Trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại Thực Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp dầu khí là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn
của nền kinh tế Việt Nam. Đây là ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước và có
đóng góp không nhỏ trong việc thu ngoại tệ về cho quốc gia. Do đó, hoạt
động khai thác dầu khí đang được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm, chú trọng
để đẩy mạnh. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp này, bảo hiểm
dầu khí cũng ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình. Nó
giúp cho các nhà thầu thanh thản hơn, vững tin hơn khi thực hiện dự án, các
nhà đầu tư yên tâm hơn với số vốn mình bỏ ra. Bảo hiểm dầu khí đã trở thành
một yếu tố không thể thiếu trong mỗi dự án thăm dò và khai thác dầu khí.
Nhận thức được điều đó, với tư cách là một sinh viên nghiên cứu và học tập
trong lĩnh vực bảo hiểm và sau khoảng thời gian thực tập tại Tổng Công Ty
Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam, em quyết định chọn đề tài “trạng
triển khai nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại Thực Tổng
Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho
khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở những kiến thức đã được học, em muốn nghiên cứu về thực
trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại Tổng Công
Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam, để từ đó có thể đề xuất một số giải
pháp và kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ này tại PVI trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng là những lý luận về bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi và
thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này cũng như những kiến nghị và
giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại PVI.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
Phạm vi nghiên cứu là nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi
tại Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam trong những năm
gần đây.
Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp sử dụng chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng, duy

nguồn dầu khí khai thác được chúng ta có thể phát triển các ngành công
nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hoá dầu) với quy mô lớn. Như vậy
việc thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng có một vị trí quan trọng trong sự
phát triển kinh tế của đất nước. Vị trí đó được thể hiện thông qua vai trò to
lớn của Ngành công nghiệp dầu khí, cụ thể như sau:
- Là ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, có đóng góp lớn vào
tổng thu nhập quốc dân. (GDP).
- Góp phần làm giảm sự thâm hụt cán thương mại bằng việc cung cấp
các sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài.
- Tạo công ăn, việc làm và tăng thu nhập cho nhiều người dân lao động,
đặc biệt là các lao động trẻ.
- Là ngành công nghiệp thu hút ngoại tệ về cho đất nước thông qua hoạt
động xuất khẩu các sản phẩm của ngành.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
- Là nhân tố cơ sở, là tiền đề để phát triển một số ngành công nghiệp và
dịch vụ khác như hoá chất, điện lực, bảo hiểm…
Với những vai trò quan trọng như thế nên ngành công nghiệp dầu khí
đang rất được Đảng và Nhà Nước quan tâm chú trọng phát triển.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp dầu khí lại có nét đặc thù riêng như là:
Trữ lượng dầu chủ yếu nằm sâu trong lòng đất và ở dưới đáy biển cho
nên hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trở nên khó khăn và phức tạp. Cụ
thể:
+ Nó đòi hỏi nhiều về mặt thời gian, nhân lực cũng như về kỹ thuật công
nghệ. Điều đó dẫn đến nhu cầu về vốn lớn để phát triển ngành công nghiệp
dầu khí.
+ Hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí có thể gặp phải rất nhiều rủi
ro, tổn thất.
Các tổn thất trong hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí.
Trong ngành công nghiệp dầu khí, các nhà khai thác chính thường phải
thuê các nhà thầu thực hiện công việc thăm dò và khai thác. Chính vì vậy,

- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ Ba: các công ty dầu
làm việc ở nơi nào cũng dễ trở thành mục tiêu khiếu nại của người dân địa
phương vì họ có thể gây ra ô nhiễm môi trường quanh vùng.
- Giai đoạn thăm dò địa chấn phải sử dụng đến chất nổ để giám sát sự
đột biến của các sóng trên vỏ trái đất cũng như sử dụng các thiết bị ghi âm.
Cả hai thiết bị này đều được bảo hiểm. Việc sử dụng chất nổ cũng làm tăng
rủi ro phát sinh trách nhiệm đối với người thứ Ba.
