Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam - Pdf 23

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp dầu khí là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn
của nền kinh tế Việt Nam. Đây là ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước và có
đóng góp không nhỏ trong việc thu ngoại tệ về cho quốc gia. Do đó, hoạt
động khai thác dầu khí đang được Đảng và Nhà Nước ta quan tâm, chú trọng
để đẩy mạnh. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp này, bảo hiểm
dầu khí cũng ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình. Nó
giúp cho các nhà thầu thanh thản hơn, vững tin hơn khi thực hiện dự án, các
nhà đầu tư yên tâm hơn với số vốn mình bỏ ra. Bảo hiểm dầu khí đã trở thành
một yếu tố không thể thiếu trong mỗi dự án thăm dò và khai thác dầu khí.
Nhận thức được điều đó, với tư cách là một sinh viên nghiên cứu và học tập
trong lĩnh vực bảo hiểm và sau khoảng thời gian thực tập tại Tổng Công Ty
Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam, em quyết định chọn đề tài “Thực
trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại Tổng
Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho
khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở những kiến thức đã được học, em muốn nghiên cứu về thực
trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại Tổng Công
Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam, để từ đó có thể đề xuất một số giải
pháp và kiến nghị nhằm phát triển nghiệp vụ này tại PVI trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng là những lý luận về bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi và
thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này cũng như những kiến nghị và
giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi tại PVI.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
1
Khoá luận tốt nghiệp
Phạm vi nghiên cứu là nghiệp vụ bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi
tại Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Dầu Khí Việt Nam trong những năm

tích thềm lục địa có chiều sâu nước đến 200m đã phát hiện ra trữ lượng dầu
khoảng 540 triệu tấn và 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng dầu khí tiềm năng dự báo
khoảng 900 đến 1200 tỷ m3 dầu và 2100 đến 2800 tỷ m3 khí. Như vậy, trữ
lượng tiềm năng tập trung chủ yếu ở các vùng nước sâu. Dự tính đến năm
2010, Việt Nam có thể khai thác 30 đến 32 triệu tấn dầu quy đổi. Nhờ có
nguồn dầu khí khai thác được chúng ta có thể phát triển các ngành công
nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hoá dầu) với quy mô lớn. Như vậy
việc thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng có một vị trí quan trọng trong sự
phát triển kinh tế của đất nước. Vị trí đó được thể hiện thông qua vai trò to
lớn của Ngành công nghiệp dầu khí, cụ thể như sau:
- Là ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, có đóng góp lớn vào
tổng thu nhập quốc dân. (GDP).
- Góp phần làm giảm sự thâm hụt cán thương mại bằng việc cung cấp
các sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài.
- Tạo công ăn, việc làm và tăng thu nhập cho nhiều người dân lao động,
đặc biệt là các lao động trẻ.
- Là ngành công nghiệp thu hút ngoại tệ về cho đất nước thông qua hoạt
động xuất khẩu các sản phẩm của ngành.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
3
Khoá luận tốt nghiệp
- Là nhân tố cơ sở, là tiền đề để phát triển một số ngành công nghiệp và
dịch vụ khác như hoá chất, điện lực, bảo hiểm…
Với những vai trò quan trọng như thế nên ngành công nghiệp dầu khí
đang rất được Đảng và Nhà Nước quan tâm chú trọng phát triển.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp dầu khí lại có nét đặc thù riêng như là:
Trữ lượng dầu chủ yếu nằm sâu trong lòng đất và ở dưới đáy biển cho
nên hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trở nên khó khăn và phức tạp. Cụ
thể:
+ Nó đòi hỏi nhiều về mặt thời gian, nhân lực cũng như về kỹ thuật công

