THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY 10 - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân được thành lập để thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục tiêu tối đa hoá, tối đa hoá
giá trị doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp.
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp được phân loại theo nhiều hình
thức. Tuy nhiên trong phạm vi tài chính và các quan hệ tài chính, doanh nghiệp được
phân loại theo hình thức sở hữu. Với cách phân loại này doanh nghiệp được phân loại
thành thành các loại sau:
- Công ty cổ phần
- Công ty TNHH
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Doanh nghiệp liên doanh
Mỗi loại hình doanh nghiệp có các hình thức tài chính quản lý tài chính khác nhau
nhưng nội dung và bản chất của hoạt động tài chính và giá trị tài chính cơ bản là giống
nhau.
1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính là một hệ thống các mối quan hệ tiền tệ nảy sinh trong quá trình phân phối
tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và thực hiện các chức năng quản lý nhà nước
của doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời
của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ. Mức độ phát triển của tài chính trong doanh nghiệp
phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Nền kinh tế tập
trung bao cấp đã sản sinh ra cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp là bao cấp. Nền kinh

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có các vai trò
chủ yếu sau:
- Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có vốn kinh
doanh. Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là xác định đúng đắn nhu
cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tiếp đó phải
lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn để hoạt động của doanh
nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn tối
ưu.
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.
Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát
triển của mọi doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng như việc
đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu, lựa chọn và huy
động vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng
các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn
kinh doanh.
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo sức mua
hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán
hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu
nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ lương, thực hiện các hợp
đồng kinh tế.
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhất
mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu tài chính mà
các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa ra các quyết

1.2.2 Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư ở đây chính là các tổ chức và cá nhân giao vốn cho doanh nghiệp
sử dụng và sẽ chấp nhận chịu chung mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải. Thu nhập của
họ bao gồm: tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư, hai yếu tố chịu ảnh
hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu tư lớn họ thường
dựa vào các nhà chuyên môn, các chuyên gia phân tích tài chính, các nhà nghiên cứu
kinh tế tài chính để phát triển và làm dự báo về triển vọng phát triển của doanh nghiệp,
đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo mức lợi tức mà họ yêu cầu. Đối
với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm của họ
trước hết là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới an
toàn trong đầu tư và mức lợi tức kỳ vọng được phản ánh thông qua điều kiện tài chính
của doanh nghiệp và tình hình hoạt động tài chính. Các nhà đầu tư này quan tâm tới
phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, khả năng tăng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trưởng và phát triển của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải hứng
chịu. Thông qua đó để họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu quả nhất: có nên bỏ
vốn đầu tư vào doanh nghiệp hay không, nếu đầu tư thì với khối lượng bao nhiêu và
trong thời gian bao lâu?
1.2.3 Đối với người cho vay, nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, các cơ quan
quản lý nhà nước, và các đối tượng khác.
Người cho vay là các ngân hàng, các công ty tài chính, tổ chức tín dụng ... họ
phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Khi quyết định
cho vay thì một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực
sự có nhu cầu hay không? khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?
Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, họ phải quyết định xem có
cho phép khách hàng sắp tới được mua trả chậm hàng hóa hay không, họ cần thiết phải
nắm thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại cũng như trong tương
lai ….
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh

hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện
và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của các công ty.
Tóm lại, phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là một công việc có ý
nghĩa quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với
bản thân doanh nghiệp, mà còn cần thiết cho các chủ thể khác có liên quan đến doanh
nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Quy trình phân tích tài chính
Để có được những thông tin đầy đủ chính xác cho người sử dụng thì phân tích tài
chính cần phải tổ chức thực hiện theo một quy trình hoàn thiện với nguồn thông tin đầy
đủ, phương pháp và nội dung phân tích khoa học. Quy trình phân tích tài chính có thể
thực hiện theo 4 bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch phân tích:
- Nội dung phân tích: cần xác định rõ các vấn đề được phân tích: có thể là toàn bộ
hoạt động tài chính hoặc chỉ là một số vấn đề cụ thể nào đó như cơ cấu vốn, khả
năng thanh toán…. Đây là cơ sở để xây dựng đề cương cụ thể để tiến hành phân
tích.
- Phạm vi phân tích: Có thể là toàn đơn vị hoặc một số đơn vị được chọn làm điểm
để phân tích, tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội dung và phạm vi
phân tích thích hợp.
- Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị và thời
gian tiến hành công tác phân tích.
- Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm cho các bộ phận trực tiếp
thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích, cũng như các hình thức hội
nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực trạng và phát hiện
đầy đủ tiềm năng giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh.
Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin:
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông

trị của những người làm việc tại doanh nghiệp. Đặc biệt doanh nghiệp
nhỏ càng phụ thuộc vào những người làm việc tại doanh nghiệp.
* Chủ doanh nghiệp: Cần tìm kiếm thông tin về phương diện cá
nhân như tuổi, tình hình gia đình, nguồn gốc đào tạo, trách nhiệm,
nhân cách đạo đức, thái độ …. Về người thừa kế như khung cán bộ hay
sự hình thành ê kíp lãnh đạo, việc tuyển lựa đề bạt. Về nhân viên như
kết cấu lao động, trình độ lành nghề, bầu không khí tập thể, việc thay
thế nhân viên….
* Mục tiêu của nhà lãnh đạo: Mục tiêu tăng trưởng mạnh doanh thu
sẽ kéo theo tăng chi phí quảng cáo, tăng phải thu do tăng điều kiện ưu
đãi để khuyến khích bán hang, tăng lượng hàng tồn kho để đáp ứng các
đơn đặt hàng lớn….
* Sản phẩm của doanh nghiệp: Mặt hàng, chất lượng, vị trí của sản
phẩm trên thị trường, mức độ đa dạng hóa sản phẩm trong doanh
nghiệp, chu kỳ sống của sản phẩm đó.
* Thị trường của các sản phẩm trong doanh nghiệp mang tính chất
quốc tế hay nội địa, thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh cũng như
tính ổn định của thị trường….
* Chính sách của doanh nghiệp để tăng cường và bảo vệ vị trí của
mình: Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa, chính sách bán hàng, chính
sách giá cả, chính sách khách hàng, chính sách quảng cáo…..
Chất lượng công tác phân tích phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các thông tin
thu thập được. Bởi vậy, trước khi phân tích, nhà phân tích phải kiểm tra tính hợp pháp
của tài liệu chứa đựng thông tin (trình tự lập, ban hành, người lập, cấp thẩm quyền phê
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
duyệt…. ) cũng như độ tin cậy của nguồn thông tin thu thập được: tính nhất trí của cùng
một thông tin kế toán trên các tài liệu khác nhau, tính trung thực hợp lý của các thông tin
kế toán….
Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân tích

- Phần tài sản: Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu ở phần TS phản ánh số TS
hiện có của DN ở thời điểm lập báo cáo, còn xét về mặt pháp lý, nó phản ánh vốn
thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý lâu dài của DN.
- Phần nguồn vốn: Xét về mặt kinh tế, các chỉ tiêu thuộc phần NV phản ánh
các nguồn hình thành nên các TS của DN, còn xét về phương diện pháp lý, các chỉ
tiêu này phản ánh trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các đối tượng đầu
tư vốn ( nhà nước, ngân hàng, cổ đông) cũng như với khách hàng thông qua công nợ
phải trả.
Nhìn vào bảng cân đối kế toán có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy
mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
1.3.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh (profit and loss statement)
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh toàn bộ kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và những nghĩa vụ mà
doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể
kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ,
so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để nhân biết
khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động, nhằm
đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp.
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán đã qua.
1.3.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng
lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Nếu BCĐKT cho biết những nguồn lực, của cải (tài sản) và nguồn hình thành của
những tài sản đó và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để
tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì BCLCTT được lập để trả lời các
vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư

chỉ tiêu phải được tính trên cùng một khoảng thời gian hạch toán, phải cùng phản ánh
một nội dung kinh tế, phải cùng một phương pháp tính toán, phải cùng một đơn vị đo
lường và các chỉ tiêu cần phải quy đổi về cùng một quy mô và điều kiện kinh doanh
tương đương nhau.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tùy theo từng mục đích phân tích mà nhà phân tích sẽ lựa chọn gốc so sánh cho
phù hợp. Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về mặt thời gian hoặc không gian.
Tuỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch. Giá trị so sánh có thể lựa
chọn là số tương đối hoặc số tuyệt đối hoặc số bình quân. Nội dung so sánh gồm:
- So sánh kỳ này với kỳ trước để thấy rõ hơn xu thế thay đổi về tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu của doanh nghiệp khác hoặc với số
liệu trung bình của ngành để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp là tốt hay
xấu, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so
sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối
và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
Đây là một phương pháp đơn giản, dễ tính toán, dễ thực hiện. Sử dụng phương
pháp này giúp cho các nhà phân tích đánh giá được vị thế của doanh nghiệp, tình hình tài
chính của doanh nghiệp, xem xét việc thực hiện kế hoạch đã đề ra. Thông qua đó nhà
quản lý đưa ra được kế hoạch chiến lược hoạt động cho thời gian tới. Tuy nhiên kết quả
thu được khi sử dụng phương pháp này chưa phản ánh một cách tổng quát nhất thực
trạng tài chính của doanh nghiệp. Do vậy khi tiến hành phân tích tài chính nhà phân tích
thường sử dụng phối hợp nhiều phương pháp.
1.3.3.2 Phương pháp tỷ lệ.
Là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính

ROA phụ thuộc vào 2 yếu tố: lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trên doanh thu
và hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Sự phân tích cho phép xác định được nguồn gốc làm
tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.3.4 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.4.1 Phân tích khái quát về môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường ngành
Nhà phân tích phải phát hiện những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô,
ngành nghề kinh doanh từ đó đánh giá sơ bộ về môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến
sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp như thế nào? Xác định xu hướng phát
triển, nguy cơ cũng như cơ hội đối với doanh nghiệp.
1.3.4.2Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.3.4.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các cân
bằng trên bảng cân đối kế toán.
Bảng cân đối kế toán cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời
điểm nhất định, nó bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài chính phát sinh phản ánh từng nội
dung tài sản và nguồn vốn. Như vậy, dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán ta có thể
phân tích được kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp xem xét sự tăng giảm của
tài sản và nguồn vốn để phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn.
Để phân tích kết cấu nguồn vốn và tài sản trước hết ta xem xét quy mô của từng
loại nguồn vốn và tài sản thông qua giá trị tuyệt đối của chúng, sau đó tính tỷ trọng của
từng loại tài sản và nguồn vốn. Qua đó đánh giá được cơ cấu của từng loại tài sản và
nguồn vốn chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn. Ta tính trên cả cột đầu năm và cuối kỳ
để xem xét kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp trong năm có ổn định không.
Ta cũng có thể so sánh kết cấu nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp qua một vài năm
để xem xét cụ thể biến động của chúng qua cac năm.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Căn cứ vào mối quan hệ trên bảng cân đối kế toán, các nhà phân tích có thể phân
tích được tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu sau:
Thứ nhất: Xác định vốn lưu động thường xuyên:
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn và tài sản

Khi N/cVLĐ<0, tức là TSKD < NKD, chứng tỏ toàn bộ phần vốn chiếm dụng từ
bên thứ 3 lớn hơn toàn bộ nhu cầu vốn ngắn hạn phát sinh trong quá trình kinh doanh
của doanh nghiệp.
Thứ ba: Xác định vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền có thể được xác định theo 2 cách:
- Cách 1: Vốn bằng tiền = (Ngân quỹ có) – (Ngân quỹ nợ)
VBT dương hay ngân quỹ có lớn hơn ngân quỹ nợ, chứng tỏ công ty chủ động về
vốn bằng tiền. Ngược lại VBT âm thể hiện công ty bị động về VBT.
- Cách 2: Vốn bằng tiền = (Vốn lưu động thường xuyên) – (Nhu cầu vốn lưu động)
VBT>0, với N/cVLĐ dương chứng tỏ VLĐTX thỏa mãn N/cVLĐ. Ngược lại,
công ty có quá nhiều tiền do chiếm dụng được vốn từ bên thứ 3 nếu N/cVLĐ âm.
VBT<0, N/cVLĐ>0, VLĐTX>0, chứng tỏ VLĐTX chỉ tài trợ được một phần
N/cVLĐ, phần còn lại công ty phải dựa vào tín dụng ngắn hạn ngân hàng, phần này càng
nhiều, doanh nghiệp càng phụ thuộc vào ngân hàng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3.4.2.2 Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp những thông tin tổng hợp về
phương thức kinh doanh, việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động kỹ thuật, kinh
nghiệm của doanh nghiệp và chỉ ra rằng hoạt động kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay
gây ra tình trạng lỗ vốn. Nó không chỉ cung cấp số liệu về hoạt động kinh doanh mà DN
đã thực hiện trong kỳ mà còn dự báo các hoạt động của DN trong tương lai.
Thực chất, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của DN là phân tích
thu nhập và chi phí.
Thứ nhất: Phân tích doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp:
Về mặt lý thuyết một DN thông thường cần có nguồn thu nhập chủ yếu, thường
xuyên và ổn định là DTT từ bán hàng và cung cấp dịch vụ. Các khoản thu nhập khác từ
hoạt động tài chính và hoạt động khác chỉ nên mang tính chất bổ sung cho hoạt động bán
hàng và cung cấp dịch vụ. Khi phân tích DT, trước hết nhà phân tích cần xác định rõ
được nguồn gốc các khoản thu nhập trong kỳ của DN, từ đó đánh giá tầm quan trọng, sự