- Các nhà thăm dò thường yêu cầu bảo hiểm cho các đĩa lưu trữ số
liệu. Có hai hình thức cần phải phân biệt. Thứ nhất, bảo hiểm sự thay thế cho
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
chính những chiếc đĩa này, giá trị bảo hiểm chỉ cần bằng giá trị mới của các
đĩa dữ liệu. Thứ hai, bảo hiểm gồm cả việc tái tạo số liệu ghi trong đĩa, giá trị
bảo hiểm không chỉ là giá trị mới của bản thân các đĩa lưu trữ mà còn bao
gồm các công việc cần thiết để tái tạo lại số liệu ghi trên đĩa nếu số liệu đó bị
mất hoặc hư hại.
- Khi giai đoạn khoan bắt đầu, thiết bị khoan thường được do một nhà
thầu sở hữu và việc di chuyển các thiết bị đó đến khu vực khoan được thực
hiện bằng một hợp đồng. Những hợp đồng như vậy sẽ đề cập đến trách nhiệm
của công ty dầu đối với giàn khoan và thiết bị thuê cần được bảo hiểm.
- bảo hiểm đối với các giếng khoan bao gồm việc bảo hiểm chi phí
khống chế giếng và chi phí khoan lại. Chi phí khống chế giếng bao gồm chi
phí về vật liệu, dịch vụ cung ứng của các cá nhân hay hãng chuyên về khống
chế giếng và những chi phí cho việc khoan trực tiếp hay các hoạt động tương
tự cần thiết để làm cho giếng có thể khống chế được. Chi phí khoan lại bao
gồm chi phí khoan lại giếng đã bị tổn thất có liên quan đến một số hiểm hoạ
như phụt nổ, phun trào. Trong trường hợp có tai nạn về tràn dầu hay ô nhiễm
dầu thì hợp đồng “ tiếp theo một rủi ro bảo hiểm” được mở rộng cho các chi
phí làm sạch môi trường hoặc hạn chế việc lan tràn ô nhiễm.
- Bảo hiểm tai nạn người làm công: do tính chất công việc rất nguy
hiểm nên xác suất rủi ro đối với người làm công là rất lớn. Vì vậy, các công ty

khi kết thúc Chiến tranh Thế Giới thứ II tại các Vịnh và nhánh sông ở vùng
biên giới của Mê Hi Cô. Sau đó nó được mở rộng ra khai thác dầu khí trên đất
liền. Công việc khai thác dầu khí đòi hỏi phải có mũi khoan, các trang thiết bị
chuyên dụng với chi phí rất đắt.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
Vào những năm 1960, một số lượng lớn các giàn khoan đã được lắp đặt
tại vùng vịnh của Mê Hi Cô. Hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi đã bắt
đầu phát triển và phổ biến hơn.
Vào những năm tiếp theo, các công ty khai thác dầu đã phát hiện ra dầu
và khí gas ở dưới mực nước biển sâu hơn và ở vùng biển xa đất liền hơn.
Cả hai nhân tố trên đã làm cho việc khai thác trở nên khó khăn hơn, phức
tạp hơn và chi phí thì tăng lên rất nhiều.
Thông thường một dự án ngoài khơi được tạo nên từ rất nhiều phần, và
không có phần nào trong số chúng được làm ở ngoài khơi, chúng được làm ở
trên đất liền, thường là từ rất nhiều nơi khác nhau, sau đó được vận chuyển
một quãng đường dài để đưa ra vị trí xây dựng ngoài khơi theo đúng một trật
tự. Đó là cả một tập hợp các hoạt động tinh vi và phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật
chính xác và công nghệ tiên tiến để đảm bảo dự án được thực hiện an toàn và
đúng tiến độ.