Công việc đầu tiên của một công ty dầu khí là nghiên cứu chi tiết về địa
lý ở khu vực mà họ có ý định khai thác dầu. Công việc này rất tốn kém vì chi
phí cho một giếng khoan thăm dò cũng đắt ngang bằng với chi phí cho một
giếng khoan khai thác. Trong quá trình này, liên quan đến những nghiệp vụ
bảo hiểm sau:
- Bảo hiểm mọi rủi ro cho thiết bị khai thác nổi: Nghiệp vụ này bảo
hiểm cho các rủi ro liên quan đến trang thiết bị khai thác, bất kể là chúng ở
nhà kho, trên mặt đất, trên boong tàu hay máy bay, trên không trung hay trong
quá trình vận chuyển.
- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ Ba: các công ty dầu
làm việc ở nơi nào cũng dễ trở thành mục tiêu khiếu nại của người dân địa
phương vì họ có thể gây ra ô nhiễm môi trường quanh vùng.
- Giai đoạn thăm dò địa chấn phải sử dụng đến chất nổ để giám sát sự
đột biến của các sóng trên vỏ trái đất cũng như sử dụng các thiết bị ghi âm. Cả
hai thiết bị này đều được bảo hiểm. Việc sử dụng chất nổ cũng làm tăng rủi ro
phát sinh trách nhiệm đối với người thứ Ba.
- Các nhà thăm dò thường yêu cầu bảo hiểm cho các đĩa lưu trữ số
liệu. Có hai hình thức cần phải phân biệt. Thứ nhất, bảo hiểm sự thay thế cho
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
5
Khoá luận tốt nghiệp
chính những chiếc đĩa này, giá trị bảo hiểm chỉ cần bằng giá trị mới của các
đĩa dữ liệu. Thứ hai, bảo hiểm gồm cả việc tái tạo số liệu ghi trong đĩa, giá trị
bảo hiểm không chỉ là giá trị mới của bản thân các đĩa lưu trữ mà còn bao
gồm các công việc cần thiết để tái tạo lại số liệu ghi trên đĩa nếu số liệu đó bị
mất hoặc hư hại.
- Khi giai đoạn khoan bắt đầu, thiết bị khoan thường được do một nhà
thầu sở hữu và việc di chuyển các thiết bị đó đến khu vực khoan được thực
hiện bằng một hợp đồng. Những hợp đồng như vậy sẽ đề cập đến trách nhiệm
của công ty dầu đối với giàn khoan và thiết bị thuê cần được bảo hiểm.

Quá trình sản xuất và chế biến dầu khí được tiến hành trên đất liền,
nhưng các rủi ro và hạn mức trách nhiệm cũng tăng lên đáng kế so với hai
giai đoạn trước và nó cũng đòi hỏi hoạt động quản lý rủi ro phải được tiến
hành một cách chặt chẽ. Các nghiệp vụ bảo hiểm trong giai đoạn này thường
bao gồm bảo hiểm tài sản như nhà xưởng, kho tàng, máy móc…, bảo hiểm
trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ ba kể cả trách nhiệm theo luật định đối
với sản phẩm khi vận chuyển và khi phân phối. Thông thường thì phạm vi bảo
hiểm do các công ty dầu yêu cầu tuỳ thuộc vào vị trí, nhận thức và mức độ
nguy hiểm trong hoạt động của họ.
II. Bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi trong ngành dầu khí.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng
ngoài khơi trong ngành dầu khí.
Hoạt động khai thác dầu khí dưới mặt nước đã được bắt đầu từ ngay sau
khi kết thúc Chiến tranh Thế Giới thứ II tại các Vịnh và nhánh sông ở vùng
biên giới của Mê Hi Cô. Sau đó nó được mở rộng ra khai thác dầu khí trên đất
liền. Công việc khai thác dầu khí đòi hỏi phải có mũi khoan, các trang thiết bị
chuyên dụng với chi phí rất đắt.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
7
Khoá luận tốt nghiệp
Vào những năm 1960, một số lượng lớn các giàn khoan đã được lắp đặt
tại vùng vịnh của Mê Hi Cô. Hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi đã bắt
đầu phát triển và phổ biến hơn.
Vào những năm tiếp theo, các công ty khai thác dầu đã phát hiện ra dầu
và khí gas ở dưới mực nước biển sâu hơn và ở vùng biển xa đất liền hơn.
Cả hai nhân tố trên đã làm cho việc khai thác trở nên khó khăn hơn, phức
tạp hơn và chi phí thì tăng lên rất nhiều.
Thông thường một dự án ngoài khơi được tạo nên từ rất nhiều phần, và
không có phần nào trong số chúng được làm ở ngoài khơi, chúng được làm ở
trên đất liền, thường là từ rất nhiều nơi khác nhau, sau đó được vận chuyển

