơi sa đọa, thoái nát đến cùng cực.
Chúng ra sức bóc lột nhân dân bằng các thứ thuế nặng nề, phiền nhiễu, làm
cho “không khí chính trị từ trong cung vua, phủ chúa đến ngoài dân gian
ngày càng ngột ngạt và xáo động”[1].
Năm 1767, Trịnh Doanh chết, con là Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa.
Trịnh Sâm là người hoang dâm vô đạo, tàn bạo, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc
và tìm mọi cách bóc lột nhân dân hà khắc hơn. Cuối năm đó, em ruột của
Trịnh Sâm là Trịnh Đệ, âm mưu lật đổ Trịnh Sâm cướp ngôi chúa, nhưng sự
việc bị lộ, Trịnh Đệ bị Trịnh Sâm bắt tống vào ngục. Năm 1769, Trịnh Sâm
mưu lật đổ thái tử Duy Kỳ, con vua Lê Hiển Tông, người có ý định khôi
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 7


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

phục lại quyền lực và địa vị cho nhà Lê. Là người ham mê tửu sắc, nên
Trịnh Sâm say mê cung phi Đặng Thị Huệ. Vì vậy, Trịnh Sâm đã phế truất
ngôi thế tử của con trưởng là Trịnh Khải, lập con của Đặng Thị Huệ là Trịnh
Cán, khi đó mới 2 tuổi lên ngôi thế tử, gây nên nhiều mâu thuẫn giữa các
phe cánh trong phủ chúa. Bên cạnh đó, việc Quận công Hoàng Đình Bảo,


hương đi phiêu tán, tha phương cầu thực ngày càng nhiều và kéo dài mãi cho
đến cuối thế kỉ XVIII. Theo Ngô Thời Sĩ, “trong số 9668 làng xã ở đồng
bằng Bắc Bộ thì có đến 182 làng xã phiêu tán hoàn toàn, 443 làng xã phiêu
tán phần lớn, 373 làng xã phiêu tán nhập vào các xã khác, 78 làng xã nghèo
túng cùng quẫn không nộp đủ thuế cho nhà nước”[3]. Bọn vua chúa, quan lại,
cường hào ngày càng chiếm đoạt nhiều của cải, thì ngay lúc đó, nhân dân
phải sống trong cảnh không có gạo ăn, “giá lúa cao vọt, một bát gạo nhỏ giá
đến một tiền, chết đói đầy đường”[4]. Nhiều nơi, người dân “phải ăn rau cỏ
để sống, nấu củ nâu để ăn nhưng cũng không sống nổi, dắt díu nhau đi đầy
đường, thây chết đói chồng chất”[5] lên nhau.
Chính vì thế, phong trào nông dân sau một thời gian lắng dịu, lại tiếp
tục bùng nổ mạnh mẽ hơn nữa. Do không còn con đường nào có thể tồn tại
dưới sự cai trị hà khắc của bọn vua chúa, tham quan ô lại nên người dân chỉ
còn con đường là vùng dậy đấu tranh, giành lấy quyền sống cho mình. Từ
những vùng đồng bằng ven biển đến các địa phương miền núi, nhân dân nổi
dậy chống lại chính quyền họ Trịnh ngày càng nhiều, làm cho phủ chúa phải
đối phó rất khó khăn và tốn kém. Đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa của nông
dân ở An Quảng, Thái Bình hay của các tù trưởng dân tộc ít người miền
núi,…vào các năm 1778, 1779, 1785,…càng làm cho chính quyền họ Trịnh
suy yếu trầm trọng hơn.
Những cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân Đàng Ngoài vào nửa
cuối thế kỉ XVIII tuy tất cả đều bị thất bại, nhưng đã làm cho chính quyền
phong kiến vua Lê – chúa Trịnh lung lay đến tận gốc, tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho phong trào nông dân Tây Sơn giành thắng lợi sau này.

SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 9


Trong giai đoạn cuối sự cai trị của họ Nguyễn, quyền lực của vị chúa
Nguyễn Phúc Thuần ngày càng rơi vào tay của quyền thần Trương Phúc
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 10


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

Loan. Trương Phúc Loan tự phong cho mình làm Quốc phó và tỏ ra tham
lam, sa đoạ đến cùng cực. Trương Phúc Loan là kẻ tham tàn, chỉ biết vơ quét
và bòn rút của cải trong nhân dân, tham ô của công, ăn nhận hối lộ, không
việc gì mà không làm, việc mua quan bán tước diễn ra ngày càng nhiều. Vì
thế trong nhà Trương Phúc Loan “vàng bạc, châu báo, gấm vóc,…chứa đầy
nhà; nô bộc, trâu ngựa không biết bao nhiêu mà kể”[10]. Một lần bị nước lụt,
Trương Phúc Loan đem vàng bạc ra phơi nắng “sáng chói cả một góc
sân”[11].
Tầng lớp bên trên ăn chơi hoang phí bao nhiêu, thì tầng lớp quan lại
bên dưới cũng đua đòi hoang phí bấy nhiêu. Trong nửa cuối thế kỉ XVIII, hệ
thống quan lại cồng kềnh của họ Nguyễn trở thành bộ máy ăn bám, thối nát,
đè nặng lên đời sống quằn quại, thống khổ của nhân dân đương thời.
Bên cạnh đời sống sa hoa, trụy lạc của tầng lớp thống trị thì tình trạng
chiếm đoạt ruộng đất của nông dân cũng diễn ra mạnh mẽ. Bọn tham quan ô
lại tăng cường chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân, chúng dùng uy quyền
trong tay để chiếm đoạt thành quả lao động khẩn hoang của người dân, hoặc
cướp đoạt ruộng công làng xã để làm ruộng tư. Bọn cường hào, địa chủ
Đàng Trong cũng dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt, xâm chiếm ruộng đất
của dân, chúng thường lấy cớ dân làng xã thường phải bù tô thuế thiếu cho

chính sách thuế khoá nói trên, các chúa Nguyễn đã lập ra một hệ thống quan
thu thuế rất cồng kềnh, gọi là Bản đường quan, đã gây ra không ít phiền hà
trong nhân dân, khiến cho đời sống nhân dân càng khốn khổ hơn. Trước tình
hình đó, Nguyễn Cư Trinh đã gửi lên chúa Nguyễn bài sớ với nội dung:
“Thần trộm nghĩ, hiện nay tình trạng của nhân gian đã khốn lắm rồi, nếu cứ
điềm nhiên như không biết theo thời châm chước, thêm bớt, lập lại kỉ cương
thì trong một xã, một ấp còn cai trị không nổi, huống chi là một phủ, một
xứ”[12]. Nạn thuế khoá nặng nề, đã đẩy nhân dân từ miền xuôi cho đến miền
ngược vào cảnh điêu đứng, cùng kiệt. Đến cuối thế kỉ XVIII, mâu thuẫn xã
hội Đàng Trong đã hết sức gay gắt, chế độ phong kiến đã suy vong trầm
trọng, vì thế mà nhiều phong trào nông đã nổ ra và phát triển mạnh mẽ để
chống lại chính quyền chúa Nguyễn.
Từ những năm 70 của thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến trong phạm vi
cả nước đã rơi vào tình trạng khủng hoảng hết sức trầm trọng và gay gắt.
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 12


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân
dân khác trong xã hội đã trở nên rất quyết liệt. Đó chính là những tiền đề của
một phong trào nông dân rộng lớn chưa từng có trong phạm vi cả nước:
“phong trào nông dân Tây Sơn”.
1.2. Quá trình thành lập vương triều Tây Sơn
1.2.1. Tây Sơn khởi nghĩa
Tây Sơn là vùng đất thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng

quân đã nhận được sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong xã hội và cô
lập được tập đoàn phong kiến Trương Phúc Loan. Nhiều hào mục và các thổ
hào ở địa phương đã nổi dậy ủng hộ phong trào Tây Sơn, tham gia chiến đấu
cùng nghĩa quân, bỏ tiền bạc ra giúp đỡ cuộc khởi nghĩa như Huyền Khê
vốn là một nhà giàu, Nguyễn Thông vốn là một thổ hào. Tiếp theo, Nguyễn
Nhạc lại nêu lên khẩu hiệu “Lấy của người giàu chia cho người nghèo”[14],
và trong suốt quá trình khởi nghĩa, nghĩa quân Tây Sơn đã hành động đúng
như vậy, nên nghĩa quân đi đến đâu dân nghèo theo đến đó. Chính vì vậy,
nghĩa quân đã nhanh chóng tập hợp được lực lượng đông đảo các tầng lớp
nghèo khổ lúc bấy giờ. Ngoài ra, trong hàng ngũ nghĩa quân còn có một lực
lượng đáng kể nhân dân các dân tộc ít người. Thủ lĩnh của họ thậm chí cả nữ
chúa Chăm là Thị Hoả, một số thương nhân Hoa kiều đứng đầu là Tập Đình
và Lý Tài cũng đi theo nghĩa quân chiến đấu hăng hái.
Từ căn cứ Tây Sơn, nghĩa quân tỏa ra các địa phương, làng xã trừng
trị bọn xã trưởng, bọn quan thu thuế, đốt các sổ sách về thuế khoá ruộng đất,
tuyên bố bãi bỏ các thứ thuế. Của cải thu được của bọn quan lại, địa chủ,
cường hào đem chia hết cho dân nghèo khổ. Họ chỉ giữ lại gạo và đồ ăn, nên
nghĩa quân được xem như là “giặc nhân đức với người nghèo”[15]. Bấy giờ
vùng Thuận Hoá đang trong tình trạng đói kém, nên cuộc khởi nghĩa của anh
em nhà Tây Sơn có điều kiện thu được thắng lợi nhanh chóng. Khởi nghĩa
Tây Sơn bùng nổ giữa lúc nhân dân Đàng Trong đang nghẹt thở dưới ách
thống trị của chính quyền họ Nguyễn, và các thủ lĩnh Tây Sơn lại khéo đưa
ra các khẩu hiệu và sách lược phù hợp với lòng dân, nên đã thu hút được sự
tham gia của nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội về với nghĩa quân.

SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 14



Nhơn, Phú Yên mà nghĩa quân đang kiểm soát cho quân Trịnh và xin làm
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 15


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

tướng tiên phong đánh quân Nguyễn. Dù biết đây chỉ là kế hoãn binh của
Nguyễn Nhạc, nhưng do lực lượng quân Trịnh đang mỏi mệt và đang gặp
bệnh dịch trong quân trại, nên Hoàng Ngũ Phúc đành chấp nhận và phong
cho Nguyễn Nhạc làm tráng tiết tướng quân Tây Sơn hiệu trưởng.
Tạm yên mặt Bắc, nghĩa quân Tây Sơn tập trung lực lượng để đối phó
với quân Nguyễn ở phía Nam. Nguyễn Nhạc dùng mưu giả vờ liên kết với
Tống Phước Hiệp, phò tá hoàng tôn Phúc Dương lên ngôi vua. Tống Phước
Hiệp tin là thật xao lãng việc phòng bị, lợi dụng cơ hội đó Nguyễn Nhạc cử
Nguyễn Huệ thống lĩnh đại quân đánh úp Phú Xuân. Đó là chiến thắng đầu
tiên của Nguyễn Huệ khi chỉ mới 23 tuổi, sau Nguyễn Huệ được Hoàng Ngũ
Phúc phong làm “Tây Sơn hiệu tiên phong tướng quân”. Đến năm 1776,
Nhạc cử Lữ đem quân đánh vào Gia Định, quân chúa Nguyễn phải bỏ Gia
Định chạy lên Trấn Biên, sau khi Nguyễn Lữ rút quân về Quy Nhơn, quân
Nguyễn do Đỗ Thanh Nhơn chỉ huy chiếm lại Gia Định, nhưng quân
Nguyễn phải bỏ các dinh phủ từ Diên Khánh đến Bình Thuận. Với những
thắng lợi đã giành được thì đến năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng Tây Sơn
vương, phong cho Nguyễn Huệ làm phụ chính và Nguyễn Lữ làm thiếu phó,
xây dựng thành Đồ Bàn làm thủ phủ, sau đổi lại thành thành Hoàng Đế. Tiếp
đến, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem đại quân tiến đánh
quân Nguyễn ở Gia Định. Quân Tây Sơn đánh bại quân Nguyễn, bắt và giết