Việc vận chuyển ra ngoài khơi được thực hiện bởi thuyền vận chuyển
trọng tải lớn hoặc bằng sà lan. Sau khi kết thúc quá trình vận chuyển, người
thi công phải lắp ghép các khối thép và bê tông khổng lồ. Đó là một quá trình
khó khăn. Một công việc khác cũng không kém phần cam go đó là việc xây
dựng hệ thống ống dẫn dầu. Các nhà thầu phải xây dựng hệ thống ống dẫn
dầu từ ngoài khơi tại nơi khai thác đến nhà máy lọc dầu…
Và cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên, đó là khi thực hiện một
chuỗi các hoạt động khó khăn phức tạp trong một thời gian dài như thế họ đã
gặp phải không ít những rủi ro, tổn thất. Đó chính là lý do các công ty khai
thác dầu đã chuyển sang hình thức công ty cổ phần nhằm chia sẻ rủi ro. Công
ty khai thác dầu sẽ chọn ra một nhà điều hành, người này sẽ được trả tiền để

Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
- Tăng cường hoạt động đầu tư vào lĩnh vực dầu khí. Vì khi có bảo hiểm
góp phần hạn chế và san sẻ rủi ro, các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư vào lĩnh
vực dầu khí nhiều hơn.
2.3. Những nội dung cơ bản của Bảo Hiểm dự án xây dựng ngoài khơi.
2.3.1. Người được Bảo Hiểm
Mỗi công trình là một quy hoạch tổng thể, nó liên quan đến rất nhiều
bên. Những người được bảo hiểm chính là:
- Các công ty khai thác dầu;
Các công ty liên doanh có thể đang hoặc sẽ tồn tại.
Các công ty mẹ và/hoặc công ty con và/hoặc các công ty thành viên
và/hoặc các công ty liên kết và/hoặc các công ty liên đới hiện đang tồn tại.
- những người được bảo hiểm khác
Các nhà quản lý dự án
Bất kỳ công ty, hãng, người hay một bên nào khác (bao gồm các nhà
thầu chính và/hoặc các nhà thầu phụ và/hoặc các nhà sản xuất và/hoặc các nhà
cung cấp) mà những người được bảo hiểm đã nêu ở trên có ký kết (các) hợp
đồng bằng văn bản trực tiếp liên quan đến dự án.
2.3.2 Đối tượng và Phạm vi Bảo Hiểm
2.3.2.1. Đối tượng bảo hiểm:
Nghiệp vụ này bảo hiểm cho các hoạt động được tiến hành trong quá
trình thực hiện dự án với điều kiện các hoạt động này đã được tính trong giá
trị bảo hiểm. Các hoạt động bảo hiểm này bao gồm: mua sắm nguyên vật liệu,
xây dựng, chế tạo, hạ thủy, bốc dỡ hàng, vận chuyển trên đất liền, đường biển
hoặc đường hàng không (bao gồm cả vận chuyển tại các cảng hay địa điểm
theo yêu cầu), lưu kho, lai kéo, ràng buộc, chôn lấp, lắp ráp và/hoặc các hoạt
động ghép nối, kiểm tra và vận hành chạy thử, bảo trì, các hoạt động ban đầu
và bảo dưỡng, các nghiên cứu, thiết kế, kỹ thuật, quản lý dự án, kiểm tra, chạy
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
thử, đặt ống, đào hào và vận hành. Các hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm

những người bảo hiểm trước khi có sự cố nào xảy ra làm phát sinh khiếu nại.
2. Sửa đổi và điều chỉnh dự án
Theo điều khoản này, Những người bảo hiểm đồng ý bảo hiểm cho toàn
bộ các sửa đổi và điều chỉnh đối với các thông số kĩ thuật của dự án theo các
điều khoản và điều kiện của đơn bảo hiểm cho một thời hạn nào đó (60 ngày-
theo đơn WELCAR 2001) kể từ ngày tiến hành các sửa đổi hoặc điều chỉnh
đó, với điều kiện là người dược bảo hiểm chính phải thông báo cho những
người bảo hiểm về bất kì sửa đổi cần thiết hoặc quan trọng nào ngay lập tức
trong vòng 60 ngày. Để có thể bảo hiểm cho các sửa đổi và điều chỉnh cần
thiết hoặc quan trọng đó trong một thời hạn trên 60 ngày, phải có sự thoả
thuận giữa người được bảo hiểm và những người bảo hiểm về phí bảo hiểm
bổ sung.
