Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khá sôi động của sự phát triển xã
hội, dới tác động của một nền kinh tế theo cơ chế thị trờng. Nhịp sống khẩn
trơng và sức hấp dẫn của các hoạt động nhằm mang lại lợi ích kinh tế, nhiều
khi đã làm mất đi những giá trị truyền thống tốt đẹp mà bao thế hệ tiền thân
đã chắt chiu, hun đúc lên, đồng thời nó phá vỡ sự cân bằng vốn có của cơ cấu
vật chất - tinh thần. Di tích lịch sử văn hoá của mỗi dân tộc là nơi lu giữ các
giá trị truyền thống và những sinh hoạt văn hoá tại các di tích là sự ôn lại
truyền thống đo, hớng ngời ta tìm về với cội nguồn dân tộc và đa con ngời ta
trở về với Chân - Thiện - Mỹ. Việc nghiên cứu để bảo vệ, tôn tạo, phát huy
tác dụng của các di tích lịch sử văn hoá là nhằm vào việc làm sáng tỏ cái giá
trị văn hoá tinh thần của nhân dân ta góp phần vào việc xây dựng nếp sống
văn hoá mới.
Từ thời xa xa ngời Việt ta đã rất tin vào thần thánh. Ngời vùng cao thì
thờ thần núi, thần hổ, ngời đồng bằng thì thờ thần đất, thần sông, dân vạn
chài thì thờ thần sông biển. Lại có tập tục thờ những anh hùng dân tộc
"Những ngời sinh vì tớng tử vi thần". Sự tin cậy đến mức dân đi lập nghiệp
trên vùng đất mới đều thỉnh thần quê nhà đi theo làm điểm tạ tinh thần. Mỗi
khi có việc hệ trọng đều đến cúi xin thần chỉ bảo, phù trợ. Thần và ngời vừa
cao xa, vừa gần gũi. Đôi khi dân chủ dễ tính nh ngời cùng cảnh ngộ, không
đòi hỏi, chỉ cần hai chữ "lòng thành". Chính vì thế đền, miếu nhiều nh nấm,
làng nào cũng có.
Đền Đào Động thuộc làng Đào Động (dân gian quen gọi là Đồng bình
đọc chệch là Đồng Bằng thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).
Trong đền có nhiều cổ vật quí hiếm đợc trng bày phong phú, đặc biệt nơi đây
chứa đựng giá trị đặc sắc về lịch sử văn hoá và nghệ thuật.
Ngày 22/12/1986, Bộ Văn hoá thông tin ra Quyết định số 225VH/QĐ,
công nhận đền Đào Động là di tích lịch sử văn hoá kiến trúc quốc gia.
Tìm hiểu về di tích lịch sử văn hoá đền Đào Động, với lòng nhiệt thành
em muốn đợc nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về đền nói riêng và các di tích
cận đại.
Theo sách Đại Nam nhất thống chí: Làng Đào Động xa chung rẻo đất
tỉnh Nam Định, thời Hùng Vơng thuộc về Bộ Thang Truyền, thời tiền Lê
(giữa thế kỷ X) thuộc phủ Thái Bình, thời Lý thuộc phủ Long Hng, cuối đời
Trần thuộc huyền Cà Côi, phủ An Tiêm, thời Lê thuộc tổng Vọng Lỗ, huyện
Phụ Thợng, phủ Thái Bình. Năm 1969 UBND tỉnh Thái bình sát nhập Đào
Động vào xã An Lễ, thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo tài liệu điền dã lu tại bảo tàng Thái Bình và tập tài liệu "hớng dẫn
tham quan đền Động Bằng" của tác giả Vũ Đức Thơm cho rằng: Đào Động là
một làng cổ nằm trong khu vực đất cổ phía Bắc tỉnh Thái Bình, có niên đại
khoảng cuối sơ kỳ đồ sắt, cách ngày nay khoảng trên dới 2.000 năm.