Chính vì vậy, bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi đã ra đời nhằm đáp ứng
nhu cầu được bảo hiểm của các công ty dầu khí và đã góp phần không nhỏ
vào sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí. Trong đó phải kể đến bảo
hiểm dự án xây dựng ngoài khơi với các vai trò to lớn như :
- Ổn định về mặt tài chính cho các công ty dầu khí trước những rủi ro tổn
thất. Vì khi những tổn thất xẩy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, các công ty bảo
hiểm sẽ bồi thường cho các công ty khai thác dầu hoặc thay mặt cho công ty
khai thác dầu bồi thường thiệt hại cho bên thứ Ba.
- Giúp cho hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí có thể được thực hiện
trở lại một cách bình thường sau khi có những biến cố và rủi ro xảy ra.
- Giúp các nhà quản lý trong hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí
vững tin hơn khi phải đưa ra các quyết định khó khăn, phức tạp. Có bảo hiểm,
các nhà quản lý sẽ bớt căng thẳng hơn, bớt lo lắng hơn trước những tổn thất
và có thể đưa ra được những quyết định táo bạo để đưa đến thành công.
- Giúp cho những người trực tiếp thực hiện hoạt động khai thác dầu trên
biển được yên tâm làm việc. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người
lao động, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả lao động.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
9
Khoá luận tốt nghiệp
- Tăng cường hoạt động đầu tư vào lĩnh vực dầu khí. Vì khi có bảo hiểm
góp phần hạn chế và san sẻ rủi ro, các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư vào lĩnh
vực dầu khí nhiều hơn.
2.3. Những nội dung cơ bản của Bảo Hiểm dự án xây dựng ngoài khơi.
2.3.1. Người được Bảo Hiểm
Mỗi công trình là một quy hoạch tổng thể, nó liên quan đến rất nhiều
bên. Những người được bảo hiểm chính là:
- Các công ty khai thác dầu;
Các công ty liên doanh có thể đang hoặc sẽ tồn tại.
Các công ty mẹ và/hoặc công ty con và/hoặc các công ty thành viên

kho, lai kéo, ràng buộc, lắp đặt, chôn lấp, lắp ráp và/hoặc các hoạt động
ghép nối kiểm tra và nghiệm thu, bảo trì, các hoạt động ban đầu và bảo
dưỡng, các nghiên cứu về dự án, thiết kế kỹ thuật, quản lý dự án, kiểm
tra, chạy thử…nghiệm thu. Các hoạt động được bảo hiểm cũng bao gồm
những hậu quả phát sinh trực tiếp từ hoạt động khoan, nhưng chỉ khi
những hoạt động đó được thông báo cho những người bảo hiểm và
những người bảo hiểm đồng ý.
Phần I: Thiệt hại vật chất:
 Rủi ro được bảo hiểm:
Tuân theo các điều khoản/điều kiện và điểm loại trừ của các đơn bảo hiểm,
Phần I bảo hiểm các rủi ro về tổn thất và/hoặc thiệt hại vật chất đối với các tài
sản được bảo hiểm theo bảo hiểm, với điều kiện tổn thất hay thiệt hại đó phát
sinh từ một sự cố trong thời hạn bảo hiểm.
Các rủi ro được bảo hiểm mở rộng hay co hẹp theo các điều khoản và
điều kiện tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa Người bảo hiểm và người được bảo
hiểm theo yêu cầu của người được bảo hiểm.
Điều khoản và điều kiện:
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
11
Khoá luận tốt nghiệp
1. Lỗi và sai sót
Bất kì lỗi hay sai sót nào không cố ý hay không có chủ tâm sẽ không làm
phương hại tới người được bảo hiểm, với điều kiện là lỗi và sai sót đó được
hiệu chỉnh ngay khi người được bảo hiểm phát hiện ra và được thông báo cho
những người bảo hiểm trước khi có sự cố nào xảy ra làm phát sinh khiếu nại.
2. Sửa đổi và điều chỉnh dự án
Theo điều khoản này, Những người bảo hiểm đồng ý bảo hiểm cho toàn
bộ các sửa đổi và điều chỉnh đối với các thông số kĩ thuật của dự án theo các
điều khoản và điều kiện của đơn bảo hiểm cho một thời hạn nào đó (60 ngày-
theo đơn WELCAR 2001) kể từ ngày tiến hành các sửa đổi hoặc điều chỉnh