3. Điều khoản về rủi ro ô nhiễm
Điều khoản này cho phép bảo hiểm cho thiệt hại hay tổn thất vật chất đối
với tài sản được bảo hiểm trực tiếp gây ra bởi hành động của bất kì cơ quan
có thẩm quyền nào của Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình nhằm
phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm hoặc hiểm hoạ bị ô nhiễm, với
điều kiện là hành động của cơ quan có thẩm quyền đó không phải phát sinh từ
nhu cầu do thiếu mẫn cán của nhà điều hành của người được bảo hiểm chính
trong việc ngăn ngừa và giảm thiểu nguy cơ hoặc hiểm hoạ ô nhiễm này.
Phạm vi bảo hiểm xác định ở trên có thể được mở rộng để bảo hiểm bất
kì tổn thất hoặc thiệt hại vật chất nào gây ra bởi hay bị tác động do phải thực
hiện lệnh của bất cứ cơ quan hay tổ chức nào của Chính phủ sau khi tham
khảo ý kiến của các quan chức và kĩ sư của người được bảo hiểm có liên quan
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
đến dự án được bảo hiểm nhưng chỉ trong phạm vi quyền lợi được bảo hiểm
theo phần I và luôn luôn xảy ra sau tổn thất hoặc thiệt hại vật chất phát sinh từ
một rủi ro được bảo hiểm.
4. Bộ phận bị lỗi
Điều khoản này cho phép bảo hiểm các tổn thất và/hoặc thiệt hại vật chất

hiểm sẽ giảm theo tương ứng, và những Người Bảo Hiểm đồng ý hoàn phí
bảo hiểm theo thoả thuận bằng số tiền tương ứng với sự giảm mức trách
nhiệm bảo hiểm của họ.
Mặc dù vậy, nếu giá trị bảo hiểm vượt quá 125% giá trị khai báo như
ban đầu thì giới hạn bồi thường theo phần I này sẽ là 125% giá trị dự kiến ban
đầu cho mỗi sự cố tuy nhiên luôn tuân theo giới hạn bồi thường có quy định
trong đơn Bảo Hiểm.
6. Chi phí tổn thất chung và chi phí cứu hộ
Các chi phí tổn thất chung và chi phí cứu hộ phải trả theo quy định của
hợp đồng chuyên chở. Theo điều khoản này, Người Bảo Hiểm đồng ý thanh
toán đầy đủ các chi phí Tổn Thất Chung hoặc chi phí cứu hộ trong trường hợp
giá trị đóng góp cho chi phí tổn thất chung hoặc chi phí cứu hộ vượt quá giá
trị được bảo hiểm, luôn luôn với điều kiện là số tiền được bồi thường theo
phần I liên quan tới tổn thất bộ phận phát sinh từ bất kỳ rủi ro nào sẽ không
vượt quá giá trị bảo hiểm của hạng mục.
Nếu được yêu cầu, những Người Bảo Hiểm đồng ý cấp các bảo lãnh Tổn
thất chung hay đảm bảo cứu hộ cho tài sản được bảo hiểm theo Đơn Bảo
Hiểm.
7. Điều khoản về kiện tụng và lao động
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
Theo điều khoản này, các bên thoả thuận rằng trong trường hợp có bất
kỳ tổn thất hoặc thiệt hại vật chất nào sắp xảy ra đối với tài sản được bảo
hiểm, là hậu quả trực tiếp của một rủi ro được bảo hiểm, thì Người Được Bảo
Hiểm, người phục vụ và các đại lý của họ có thể tiến hành kiện đòi, nỗ lực và
cố gắng hết sức để bảo vệ, giữ gìn và thu hồi các đối tượng được bảo hiểm mà
không làm phương hại đến bảo hiểm này và có thể làm phát sinh chi phí hợp
lý trong quá trình nỗ lực để ngăn chặn hay giảm thiểu tổn thất được bảo hiểm.
