ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, không sao chép
các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình và được
thực hiện dưới sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn TS. Phạm Đình Thưởng – Phó Vụ
trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương. Các nội dung nghiên cứu và các thông tin
thứ cấp, những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét,
đánh giá được chính người viết thu thập và tổng hợp từ các nguồn khác nhau sử
dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Ngoài ra, đề tài còn
sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, chuyên gia, các
cơ quan, tổ chức khác và được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2014
Người viết
Trương Hoàng Hoài Linh
2.1.1.Định hướng chính sách và chiến lược phát triển ngoại thương của Việt
Nam trong thời gian qua 39
2.1.2.Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý ngoại thương của Việt Nam
và những cam kết quốc tế liên quan đến ngoại thương 44
2.2.Phân tích thực trạng sử dụng các công cụ quản lý ngoại thương ở Việt
Nam…………… 46
2.2.1.Quản lý ngoại thương thông qua việc sử dụng các công cụ thuế 46
2.2.2.Quản lý ngoại thương thông qua các biện pháp phi thuế quan 48
2.2.3.Quản lý ngoại thương thông qua việc sử dụng các biện pháp phòng vệ
thương mại……. 50
2.2.4.Quản lý ngoại thương thông qua các công cụ xúc tiến thương mại 55
iv
2.2.5.Sử dụng các công cụ tỷ giá hối đoái để điều tiết hoạt động ngoại
thương……… 57
2.2.6.Quản lý hoạt động ngoại thương thông qua các công cụ tín dụng 60
2.2.7.Sử dụng các công cụ kiểm soát đặc thù trong quản lý ngoại thương 62
2.2.8.Sử dụng các công cụ kiểm soát hoạt động của thương nhân 67
2.2.9.Sử dụng các công cụ kiểm soát hàng hóa, phương thức xuất nhập khẩu,
xuất xứ hàng hóa 68
2.3.Đánh giá thực trạng sử dụng các công cụ quản lý ngoại thương trong chính
sách ngoại thương của Việt Nam 74
2.3.1.Những thành quả đạt được 74
2.3.2.Những hạn chế và nguyên nhân 76
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC,
HIỆU QUẢ TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ NGOẠI
THƢƠNG 86
3.1.Giải pháp chung 86
3.2.Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ điều tiết, kiểm soát
ngoại thương……… 87
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
BCT
Bộ Công Thương
BOT
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao
BT
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao
BTM
Bộ Thương Mại
BTO
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
C/O
Giấy chứng nhận xuất xứ
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CODEX
Tiêu chuẩn nhận diện, đánh giá, và kiểm soát các mối nguy
hiểm ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm
EC
Ủy ban Châu Âu
EU
Liên minh Châu Âu
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA
Thỏa thuận khu vực thương mại tự do
GATS
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
thực vật của WTO
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TBT
Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TPP
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
TW
Trung ương
UBTVQH
Ủy Ban Thường vụ Quốc hội
UNCTAD
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
USD
Đồng đôla Mỹ
VER
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
VJEPA
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
VNĐ
Việt Nam đồng
WB
Ngân hàng thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
AJCEP
ASEAN – JAPAN Comprehensive Economic Partnership
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
ATIGA
ASEAN Trade In Goods Agreement
C/O
Certificate of Origin
EC
European Community
EU
European Union
FDI
Foreign Direct Investment
FTA
Free Trade Agreement
GATS
General Agreement on Trade in Services
GATT
General Agreement on Tariffs and Trade
GSP
Generalized System of Preferences
GDP
Gross Domestic Product
HPAEs
High Performance Asian Economies
HS
Harmonized Commodity Description and Coding System
L/C
Letter of Credit
Bảng 1.1 Chính sách ngoại thương và hai chiến lược phát triển 8
Bảng 1.2 Hàng rào thuế quan thực tế tại một số nước đang phát
triển
8
Bảng 2.1 Lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2014
69
Bảng 2.2 Hạn ngạch thuế quan 0% cho hàng hóa nhập khẩu từ
Lào, Campuchia
70
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục quá trình chuyển đổi sâu sắc theo hướng
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế ngày càng sôi động. Tình hình đó đã và đang đòi hỏi Nhà nước
phải đổi mới phương pháp và công cụ quản lý nền kinh tế để nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý. Đồng thời, việc trao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho doanh
trọng tâm là các công cụ kinh tế nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu là rất cần
thiết và cấp bách.