hữu đô đốc, Vũ Văn Nhậm làm tả đô đốc. Quân Tây Sơn chia làm hai cánh
thuỷ bộ tiến đánh Phú Xuân. Nguyễn Hữu Chỉnh đã có nhiều đóng góp cho
nghĩa quân Tây Sơn trong việc chiếm được thành Phú Xuân.
Để lấy lại Phú Xuân từ tay quân Trịnh, trước tiên Nguyễn Huệ đã
đánh vào sự bạc nhược, yếu kém và lo cầu an của bọn tướng lĩnh Trịnh
chiếm đóng Phú Xuân. Biết Phạm Ngô Cầu là một kẻ nhu nhược lại mê tín,
Nguyễn Huệ đã cho một thuật sĩ đem những chuyện họa phúc, tướng số mê
hoặc Phạm Ngô Cầu. Phạm Ngô Cầu tưởng thật nên cho xây đền cúng tế
trong 7 ngày liền, bắt quân lính phục vụ mỏi mệt. Bên cạnh đó, Nguyễn Huệ
còn dùng kế li gián giữa Phạm Ngô Cầu và phó tướng Hoàng Đình Thể, làm
cho Phạm Ngô Cầu nghi ngờ Hoàng Đình Thể phản bội, đầu hàng Tây Sơn,
nên Phạm Ngô Cầu mưu tính trước việc đầu hàng khi mà Tây Sơn kéo đến.
Khi quân Tây Sơn kéo đến thành Phú Xuân, ba cha con Hoàng Đình Thể ra
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 17


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

chiến đấu rất hăng hái, nhưng đến khi hết đạn thì Phạm Ngô Cầu cho đóng
cửa thành và không chịu tiếp tế. Hoàng Đình Thể uất giận lao vào trận chiến
đấu và cuối cùng ba cha con Hoàng Đình Thể đều bị tử trận, còn Phạm Ngô
Cầu thì kéo cờ trắng đầu hàng Tây Sơn. Nhân trên đà thắng lợi, Nguyễn Huệ
cho quân tiến ra đánh chiếm các đồn Cát Danh, Đông Hải. Thế là chỉ trong
vòng mấy ngày, những vùng đất từ Phú Xuân cho đến sông Gianh đều lọt
vào tay của nghĩa quân Tây Sơn, một mặt Huệ cho người báo tin thắng trận
về Quy Nhơn, mặt khác ra lệnh cho các tướng sĩ chuẩn bị sửa sang thành luỹ