Những Người Bảo Hiểm và những Người Được Bảo Hiểm sẽ gánh chịu
những chi phí phát sinh này theo tỷ lệ quyền lợi tương ứng giữa họ.
8. Di chuyển xác và/hoặc mảnh vỡ tài sản

định nhà phân bổ tổn thất sau khi Người Được Bảo Hiểm có thông báo tổn
thất.
12. Điều khoản “bảo hiểm trở lại” do rủi ro khủng bố
Theo điều khoản này, Người Bảo Hiểm sẽ bồi thường cho Người Được
Bảo Hiểm những tổn thất và/hoặc thiệt hại vật chất do rủi ro được loại trừ đó
là tổn thất và/hoặc thiệt hại phát sinh do hậu quả của:
(i) Việc nổ bất kỳ chất nổ nào.
(ii) Bất kỳ vũ khí chiến tranh nào và gây nên bởi bất kỳ người nào hành
động một cách ác ý hay xuất phát từ động cơ chính trị.
 Tài sản được bảo hiểm:
Nghiệp vụ bảo hiểm này bảo hiểm cho các tài sản thuộc các công việc
được tiến hành ở mọi nơi trên thế giới trong thời gian thực hiện các hợp đồng
liên quan đến dự án (với điều kiện là các công việc này đã nằm trong giá trị
hợp đồng đã khai báo cho những người bảo hiểm biết và được bảo hiểm trong
đơn bảo hiểm), bao gồm: nguyên vật liệu, cấu kiện, phụ kiện, máy móc, tài
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
sản cố định thiết bị và các loại tài sản khác dự định sẽ là một phần của dự án
tổng thể, hoặc đã được sử dụng hoặc dùng hết khi hoàn tất dự án. (Với điều
kiện là đã thông báo cho những nhà bảo hiểm biết và được những nhà bảo
hiểm chấp thuận). Bảo hiểm này cũng bảo hiểm cho các công việc có tính
chất tạm thời, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, trang thiết bị và
tất cả các tài sản khác gắn kết với chúng cho dù các hạng mục tài sản có phải
là một phần công việc lâu dài hay không, bao gồm cả việc chuẩn bị mặt bằng
và các rủi ro hoạt động sau đó.
 Giới hạn của đơn bảo hiểm:
Tổng mức trách nhiệm của những người bảo hiểm theo phần I đối với tất
cả các khiếu nại phát sinh từ mỗi sự cố bất kỳ sẽ không vượt quá 125% giá trị
được bảo hiểm bao gồm cả các khoản tiền trả theo điều khoản về kiện tụng và
lao động, điều khoản về công việc bổ sung và điều khoản về di chuyển mảnh
vỡ và/hoặc xác tài sản (mỗi khoản thanh toán đó bị hạn chế riêng theo các

oxy hoá và co giãn vì nhiệt;
g. Rủi ro do các tài sản hết hạn sử dụng;
h. Các chi phí hoặc phí tổn sửa chữa, làm mới hoặc thay thế các vết hàn
bị lỗi;
i. Tổn thất, thiệt hại, trách nhiệm hoặc chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp
gây ra bởi hoặc phát sinh từ:
(i) Phóng xạ ion hoá hoặc nhiễm chất phóng xạ từ bất kỳ nhiên liệu hay
chất thải hạt nhân nào hay từ việc đốt nóng nhiên liệu hạt nhân;
(ii) Chất phóng xạ, chất độc, chất nổ hay các chất nguy hiểm khác hay
chất thải từ các khu vực, lắp đặt lò phản ứng hạt nhân hay các tổ hợp hay một
bộ phận của tổ hợp hạt nhân khác;
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
(iii) Bất kì vũ khí chiến tranh nào có sử dụng phản ứng phân hạch
và/hoặc phản ứng tổng hợp nguyên tử hoặc hạt nhân hoặc các phản ứng tương
tự;
(iv) Ô nhiễm phóng xạ cho dù vì bất kì nguyên nhân gì, xảy ra bất kỳ
khi nào và ở đâu.