Hệ số khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn
=
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài sản ngắn
hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn. Nếu hệ số này cao
có thể đem lại sự an toàn về khả năng thanh toán cao so với nghĩa vụ phải thanh toán.
Nếu gặp khó khăn tài chính, công ty có thể không còn khả năng thanh toán đúng
hạn các khoản phải trả hoặc cần mở rộng hạn mức tín dụng tài ngân hàng. Kết quả là, nợ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngắn hạn sẽ tăng nhanh hơn tài sản ngắn hạn, chỉ số thanh toán ngắn hạn có thể giảm
xuống. Đây có thể là tín hiệu đầu tiên của sự trục trặc về tài chính. Chỉ số này chỉ thể
hiện khả năng thanh toán tại một thời điểm nhất định, vì vậy khi nghiên cứu cũng cần
phải tính toán, thống kê trong một khoảng thời gian đủ dài để có cái nhìn đầy đủ về lịch
sử vận hành và phát triển của công ty. Ngoài ra, cũng có thể so sánh chỉ số này giữa các
công ty trong cùng ngành để đánh giá hiệu quả tương đối của công ty.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh tương đối. Hệ số này đo lường khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn của công ty bằng việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạn
không kể hàng tồn kho, do không phải lúc nào, nguyên vật liệu, thành phẩm … hay quá
trình từ dự trữ chuyển thành tiền cũng được diễn ra ngay nhanh chóng mà phải trải qua
một thời gian nhất đinh.
Hệ số khả năng thanh toán
nhanh tương đối
=
Tiền + ĐTTC ngắn hạn + Phải thu
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này được đánh giá là tin cậy hơn chỉ tiêu khả năng thanh toán nợ ngắn
hạn vì nó đã loại bỏ ra các tài sản chậm chuyển thành tiền. Nhìn chung, các chủ nợ thích

Phương pháp phân tích chủ yếu là so sánh hệ số khả năng thanh toán của doanh
nghiệp giữa các kỳ khác nhau, hệ số khả năng thanh toán của DN với các DN khác trong
ngành, hệ số trung bình ngành. Tuy nhiên, để có kết luận đúng về khả năng thanh toán
của doanh nghiệp cần phải có cách nhìn toàn diện, phải thấy được sự tác động của các
nhân tố làm tăng hay giảm các chỉ tiêu.
1.3.4.2.4Phân tích các chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Cơ cấu tài chính đề cập tới việc công ty sử dụng nguồn tài trợ từ các khoản vay
thay cho vốn cổ phần. Các tỷ lệ này được dùng để đo lường vốn góp của các chủ sở hữu
với công ty so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với công ty và có ý nghĩa quan trọng
trong phân tích tài chính. Bởi lẽ, các chủ nợ nhìn vào số VCSH của công ty để xem xét
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho chủ nợ về các món nợ. Nếu CSH công ty
chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh chủ
yêu do chủ nợ phải gánh chịu. Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, chủ công
ty vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành công ty, nếu công ty thu được lợi nhuận
từ tiền vay lớn hơn chi phí sử dụng vốn thì lợi nhuận dành cho chủ lợi nhuận sẽ gia tăng
đáng kể.
Đòn bẩy tài chính là công cụ để khuếch đại tỷ xuất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu,
khi doanh nghiệp làm ăn có lãi. Thêm vào đó, vay nợ cũng là một hình thức tài trợ vốn
quan trọng, tạo lợi thế lá chắn thuế cho công ty vì chi phí lãy vay là một khoản chi phí
hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên khi doanh nghiệp sử dụng càng
nhiều nợ thì càng có nguy cơ mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, dẫn tới các rủi ro
tài chính và nguy cơ phá sản. Khi sử dụng nợ, chủ nợ và chủ sở hữu công ty có thể gặp
phải những xung đột về quyền lợi. Chủ nợ có thể muốn công ty thực hiện các khoản đầu
tư ít rủi ro hơn so với mong muốn của những người đầu tư vào cổ phiếu công ty. Cơ cấu
tài chính được tính toán như sau:
Hệ số nợ:
Hệ số nợ =
Nợ phải trả

mạo hiểm.
1.3.4.2.5 Phân tích chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản
Nhóm chỉ tiêu này được tính cho một thời kỳ thường là 1 năm dương lịch hoặc
năm tài chính, cho thấy công ty khai thác và sử dụng các nguồn lực hiệu quả như thế
nào. Nhóm chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Vòng quay khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:
Vòng quay khoản phải thu =
DTT về bán hàng và cung cấp dịch vụ
Các khoản phải thu bình quân
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Báo cáo kết quả phân tích: Phân tích sự biến động của tài sản: Về tổng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status