2
Trong thời kỳ tới, cục diện thế giới sẽ có nhiều biến chuyển khó lường, bên
cạnh sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa, khu vực hóa và
tự do hóa thương mại tiếp tục là xu thế chủ đạo, nhưng chủ nghĩa bảo hộ đang nổi
dậy và chủ nghĩa khu vực đang tăng lên. Cấu trúc thương mại toàn cầu đang thay
đổi nhanh, các nước tiếp tục dựng lên các hàng rào bảo hộ mới ngày càng tinh vi.
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, hội nhập khu
vực sâu hơn, nhưng mức độ tranh giành ảnh hưởng, tranh giành thị trường của các
nước lớn tại khu vực này sẽ tăng lên.
Đối với nước ta, sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế nước ta tiếp tục hội nhập
quốc tế sâu hơn theo các cam kết FTA theo mô hình WTO. Đến nay, nước ta đã
tham gia 7 FTA khu vực và song phương, giá trị thương mại hai chiều giữa Việt
Nam với các đối tác đã ký FTA đã chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch ngoại
thương của Việt Nam. Thời kỳ tới nước ta đang đàm phán để ký kết tham gia một
số FTA chất lượng cao như Hiệp định TPP, FTA với EU, FTA với Liên minh Hải
quan Nga – Belarus – Kazakhstan. Bối cảnh đó cũng đặt ra nhu cầu bức thiết đòi
hỏi nước ta phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng các công
cụ quản lý ngoại thương để thích ứng với bối cảnh mới.
Với những vấn đề cấp thiết trên, tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài khóa
luận là: “Các công cụ quản lý ngoại thương và thực trạng sử dụng trong chính sách
ngoại thương của ViệtNam” để phân tích các công cụ quản lý ngoại thương được sử
dụng hiện nay và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ngoại
thương của Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm chỉ ra những bất cập của hệ thống chính sách và pháp
luật trong việc sử dụng các công cụquản lý ngoại thương hiện nay nhằm đề xuất các
Chương II: Phân tích thực trạng sử dụng các công cụ quản lý ngoại
thương trong chính sách ngoại thương của Việt Nam.
Chương III: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong
việcsử dụng các công cụ quản lý ngoại thương.
Để hoàn thành bài viết này, tôi xin chân thành cám ơn toàn thể quý thầy, cô
tại Học viện Chính sách và Phát triển và các thầy cô khoa Kinh tế đối ngoại đã giúp
đỡ tôi nhiệt tình trong việc giải đáp các thắc mắc liên quan đến việc làm khóa luận.
Đặc biệt tôi xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn khóa luận của tôi là TS. Phạm Đình
Thưởng – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương– người đã tận tình chỉ
dạy, hướng dẫn và cung cấp tài liệu cùng những thông tin bổ ích cho tôitrong suốt
quá trình hoàn thành bài luận này.
Tuy nhiên, do kiến thức của bản thân và nguồn tài liệu còn hạn chế nên khóa
luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôirất mong sẽ nhận được
những nhận xét đánh giá, góp ý của các thầy, cô để khóa luận của tôi được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ TRONG CHÍNH SÁCH
NGOẠI THƢƠNG
1.1. Chính sách ngoại thương và xu hướng phát triển trên thế giới
1.1.1. Ngoại thương và các quan điểm về chính sách ngoại thương
a. Khái niệm ngoại thương
Ngoại thương là sự buôn bán, trao đổi xuyên biên giới, với các nước, lãnh thổ
công nghiệp, đầu tư, xúc tiến thương mại Các nghiên cứu theo hướng này đã xuất 1
Manual of Statistics on international trade in services (2002) Department of economic and social affairs-
United Nations.
5
hiện rất sớm, khởi phát từ bình minh của thương mại quốc tế cho đến ngày nay. Tuy
nhiên, cùng với thời gian, các hướng nghiên cứu dựa trên quan điểm này đang gặp
phải những khó khăn nhất định. Quá trình tự do hóa thương mại được hỗ trợ mạnh
mẽ của các khuôn khổ quốc tế - các hiệp định thương mại quốc tế song phương và
đa phương làm giảm hiệu quả quản lý rõ rệt, thậm chí loại trừ nhiều công cụ chính
sách áp dụng tại biên giới; chính sách thương mại phải đối mặt với độ phức tạp gia
tăng với sự giao thoa chặt chẽ với các lĩnh vực chính sách khác như khoa học công
nghệ (an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường), với xu hướng tiêu dùng (bảo vệ súc
vật, lao động trẻ em), với văn hóa – xã hội (phát triển bền vững, nhận dạng văn hóa,
các tiêu chuẩn lao động ).