j.Phần I sẽ không bảo hiểm tổn thất hoặc thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp
gây nên bởi phát sinh thông qua hoặc do hậu quả của chiến tranh (dù có tuyên
chiến hay không tuyên chiến), xâm lược, hành động của thế lực thù địch bên
ngoài, hành động thù địch, nội chiến, bạo động, cách mạng, nổi loạn, dùng lực
lượng quân sự hoặc tiếm quyền hoặc trưng thu, hoặc quốc hữu hoá…
k. Sẽ không có bất kì trách nhiệm nào đối với các khiếu nại gây ra bởi
hoặc phát sinh do hậu quả của:
(i) Việc nổ bất kì chất nổ nào;
(ii) Bất kì vũ khí chiến tranh nào và gây nên bởi bất kì người nào hoạt
động một cách ác ý hay xuất phát từ động cơ chính trị.
Phần II: Bảo hiểm trách nhiệm
Đối tượng được bảo hiểm
Tuân theo các hạn mức trách nhiệm, điều khoản, điều kiện và các điểm

hành động của thế lực thù địch bên ngoài, hành động thù địch, nội chiến, bạo
động, cách mạng, nổi loạn, dùng lực lượng quân sự hoặc tiếm quyền hoặc
trưng thu hoặc quốc hữu hoá, hoặc trưng dụng hoặc phá huỷ tài sản do hoặc
theo lệnh của bất kỳ cơ quan chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền nào ở
trung ương hoặc địa phương, hoặc
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
b. Hậu quả của bất kì hành động nào nhằm mục đích chính trị hay khủng
bố của bất kỳ người nào hay những người nào cho dù họ có phải là gián điệp
của một quyền lực tối cao hay không và cho dù tổn thất, thiệt hại hay chi phí
đó phát sinh từ đó là ngẫu nhiên hay cố ý.
3. Đối với tiền bồi thường cho những người bị thiệt hại hay tổn thất các
phương tiện, nguyên vật liệu hoặc thiết bị của họ trong quá trình tiến hành các
hoạt động cho bất kỳ Người Được Bảo Hiểm nào;
4. Phát sinh từ việc sử dụng hay vận hành động cơ dưới nước cho dù
thiết bị này thuộc sở hữu, thuê có thời hạn, hay điều hành bởi bất kỳ Người
Được Bảo Hiểm nào, hay Người Được Bảo Hiểm có thể phải chịu những
trách nhiệm khác ngoài những trách nhiệm quy định ở đây đối với thiệt bị đó;
5. Đối với nhân viên của Người Được Bảo Hiểm, cho dù Người Được
Bảo Hiểm phải chịu trách nhiệm với tư cách là người sử dụng lao động hay
với tư cách khác;
6. Đối với vợ chồng, con cái, bố mẹ, anh chị em, họ hàng, người sống
phụ thuộc hay nhân viên của Người Được Bảo Hiểm phát sinh từ việc họ bị
thương tổn về thân thể và/hoặc cá nhân hoặc bị ốm hoặc tử vong, cho dù
Người Được Bảo Hiểm đó có thể phải chịu trách nhiệm với tư cách là người
sử dụng hay với bất kỳ tư cách nào khác;
7. Của bất kỳ nhân viên nào của bất cứ Người Được Bảo Hiểm nào đối
với Thương Tổn Về Thân Thể của một nhân viên khác của Người Được Bảo
Hiểm đó phải chịu trong quá trình tuyển dụng;
8. Đối với tổn thất hoặc thiệt hại xảy ra đối với bất kỳ giếng hay lỗ
khoan nào mà:

Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
Điểm loại trừ này không được áp dụng khi Người Được Bảo Hiểm đã
đáp ứng tất cả các điều kiện sau:
a. Sự rò rỉ, ô nhiễm hoặc nhiễm bẩn đó do một sự kiện gây ra;
b. Sự kiện đó trước hết được khởi phát vào một ngày được xác định cụ
thể trong Thời Hạn Của Đơn Bảo Hiểm;
c. Người Được Bảo Hiểm lần đầu tiên phát hiện ra sự kiện đó trong vòng
14 ngày kể từ ngày khởi phát;
d. Những Người Bảo Hiểm nhận được thông báo bằng văn bản của
Người Được Bảo Hiểm về sự kiện đó trong vòng 60 ngày kể từ ngày Người
Được Bảo Hiểm lần đầu tiên phát hiện ra sự kiện.
e. Sự kiện đó không phát sinh từ sự cố vi phạm bất kỳ quy định phát luật,
quy tắc, pháp lệnh hoặc quy chế nào của Người Được Bảo Hiểm.