Tuy nhiên, cũng theo điều khoản này thì phần I sẽ không bảo hiểm cho
các tổn thất hay thiệt hại đối với bất kì bộ phận bị lỗi nào do bản thân nó. Trừ
khi thoả mãn các yêu cầu sau đây:
a. Bộ phận bị lỗi đó bị tổn thất hay thiệt hại vật chất trong thời hạn của
Đơn Bảo Hiểm
b. Tổn thất hay thiệt hại vật chất do một rủi ro được bảo hiểm nằm ngoài
bộ phận đó gây ra; và
c. Bộ phận bị lỗi không gây ra hay góp phần gây tổn thất hay thiệt hại
vật chất.
Trong mọi trường hợp, phần I không bảo hiểm cho bất kỳ chi phí hay phí
tổn nào phát sinh làm cho thiết kế tốt hơn hoặc thay đổi thiết kế.
Theo điều khoản này, “Bộ Phận Bị Lỗi” có nghĩa là bất kỳ bộ phận nào
của đối tượng bảo hiểm bị lỗi và/hoặc không phù hợp hay không đúng với
mục đích sử dụng thực tế hoặc theo dự kiến.
5. Điều khoản trượt giá
Vì các giá trị tại bản kê khai vào thời điểm phát sinh rủi ro chỉ là giá trị
hoàn tất ước tính và vì vậy đây chỉ là giá trị tạm thời, các bên thống nhất rằng
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
13
Khoá luận tốt nghiệp
giá trị hoàn tất cuối cùng của các tài sản được bảo hiểm ở đây sẽ là giá trị
được bảo hiểm.
Nếu giá trị bảo hiểm được xác định như trên mà:
a. Vượt quá giá trị tạm thời thì những người được bảo hiểm đồng ý
thông báo cho những người bảo hiểm liên quan số tiền vượt đó và trả phí bảo
hiểm theo thoả thuận, và những người bảo hiểm đồng ý chấp nhận phần tỷ lệ
trách nhiệm tăng lên của họ.
b. Thấp hơn giá trị tạm thời thì số tiền mà những người Bảo Hiểm bảo
hiểm sẽ giảm theo tương ứng, và những Người Bảo Hiểm đồng ý hoàn phí
bảo hiểm theo thoả thuận bằng số tiền tương ứng với sự giảm mức trách