Trong tài liệu của UBND xã An Lễ trang 1 "phần mảnh đất và con ngời
Đào Động" viết "Trên đôi bờ dòng sông Đồng Bằng xuất hiện nhiều đống, đ-
ờng đã bị phá huỷ, còn lại phế tích gạch Hán, Tuỳ, Đờng". Đúng vậy, tại
các địa điểm trên hiện đang bảo lu hàng trăm tiêu bản gạch mộ hình lỡi búa,
mặt trong khắc nổi hoa văn trám lồng, rất nhiều mảnh gốm xốp với hoa văn
kẻ vạch thuộc nhóm gốm Đờng Cồ. Vơn khỏi Đào Động về phía Bắc từ 2 đến
5 km ta gặp nhiều mộ Hán ở các xã An Quí, An Thái tại làng Ô Cách, xã
Quỳnh Xá, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Thái Bình tìm đợc hàng trăm
mũi tên đồng, 2 mũi giáo đồng, 2 lục lạp đồng, nhiều rìu đồng đợc các
chuyên gia khảo cổ xếp vào nhóm đồng Đông Sơn muộn lùi xuống phía biển
xa thêm 7km, ngời ta tìm thấy nhiều mẫu gạch xây mộ cổ tơng tự nh trên. Có
thể nói làng Đào Động đợc hình thành cách chúng ta ngày nay khoảng 2.000
năm, hoặc trên dới 2.000 năm một chút.
Ngời công dân đợc ghi vào sự tích thần điển làng là ông già cất vó trên
bến sông Vĩnh (có công nuôi dỡng Thành Hoàng), tên là Nguyễn Minh. Lớp
c dân ban đầu dựa vào các cồn cao nh đống Phan, đống Hng, đống He để
dựng lều trại. Nghe nói thời ấy cá he vào tận bến sỗng vì thể còn địa danh
6km là căn cứ thuỷ bộ Đào Động đợc giao cho Phạm Ngũ Lão - vị tớng nổi
tiếng quê làng Phù Đổng (Hải Dơng) cai quản và dùng làm nơi tập luyện cả
hai đạo bình thuỷ và bộ"
Trên địa bàn thuộc Đào Động và xã An Lễ tìm thấy miếu ông thời điện
tiền tớng quân Phạm Ngũ Lão và quân phu nhân Anh Nguyên (tởng truyền
bà quê làng này, đợc Trần Hng Đạo nhận làm con nuôi, sau gả cho Phạm T-
ớng quân. Lại tìm đợc bài vị "Trần Triều phò mã đô uý Nguyễn Thế Nghĩa"
Tơng truyền: Phạm Ngũ Lão coi luyện quân thuỷ, Nguyễn Chế Nghĩa coi bộ,
các điểm tập trung ngày xa nh: đình Rất, đình Sinh, đình Bến, đình Bơi, đình
Đào đều là bến đón quân về, tiễn quân đi. Khi trừ xong giặp Bắc dân lập đình
để thờ các vị quan tớng thời Trần và các vị Thành Hoàng cũ thuộc trong ấp.
Cách đền Đồng Bằng 600m hiện còn đoạn luỹ thời Trần dài 200m, có
địa danh cổng Tây. Trớc đây còn cổng Đông, cổng Nam, cổng Bắc.. Đào
Động từng đợc mệnh danh là bức thành đồng, tên làng Đồng Bình có từ sự
kiện này. Xuôi cần Vật 100m là cánh dầm Bà, thực ấp của Hoa đào Anh
Nguyên - quận chúa, xa là bãi đỗ thuyền của đại quân nhà Trần Cầu Vật vốn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là sới vật và bãi tập của quân thánh Dực do Trần Hng Đạo quản lĩnh, Phạm
Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa phụ trách. Từ niên hiệu Trung Hng (1285 -
Trần Nhân Tông) đến các triều Anh Tôn (1293 - 1314), Minh Tôn (1314 -
1329) Để tri ân dân bình Đào Động đã nhờng cơm sẻ áo nuôi quân, nhà nhà
là trại lính, xóm xóm là quân doanh Trần triều phò mã Đô Uy và Phạm Điện
Soái đã u tiên hỗ trỡ việc khẩn điền. Nhiều binh sỹ trong các quân doanh trở
lại làm dâu rẻ đa ngời thân về xây dựng quê mới từ đó đất đai đợc khẩn
hoang từ các thôn: Đào Lãng, Cúi Dất. phát triển thêm các khu: Trung,
Cầu, Đông, Đào, từ đây làng Đào Đông trở thành "Đào Động bát trang" một
làng giàu có nổi tiếng của lộ An Tiêm.