13. Đối với các khoản tiền phạt, chế tài, tiền bồi thường có tính chất
trừng phạt hoặc làm gương;
14. Phát sinh từ các hàng hoá hay sản phẩm do Người Được Bảo Hiểm
sản xuất, bán, quản lý hoặc phân phối hoặc do những người khác buôn bán
lấy tên Người Được Bảo Hiểm;
15. Đối với thương tổn về thân thể hay thiệt hại về Tài Sản hoặc chi phí
trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra bởi hoặc phát sinh từ:
(i). Phóng xạ ion hoá hoặc nhiễm chất phóng xạ từ bất kỳ nhiên liệu hay
chất thải hạt nhân nào hay từ việc đốt nóng nhiên liệu hạt nhân;
(ii). Chất phóng xạ, chất độc, chất nổ hay các chất nguy hiểm khác hay
chất thải từ các khu vực, lắp đặt lò phản ứng hạt nhân hay các tổ hợp hay một
bộ phận của tổ hợp hạt nhân khác;
(iii). Bất kì vũ khí chiến tranh nào có sử dụng phản ứng phân hạch
và/hoặc phản ứng tổng hợp nguyên tử hoặc hạt nhân hoặc các phản ứng tương
tự.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
(iv). Ô nhiễm phóng xạ cho dù vì bất kì nguyên nhân gì, xảy ra bất kỳ

phận tài sản làm phát sinh rủi ro cho một người được bảo hiểm, bao gồm các
công việc tiến hành tại xưởng của các nhà thầu và/hoặc các nhà thầu phụ
và/hoặc các nhà sản xuất và/hoặc những người cung cấp và toàn bộ các hoạt
động vận chuyển(trên bờ và ngoài khơi) và sẽ tiếp tục có hiệu lực trong thời
gian diễn ra các hoạt động đó cho tới ngày hết hiệu lực bảo hiểm.
- Thời hạn bảo hành (chỉ nêu cho phần thiệt hại vật chất): Bảo hiểm sẽ
tiếp tục có hiệu lực trong thời hạn bảo hành theo quy định của hợp đồng cụ
thể (tuân theo các điều khoản, điều kiện và các điểm loại trừ được nêu rõ
trong từng đơn), có thời hạn tối đa là 12 tháng kể từ ngày bàn giao và/hoặc
đưa từng giàn khoan của đơn bảo hiểm vào hoạt động.
2.3.5. Phí Bảo Hiểm và cách tính Phí
 Các yếu tố tác động đến Phí:
- Giá trị, số lượng và loại tài sản được bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm.
- Mức miễn thường.
- Vị trí của dự án xây dựng lắp đặt ngoài khơi, đặc điểm địa chất của
vùng
- kinh nghiệm của người điều hành, nhà quản lý.
- Thống kê tổn thất của người được bảo hiểm những năm trước đó
- Bối cảnh thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó còn một số các nhân tố khác ảnh hưởng đến phí như là:
khách hàng lâu năm, khách hàng tham gia với số tiền bảo hiểm lớn, tiền sử
các vụ khiếu nại của khách hàng…
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A

Trích đoạn Tình hình hoạt động kinh doanh của PVI trong thời gian qua. Xác định phí, điều kiện điều khoản bảo hiểm: Thống kê, theo dõi thanh toán phí bảo hiểm, điều chỉnh phí bảo hiểm và cấp các sửa đổi bổ sung. Kiểm tra tờ trình giải quyết bồi thường và trình giám đốc phê duyệt.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status