Huệ, cắt đất Nghệ An nhường cho Tây Sơn làm lễ khao quân.
Được tin thắng trận, đầu tháng 9 năm 1786, Nguyễn Nhạc vội ra
Thăng Long và ở lại mấy ngày để ăn mừng chiến thắng. Sau đó, hai anh em
rút về Nam, để lại Nguyễn Hữu Chỉnh ở Bắc. Nguyễn Hữu Chỉnh nghe tin
vội chạy theo Tây Sơn về đến Nghệ An. Nguyễn Huệ phong cho Nguyễn
Văn Duệ làm trấn thủ Nghệ An, Vũ Văn Nhậm đóng tại Động Hải, Nguyễn
Huệ cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An giúp Nguyễn Văn Duệ.
Sau khi quân Tây Sơn rút về Nam, tình hình Bắc Hà trở nên rối loạn,
bọn địa chủ ủng hộ cho họ Trịnh ngóc đầu dậy hòng gây lại cái cảnh vua Lê
– chúa Trịnh. Trước tình thế đó, Lê Chiêu Thống (kế vị vua Lê Hiển Tông)
cho người vào Nghệ An nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra trấn áp thế lực
của họ Trịnh. Sau khi đánh bại họ Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh về phủ chúa tự
quyết mọi việc không xem vua Lê ra gì, Nguyễn Hữu Chỉnh còn cho người
vào Nghệ An dùng danh nghĩa vua Lê đòi lại đất Nghệ An. Tin báo về Nam,
tháng 12 năm 1787, Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ra hợp
quân với Vũ Văn Nhậm tiến ra Bắc tiêu diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, quân
Nguyễn Hữu Chỉnh bị đại bại, khiến cho vua Lê phải chạy sang bên Tàu cầu
cứu nhà Thanh vào năm 1788, từ đây nhà Lê bị sụp đổ sau gần 4 thế kỉ tồn
tại. Còn Nguyễn Hữu Chỉnh thì chạy đến Mạc Sơn cũng bị bắt và bị xử tội.
Về phần Vũ Văn Nhậm, sau khi tiêu diệt xong Nguyễn Hữu Chỉnh,
Vũ Văn Nhậm đâm lòng kiêu ngạo, hống hách. Thực hiện mưu đồ chống lại
nhà Tây Sơn, gây dựng riêng cho mình một giang sơn, càng ngày Vũ Văn
Nhậm càng tỏ ra hống hách với kẻ dưới quyền, tự ý lập Lê Duy Cẩn lên làm
giám quốc, thực tế chỉ là bù nhìn, để thực hiện cho mưu đồ của Vũ Văn
Nhậm. Mưu gian của Vũ Văn Nhậm không thể lọt qua mắt của các tướng
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 19



dựng lại lực lượng tiến đánh Tây Sơn chiếm lại Gia Định, nhưng quân
SVTH Lê Minh Đủ - 6095928

Trang 20


GVHD Ths. Khoa Năng Lập

Luận văn tốt nghiệp – SP. Lịch Sử K35

Nguyễn Ánh liên tiếp bị giáng phải những đòn tấn công mạnh mẽ từ quân
Tây Sơn, làm cho ý đồ khôi phục cơ nghiệp họ chúa thêm khó khăn và tuyệt
vọng hơn. Sau lần bị đánh chạy ra tận đảo Phú Quốc và sau là đảo Cổ Long
năm 1783, thấy khó lòng địch lại được với quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã
cùng thuộc tướng Chu Văn Tiếp sang cầu cứu quân Xiêm La. Trước cơ hội
cầu cứu của Nguyễn Ánh và sẵn có dã tâm xâm lược nước ta từ trước, nên
tháng 7 năm 1784, “vua Xiêm cho hai cháu của mình là Chiêu Tăng và
Chiêu Sương đem 20.000 quân thuỷ và 300 chiến thuyền”[17] cùng Nguyễn
Ánh và Chu Văn Tiếp đổ bộ lên Gia Định. Trước đó vua Xiêm đã phái
Chiêu Thuỳ Biên đem 30.000 bộ binh sang đóng ở Chân Lạp, rồi từ đó tiến
xuống phối hợp đánh quân Tây Sơn ở Gia Định.
Cuối tháng 7 năm 1784, thuỷ quân của liên quân Xiêm – Nguyễn đã
đổ bộ lên Kiên Giang và tiến đánh Cần Thơ, chiếm các miền Ba Thắc, Trà
Ôn, Sa Đéc rồi tiến đánh Mang Thít, còn quân bộ của Xiêm tiến đóng tại
Trấn Giang. Quân Tây Sơn do tướng Trương Văn Đa chỉ huy, vì do sự
chênh lệch quá lớn về lực lượng nên chủ trương vừa đánh cầm cự địch và
vừa rút lui, kiềm chân không cho địch tiến sâu hơn, mặt khác, cho người báo
tin về Quy Nhơn. Dù bị tấn công mạnh nhưng quân của Trương Văn Đa vẫn
giữ vững thành Gia Định và Mỹ Tho.
Nhận được tin báo vào, đầu năm 1785, Nguyễn Huệ chỉ huy 2 vạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status