Trong 20 năm chống giặc Minh xâm lợc, Đào Động là căn cứ lớn của t-
ớng Phạm Bội (quê xã An Bài cách Đào Động 2km). Trai làng nổi tiếng bởi
theo dòng Đại Lẫm hợp với sông Diêm đổ ra cửa Trần (tức cảng Diêm Điền).
Khách từ kinh thành có thể theo sông Hồng vào cửa Hải thị về sông Đại
Lẫm, khách từ đông Bắc theo sông Thái Bình xuống ngã ba Cầu Xe xuống
Tuần Tranh voà sông Hoá để đến Đào Động đều thuận lợi.
Khách từ mạn biển hoặc theo cửa Thái Bình qua sông Hoá hoặc cửa
Diêm Điền qua sông Diêm đếu có thể đến tận sân đền Đồng Bằng. Năm
1910, ngời Pháp mở quốc lộ 10 từ Ninh Bình qua Nam Định sang thị xã Thái
Bình, đi thị xã Kiến An và thành phố Hải Phòng, đờng quốc lộ kề sát cạnh
đền Đồng Bằng, việc giao thông đi lại về đền càng thuận tiện. Đền sát cạnh
Cầu Vật cách thị xã Thái Bình 20km, cách thành phố Hải Phòng 70km, cách
thị xã Kiến An 59 km.
III- Lịch sử di tích đền đào động.
1. Niên đại xây dựng đền.
Theo truyền thuyết đền là phủ đệ của thuỷ thần Vĩnh Công đại vơng
trấn Tam Kỳ giang linh ứng đại vơng, có công phù vừa Hùng Duệ Vơng dẹp
loạn. Ngày 26/8 năm Mậu Thìn đời Duệ Vơng ông tạ thế, vua cho tiền sửa
sang phủ đệ thành đền miếu cho dân phụng thờ.
Đền thời Lý đền đợc củng cố, sách "Ngàn năm đất và ngời Thái Bình"
xếp đền là "Một trong 4 tứ cổ cảnh triều Lý". Đến thời Trần đền miếu lộng
lẫy, uy nghi. Điện tiền Phạm Ngũ Lão ngợi khen "Đây là cõi thần tiên nhất n-
ớc nhà".
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sang thời Lê, đền đã có đủ năm cung để đủ chỗ thờ Vĩnh Công đại v-
ơng và bốn ban công đồng tứ phủ (đợc đa vào thờ).
Năm Thành Thái kỷ sửu (1889) đợc sự đỡ đầu của Thái Tử thiếu bảo
Hoàng Trọng Phu, dân Đào Động mở rộng quy mô đền rộng 6000m
2
. Năm
Khải Định thứ 9 (1925) có sự bảo lãnh của uỷ viên hội đồng tỉnh Thái Bình,
Vào đời Hùng Duệ Vơng, tại trang An Cố, tổng Bình Lãng, huyện
Thuỵ Vân (sau đổi là Thuỵ Anh nay là huyện Thái Thuỵ) có một ngời tên là
Phạm Công, tinh tờng nho, y, lý, số, làm nghề dạy học, sắc thuốc lấy vợ ngời
làm Mai Diêm (nay là xã Thuỵ Hà, huyện Thái Thuỵ) họ Trần tên Lu. Nhà
này vợ chồng sống hạnh phúc, thích làm việc thiện nh: góp tiền đúc chuông,
tô tợng, sửa chùa không bao giờ thích cúng tiền, luôn giúp ngời nghèo, cho
cơm kẻ đói. chỉ hiềm một nỗi ngoài 40 tuổi mà cha có con nên tâm trạng
nhiều lúc rất buồn. Ông bà thờng rủ nhau đi lễ các đền phủ lớn hoặc chu du
các danh lam cổ tích và càng hết lòng chăm lo việc phúc.
Một hôm ông bà vãng cảnh trang Đào Động, bỗng gặp một cô gái đến
vái lạy, tha rằng: "Con là kẻ tha hơng, cha mẹ mất sớm, không nơi nơng tựa.