Trên thực tế, dòng quan điểm này không còn quá mới đối với kinh tế học mà
tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
hay các tổ chức hợp tác kinh tế như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)
đều đã bắt đầu triển khai các nghiên cứu theo hướng này từ giữa thập niên 80. Xuất
phát từ những nghiên cứu của giải Nobel kinh tế học D.North (1990) cho rằng sự
khác biệt về thu nhập trên thế giới nằm chủ yếu tại sự khác biệt về chất lượng thể
chế
2
, các nghiên cứu về “quản trị khu vực công” (public sector governance)
3
của
Working Paper Series từ 1995-2009.
6
riêng rẽ nay phải có các cơ chế để đánh giá mức độ hiệu quả của các thiết chế này
như giúp chúng làm việc với nhau, phục vụ cho một chiến lược ngoại thương cụ
thể, với các định hướng, mục tiêu rõ ràng. Các thiết chế trong dòng quan điểm này
có thể hiểu là các cơ quan chính phủ, các cơ quan đại diện của xã hội dân sự, và
thậm chí các tầng lớp nhân dân. Sự thừa nhận chính sách ngoại thương theo nghĩa
rộng có ý muốn nói rằng chính phủ và xã hội dân sự phải có một mục tiêu rộng,
tổng thể và phải xem xét thực hiện các mục tiêu đó trong mối quan hệ tương hỗ
giữa nhiều khu vực chính sách khác nhau cũng như phải xem xét đến tính hiệu quả
của hệ thống thể chế hiện hữu. Mô hình nghiên cứu mang tính hình mẫu theo hướng
này được tóm tắt theo hình dưới đây:
Hình 1.1 Mô hình quy trình thiết kế chính sách ngoại thương
5
(Nguồn: OECD DAC Guildlines (2001): Strengthening Trade Capacity for
Development)
Dựa vào những phân tích trên đây về các dòng quan điểm chính sách ngoại
thương có thể thấy, cùng với sự phát triển, hội nhập nền kinh tế, mở rộng thương
mại quốc tế thì khái niệm về chính sách ngoại thương cần được hiểu theo một nghĩa
rộng hơn và khái quát hơn. Chính sách ngoại thương mà mỗi quốc gia xây dựng
hiện nay là một hệ thống luật điều chỉnh các công cụ quản lý ngoại thương để thực
hiện mục tiêu chung nhất trong chính sách và phương hướng phát triển của đất
nước. Chính vì vậy, nghiên cứu chính sách ngoại thương không chỉ đơn thuần là
nghiên cứu các công cụ áp dụng tại biên giới nữa mà phải đánh giá một cách bao
quát về tổng thể tình hình phát triển nền kinh tế. Từ đó, vạch ra chiến lược ngoại
thương với mục tiêu cụ thể, rõ ràng, xem xét sự phù hợp của chúng trong mối tương
tiêu dùng và quốc gia trong hoạt động ngoại thương cũng chính là mục tiêu quan
trọng của chính sách ngoại thương. Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu
thành trong chính sách kinh tế mỗi quốc gia, tuy nhiên, nó cũng có những đặc điểm
riêng sau:
- Việc ban hành chính sách ngoại thương là công việc nội bộ của mỗi quốc
gia, xuất phát từ lợi ích của quốc gia đó nhưng không được gây tổn hại đến
lợi ích của quốc gia khác.
- Chính sách ngoại thương là cầu nối liên kết kinh tế trong nước với kinh tế
thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho một quốc gia hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và quốc tế một cách hiệu quả nhất.
- Chính sách ngoại thương có nhiệm vụ cân bằng cán cân thanh toán. Các hoạt
động ngoại thương không chỉ đơn thuần tác động đến sự phát triển và cân đối
nền kinh tế quốc gia mà còn tác động đến cán cân thanh toán quốc tế.
1.1.3. Xu hướng ngoại thương được áp dụng trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây, hầu hết các quốc gia đang phát triển đều sử
dụng một trong hai chính sách (chiến lược) ngoại thương chính, đó là: công nghiệp
8
hóa thay thế nhập khẩu (import substituting industrialization) và công nghiệp hóa
hướng xuất khẩu (export-oriented industrialization)
6
.
Nội
dung
Thay thế nhập khẩu
Định hƣớng xuất khẩu
Mục
tiêu
Phát triển năng lực các ngành sản
Mặt trái
Hạn chế mức độ cạnh tranh.
Thị trường các yếu tố đầu vào bị
méo mó, thiếu hụt.
Chi phí hành chính tăng cao.
Thâm hụt cán cân thương mại kéo
dài (do duy trì nhập khẩu trong
nhiều năm).