Sau khi xảy ra một sự cố được bảo hiểm trong phần I, theo điều khoản
này, những người bảo hiểm sẽ bồi thường cho những người được bảo hiểm
toàn bộ các chi phí của việc hay đi kèm với hoạt động thực tế hay dự kiến
nhằm trục vớt, di chuyển hay phá huỷ xác và/ hoặc mảnh vỡ tài sản bảo hiểm
hay chi phí trang bị và bảo trì đèn hiệu, đánh dấu, biển báo bằng ầm thanh về
xác và/hoặc mảnh vỡ tài sản đó, nếu các chi phí này là bắt buộc theo luật,
pháp lệnh hay quy định hoặc nếu người được bảo hiểm có trách nhiệm đối với
các chi phí này theo hợp đồng bằng văn bản hoặc khi mà xác và/hoặc mảnh
vỡ tài sản đó cản trở các hoạt động thông thường của người được bảo hiểm.
9. Chi phí kiểm tra, tìm kiếm rò rỉ và/hoặc thiệt hại
Nếu thấy cần thiết phải tiến hành lại bất cứ hoạt động kiểm tra hoặc thử
nghiệm nào hoặc cần thực hiện kiểm tra và/hoặc thử nghiệm tiếp theo nào do
hậu quả của một tổn thất hay thiệt hại vật chất gây ra cho tài sản được bảo
hiểm phát sinh từ một sự cố được bảo hiểm theo phần I thì người được bảo
hiểm sẽ gánh chịu các chi phí trong việc tiến hành lại và/hoặc tiến hành bổ
sung các kiểm tra và thử nghiệm đó với giới hạn trách nhiệm phụ cho mỗi sự
cố nhưng không bao giờ vượt quá chi phí gốc như đã thoả thuận.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
15
Khoá luận tốt nghiệp
10. Chi phí chờ hoạt động trở lại
Theo điều khoản này, những Người Bảo Hiểm đồng ý bồi thường cho
Người Được Bảo Hiểm chi phí cho thời gian chờ hoạt động trở lại trong khi
tàu bè và/hoặc máy bay và/hoặc thiết bị được đem đi sửa chữa sau khi xảy ra
một sự cố được bảo hiểm nếu Người Được Bảo Hiểm gặp cản trở trong việc
xử lý tài sản bị thiệt hại do thời tiết xấu, bao gồm cả bão lốc.
11. Điều khoản về giám định/phân bổ khiếu nại.
Trong trường hợp bị tổn thất và/hoặc thiệt hại vật chất đối với tài sản
được bảo hiểm phát sinh từ một sự cố được bảo hiểm, trong trường hợp khẩn
cấp và trong những ngày nghỉ cuối tuần, Người Được Bảo Hiểm có thể chỉ

cả các khiếu nại phát sinh từ mỗi sự cố bất kỳ sẽ không vượt quá 125% giá trị
được bảo hiểm bao gồm cả các khoản tiền trả theo điều khoản về kiện tụng và
lao động, điều khoản về công việc bổ sung và điều khoản về di chuyển mảnh
vỡ và/hoặc xác tài sản (mỗi khoản thanh toán đó bị hạn chế riêng theo các
điều khoản bảo hiểm tương ứng).
Trong trường hợp những người bảo hiểm chấp thuận cho người được bảo
hiểm đóng thêm phí bảo hiểm bổ sung theo điều khoản trượt giá thì tổng giới
hạn trách nhiệm của những Người Bảo Hiểm theo phần I đối với các khiếu
nại phát sinh từ một sự cố sẽ không vượt quá 150% các giá trị của tài sản
được bảo hiểm ban đầu, bao gồm các khoản thanh toán theo điều khoản về
kiện tụng và lao động, điều khoản về công việc bổ sung, điều khoản về di
chuyển mảnh vỡ và/hoặc xác tài sản, và điều khoản trượt giá (mỗi khoản
thanh toán đó bị hạn chế riêng theo các điều khoản bảo hiểm tương ứng).
 Các điểm loại trừ
Phần I sẽ không bảo hiểm đối với:
a. Các tàu và máy bay khác, trừ các vật liệu nổi dự định sẽ trở thành một
bộ phận cố định của Dự án hoàn tất và đã được thông báo cho những người
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
17
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo Hiểm biết và được những Người Bảo Hiểm chấp thuận trước khi có tổn
thất xảy ra;
b. Các công việc có tính chất tạm thời công việc chuẩn bị mặt bằng, tài
sản và/hoặc thiết bị không thuộc sở hữu của những người được bảo hiểm
chính và không được tính vào phần việc của hợp đồng, trừ khi chúng được liệt
kê cụ thể trong đơn bảo hiểm này và những người bảo hiểm đồng ý trên cơ sở
một khoản phí bảo hiểm bổ sung trước khi có tổn thất xảy ra;
c. Các khoản tiền phạt do không hoàn tất hay chậm trễ trong việc hoàn
tất hợp đồng hoặc một phần hợp đồng hoặc không tuân thủ các điều kiện của
hợp đồng;