Nay gặp ông bà hiền đức xin động lòng thờng, cho con đợc về hầu hạ" Phạm
Công, Trần Thị ngoảnh nhìn thấy thiếu nữ hình dung yểu điệu, t chất thông
minh, nói năng phải đạo liền nhận đa về nhà nuôi, đặt tên là Quí Nơng.
Quí Nơng càng lớn càng xinh đẹp, mặt hoa da phấn, mắt phợng mày
ngài, t chất thông minh, công dung ngôn hạnh đều đẹp. Một nhà hoà hiếu vui
vầy.
Một hôm Quí Nơng ra bãi biển tắm gội, trời đang xanh trong, bỗng
nhiên trở gió, mua bão ầm ầm, chớp giật sấm rền và có một thần Giảo Long
thần dài 8 thớc (3,2m) hiện hình cuộn lấy Quí Nơng 3 vòng. Lát sau, trời
quang mây tạnh, Quí Nơng tỉnh dậy vội trở lại nhà, từ đó trong ngời chuyển
động và tự mang thai, ở nghén 13 tháng. Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, thẹn
nỗi không chồng có con, Quí Nơng ra biển trở dạ sinh đẻ một mình, sinh ra
một bọc máu đỏ, nang hoảng hốt đẩy bọc kia xuống biển. Hôm ấy là ngày 10
tháng giêng năm Đinh Tỵ (rắn có tài). Điềm trời xui khiến gặp lúc triều dâng
đa bọc thiêng vào sâu trong nội đồng.
Thời bấy giờ ở trang Đào Động có một ông già nghèo khó, đức hạnh tên
là Nguyễn Minh làm nghề đánh cá bên sông. Đêm ấy buông vó đã sang giờ
Tý (nửa đêm) mà không bắt đợc con cá nào. Mãi quá nửa đêm kéo vó thấy
nặng, cố kéo lên thì thấy một bọc đỏ nh máu, ông già sợ quá dùng sào đẩy ra,
Tý ngày thứ 3 mơ thấy sứ giả nhà trời cỡi mây hạ đàn bảo rằng: "Vận hội nhà
Hùng cha hết, nếu triệu đợc thần núi Tản Viên, thuỷ thần làng Đào Động hợp
sức mà đánh thì quá 1 tuần là yên".
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đức vua tỉnh dậy, một mặt sai sứ đi triệu Tản Viếnơn thành, một mặt cử
sứ xuống vùng biển về Đào Động trang để vời đức thuỷ thần. Sứ giả vừa tới
đầu trang ấp (chỗ Tam Kỳ gặp sông Đào Đông - bến cửa Vĩnh) thì thấy gió
ma thét gào, đầy trời sấm chớp, nớc cửa Vĩnh gầm lên, nớc sông Tam Kỳ
cuộn sóng và một thuỷ thần cỡi sóng giữ nói lớn: "Ta là thuỷ thần sông Vĩnh,
tự là Vĩnh Công chờ sứ giả ở đây" sứ giả vui mừng khôn xiết rớc thần về kinh
đô. Vĩnh Công triệu vơng lão, trai tráng Đào Động chọn lấy 9 chàng trai
khoẻ nhất sung làm gia thần thủ túc, lại cùng sứ giả xuống xuống Thanh Do,
Mai Diêm đón đệ nhị linh xà, đệ tam linh xà về kinh bái yết vua. Vua Duệ
thấy 3 ông, thân ngời đầu cá, dáng vóc nh rồng, tiếng nói nh sấm, lực địch
vạn ngời, bàn mu tính kế nh thần thì cả mừng; phong thần Tản Viên là tớng
tiên phong lo đánh các đạo sơn lâm. Vĩnh Công và nhị vị linh xã làm trung
quân lo việc lấy quân vùng biển Sơn Nam và ái Châu để đánh vùng ven biển
và hải đảo, lại cử thêm 1.000 tớng lĩnh, 12 vạn hùng binh theo 2 ông đánh
giặc. Thần Vĩnh Công làng Đào Động và nhị vị long xà đi đến đâu, các loài
ba ba, thuồng luồng và muôn trùng thuỷ tộc đều theo sóng cồn cùng kéo ra
đảo, chỉ đánh vài trận quân Thục phải qui hàng. Phía vùng rừng núi, thần Tản
Viên đa cả hùm, beo, gấu ra trận, giặc khiếp đảm mà chết. Hai ông làm biểu
tiếp báo về kinh, vua cho quân hai đạo đợc ca khúc khải hoàn.