k. Sẽ không có bất kì trách nhiệm nào đối với các khiếu nại gây ra bởi
hoặc phát sinh do hậu quả của:
(i) Việc nổ bất kì chất nổ nào;
(ii) Bất kì vũ khí chiến tranh nào và gây nên bởi bất kì người nào hoạt
động một cách ác ý hay xuất phát từ động cơ chính trị.
Phần II: Bảo hiểm trách nhiệm
Đối tượng được bảo hiểm
Tuân theo các hạn mức trách nhiệm, điều khoản, điều kiện và các điểm
loại trừ, Người bảo đồng ý bồi thường cho Người được bảo hiểm các tổn thất
thực tế mà Người được bảo hiểm có nghĩa vụ phải bồi thường vì lý do:
(i) Trách nhiệm luật định áp dụng cho người được bảo hiểm
(ii) Trách nhiệm cụ thể theo hợp đồng,
Đối với thương tật thân thể và thiệt hại về người phát sinh từ một sự cố
luôn luôn với điều kiện này là sự cố này xảy ra trong thời gian dự án thực
hiện và phát sinh từ các hoạt động được bảo hiểm.
 Giới hạn trách nhiệm:
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
19
Khoá luận tốt nghiệp
Người Được Bảo Hiểm sẽ lựa chọn một mức giới hạn phù hợp với nhu
cầu bảo hiểm của họ, Người Bảo Hiểm sẽ xem xét để đưa ra mức phí tương
ứng. Giới hạn trách nhiệm có thể bị giảm đi và có thể được sử dụng hết sau
khi thanh toán các khoản bồi thường cho tổn thất phát sinh từ rủi ro được bảo
hiểm. Những Người Bảo Hiểm sẽ không có nghĩa vụ thanh toán thêm bất kỳ
khoản tiền nào cho tổn thất thực tế sau khi giới hạn trách nhiệm đã được đáp
ứng.
 Trách nhiệm chéo:
Trong trường hợp một Người Được Bảo Hiểm phải chịu trách nhiệm đối
với bất kỳ một Người Được Bảo Hiểm khác, thì phần II này sẽ bảo hiểm cho
người được bảo hiểm đó trước những khiếu nại đã được tiến hành hoặc có thể

Bảo Hiểm phải chịu trách nhiệm với tư cách là người sử dụng lao động hay
với tư cách khác;
6. Đối với vợ chồng, con cái, bố mẹ, anh chị em, họ hàng, người sống
phụ thuộc hay nhân viên của Người Được Bảo Hiểm phát sinh từ việc họ bị
thương tổn về thân thể và/hoặc cá nhân hoặc bị ốm hoặc tử vong, cho dù
Người Được Bảo Hiểm đó có thể phải chịu trách nhiệm với tư cách là người
sử dụng hay với bất kỳ tư cách nào khác;
7. Của bất kỳ nhân viên nào của bất cứ Người Được Bảo Hiểm nào đối
với Thương Tổn Về Thân Thể của một nhân viên khác của Người Được Bảo
Hiểm đó phải chịu trong quá trình tuyển dụng;
8. Đối với tổn thất hoặc thiệt hại xảy ra đối với bất kỳ giếng hay lỗ
khoan nào mà:
i. Đang được khoan hoặc tu bổ bởi Người Được Bảo Hiểm hay nhân
danh Người Được Bảo Hiểm, hoặc
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
21
Khoá luận tốt nghiệp
ii. Thuộc sự trông nom, chăm sóc hoặc kiểm soát của Người Được Bảo
Hiểm, hoặc
iii. Mà Người Được Bảo Hiểm đã cung cấp dịch vụ, thiết bị hoặc nguyên
vật liệu liên quan đến nó;
9. Đối với bất kỳ chi phí hoặc phí tổn nào phát sinh trong việc khoan lại
hoặc khôi phục bất kỳ giếng hoặc lỗ khoan đó hay giếng hoặc lỗ khoan thay
thế khác;
10. Đối với tổn thất hoặc thiệt hại của dụng cụ khoan, ống khoan, ống
nối, ống chống, mũi khoan, bơm, máy móc phục vụ giếng khoan hoặc phục
vụ việc khoan, hay bất kỳ thiết bị nào khác khi chúng ở dưới mặt đất trong bất
kỳ giếng khoan hoặc lỗ khoan nào:
i. Đang được khoan hoặc tu bổ bởi Người Được Bảo Hiểm hay nhân
danh Người Được Bảo Hiểm, hoặc