Trong lễ mừng công, Vua Duệ Vơng phong đức Vĩnh Công là thợng
đẳng công thần, Vĩnh Công và các em vái tạ ơn vua không nhận chức tớc, chỉ
xin xá hết tô, binh, tạp dịch cho dân trang Đào Động để trả nghĩa tình mảnh
đất và con ngời đã gắn bó với ông. Vua Hùng chuẩn tấu. Thần Vĩnh Công về
Đào Động, tổ chức yến tiệc linh đình khen thởng nam phụ, lão ấu. Thởng
công cho 9 gia thần thủ túc làng Đào theo mình xông pha trận mạc. Từ đó
hạnh, có tài cầm kỳ thi hoạ đợc phụ vơng cho thị nữ Tiểu Mai theo hầu. Thấy
cảnh trần gian tơi đẹp, bà nhiều lần hoá thành nữ khách đi du lang các nơi
danh lam Đại Việt. Một lần gặp đợc trang nam tử khôi ngô tuấn tú, đó là tiến
sỹ Trơng Kính Xuyên. Hai ngời đọc thơ, ngâm vịnh, tâm đầu ý hợp liền kết
nghĩa tào khang; vợ chồng từng một thuở hạnh phúc. Thế rồi Tiểu Mai điêu
ngoa đơm đặt nói xấu long cung công chúa, kính xuyên tin lời đầy đoạ nàng
nơi sơn cùng thuỷ tận, sống với vờn trúc, rừng mai và chim muông cầm thú,
phải ăn quả rừng, uống nớc suối May gặp tú tài Liễu Nghị tận tình đa th về
thủ phủ. Vua cha sai Thái tử đem kiệu đón công chúa về, sai Xích Lân bắt
Kính Xuyên, Thảo Mai trị tội, lại gả công chúa cho Liễu Nghị và phong cho
công chúa chức Mẫu Nghi Thoải phủ, lu cạnh bên điện vua cha.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sự tích ấy mấy ngàn năm không ai biết tới, mãi đến khi bà Lê Thị Liễu
Hạnh là cung nga hầu cận Ngọc Hoàng vì đánh vỡ chén quỳnh bị vua cha
Ngọc Hoàng giáng vào cửa họ Lê làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, phủ Thiên
Trờng kể lại, dân Đào Động mới hay chuyện cũ, tích xa, liền tả bị thần vị, lập
cung thờ. Rớc thánh mẫu Thoải thờ bên cạnh đức vua cha.
Khi mà Mẫu Thoải đợc hội nhập vào đền Đào Động thì tam toà thánh
mẫu: Thiên Phủ, mẫu thợng ngàn cũng có mặt trong thần điện vua cha Bát
Hải.
Khoảng từ niên hiệu Vĩnh Tộ, Đức Long, Dơng Hoà Thịnh Đức, triều
Lê Thần tôn (1619 - 1662) chùa chiền mọc thiêm nh nấm.
Tại trang Đào Động ngoài chùa Đào, dân bản xã lập thêm chùa Đồng
Ông , chùa Đoài, có đủ tam bảo, chùa ông Hộ, ban phủ Mẫu Liễu. Đây cũng
là thời kỳ Đào Động hồi sức sau nội chiến Nam Bắc triều, có điều kiện tu bổ
mở rộng đền, lập thêm cung thờ từ vị Chầu Bà, Ngũ vị tôn ông, Tứ phủ quan
hoàng, lập ban cô, ban cậu. Thế là đền làng Đào Động chính thức đợc tôn
vinh là vua cha Bát Hải (phụ vơng Mẫu Thoải). Từ đây Đào Động có danh
nghĩa: Một trong những nôi sinh của đạo Mẫu. Đền Đào Động là chính từ