trừng phạt hoặc làm gương;
14. Phát sinh từ các hàng hoá hay sản phẩm do Người Được Bảo Hiểm
sản xuất, bán, quản lý hoặc phân phối hoặc do những người khác buôn bán
lấy tên Người Được Bảo Hiểm;
15. Đối với thương tổn về thân thể hay thiệt hại về Tài Sản hoặc chi phí
trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra bởi hoặc phát sinh từ:
(i). Phóng xạ ion hoá hoặc nhiễm chất phóng xạ từ bất kỳ nhiên liệu hay
chất thải hạt nhân nào hay từ việc đốt nóng nhiên liệu hạt nhân;
(ii). Chất phóng xạ, chất độc, chất nổ hay các chất nguy hiểm khác hay
chất thải từ các khu vực, lắp đặt lò phản ứng hạt nhân hay các tổ hợp hay một
bộ phận của tổ hợp hạt nhân khác;
(iii). Bất kì vũ khí chiến tranh nào có sử dụng phản ứng phân hạch
và/hoặc phản ứng tổng hợp nguyên tử hoặc hạt nhân hoặc các phản ứng tương
tự.
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
23
Khoá luận tốt nghiệp
(iv). Ô nhiễm phóng xạ cho dù vì bất kì nguyên nhân gì, xảy ra bất kỳ
khi nào và ở đâu.
2.3.3. Giá trị Bảo Hiểm và Số Tiền Bảo Hiểm
Việc xác định chính xác Giá trị bảo hiểm (GTBH) trong bảo hiểm dự án
xây dựng ngoài khơi là việc rất khó khăn và phức tạp. Giá trị đó bao gồm:
- GTBH của phần công tác xây dựng: thường là giá trị ước tính;
- GTBH của máy móc, trang thiết bị xây dựng;
- GTBH cho phần chi phí dọn dẹp;
- Mức trách nhiệm bảo hiểm cho trách nhiệm Dân Sự của người được
bảo hiểm đối với bên thứ Ba do việc thực hiện dự án.
Số tiền bảo hiểm (STBH) dựa vào giá trị bảo hiểm và thoả thuận giữa hai
bên. Người khai thác bảo hiểm thường đưa ra một số phương pháp xác đinh
STBH cho công tác xây dựng, tài sản, máy móc trang thiết bị cho người được

2.3.5. Phí Bảo Hiểm và cách tính Phí
 Các yếu tố tác động đến Phí:
- Giá trị, số lượng và loại tài sản được bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm.
- Mức miễn thường.
- Vị trí của dự án xây dựng lắp đặt ngoài khơi, đặc điểm địa chất của
vùng
- kinh nghiệm của người điều hành, nhà quản lý.
- Thống kê tổn thất của người được bảo hiểm những năm trước đó
- Bối cảnh thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó còn một số các nhân tố khác ảnh hưởng đến phí như là:
khách hàng lâu năm, khách hàng tham gia với số tiền bảo hiểm lớn, tiền sử
các vụ khiếu nại của khách hàng…
Vũ Thị Giang Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 47A
25

Trích đoạn Giải pháp đối với ngành Dầu Khí Việt Nam Kiến nghị đối với nhà nước. Kiến nghị đối với PVI.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status