Ảnh hưởng lớn của các nhóm lợi
ích.
Thiếu thông tin nhiều mặt về thị
trường, đối tác
Gặp phải vấn đề tiếp cận thị
trường (do các đối tác dựng rào
cản).
Khó khăn tạo sự lan tỏa lợi ích
trong nền kinh tế (khó để thuyết
phục các nhóm lợi ích về tự do
hóa thương mại).
Bảng 1.1 Chính sách ngoại thương và hai chiến lược phát triển
Phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu là một hướng chiến lược chủ chốt của
các nước đang phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm giữa
thập niên 80. Xuất phát từ những nghiên cứu gần như đồng thời của Singer (1949,
phát biểu tại Liên Hiệp Quốc) và Raúl Prebisch (1950) trong đó ý tưởng chủ đạo 6
Chang Ha Joon, (2002), “Kick away the development ladder”, Antchem Press London 2002.
9
(Nguồn: Balassa (1971) The structure of protection in developing countries)
Tuy nhiên, cho đến cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, các chính sách
ngoại thương này đã bộc lộ những yếu điểm, trên thực tế nó không hoàn toàn phù
hợp cho giai đoạn sau của công nghiệp hóa. Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ
trước chứng kiến hàng loạt những cuộc cải cách ngoại thương quy mô lớn và triệt
để tại các quốc gia mà ở đó chính sách phát triển sản xuất thay thế nhập khẩu đã
từng thượng tôn trong hàng thập kỷ. Theo đó, Hàng rào thuế quan được hạ xuống ở
hầu hết các khu vực trên thế giới.
7
CHANG Ha Joon, (2002), “Kick away the development ladder”, Antchem Press London 2002.
10
Biểu đồ 1.1 Hàng rào thuế quan tại các nước đang phát triển 1980-1999
(Nguồn: World Bank (2001))
Trên thực tế, hầu hết các quốc gia bám chặt lấy hệ thống chính sách phát triển
này đều đã thất bại. Từ những năm 1950 cho đến những năm của thập kỷ 70, người
dân Ấn Độ chỉ thấy thu nhập của họ tăng vài phần trăm (ví dụ của Ấn Độ phản ánh
tình trạng chung của các nước Nam Á). Các nước Châu Mỹ la – tinh có nước ở
trong tình trạng cải thiện hơn chút ít (Braxin) nhưng cũng có nước trước đó được
xếp hạng là nước giàu phải chứng kiến thu nhập trên đầu người của họ sụt
giảm(Áchentina) cho đến khi những cải cách ngoại thương được áp dụng. Tại Châu
Mỹ Latin
8
, chỉ có duy nhất một nước đã vươn lên để trở nên giàu có hơn là Chilê do
đã có một bước chuyển hướng chiến lược vào giữa những năm 70: dưới sự độc tài
của giới quân sự, đặc biệt của tướng Pinôchê, đất nước Chilê gặp phải rất nhiều khó
11
Cùng với sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế, thương mại ngày càng phát
triển, việc áp dụng chính sách ngoại thương của các quốc gia cũng phải thay đổi
linh hoạt hơn để phù hợp với xu hướng chung của nền kinh tế. Một xu hướng tất
yếu trong thời kỳ hội nhập đó là hầu hết các quốc gia, phát triển hay đang phát triển
đều ngày càng gia tăng sử dụng các hàng rào kỹ thuật thay vì tăng thuế quan.
Biểu đồ 1.2 Xu hướng tăng sử dụng hàng rào kĩ thuật/ Xu hướng giảm thuế
quan tại các nước phát triển và đang phát triển
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho rằng việc áp dụng rập khuôn các mô hình
phát triển chưa chắc đã mang lại hiệu quả tốt nhất cho nền kinh tế. Theo đó, việc tốt
nhất mà các nước đang phát triển có thể làm là áp dụng các công cụ ngoại thương
một cách tốt nhất trong hoàn cảnh của các nước đó thông qua các thể chế hiện có.
Một bước đột phá trong hiệu quả sử dụng các công cụ của chính sách ngoại thương
chỉ có thể thông qua sự cải cách các thể chế hiện có (tăng cường năng lực, sự phối
hợp, trao quyền ) khiến chúng hoạt động hiệu quả hơn, tận dụng tốt hơn các công
cụ sẵn có.
9
1.2. Công cụ quản lý ngoại thương
1.2.1. Khái niệm công cụ quản lý ngoại thương
Các công cụ quản lý ngoại thương thuộc phạm trù quản lý nhà nước về ngoại
thương. Quản lý nhà nước về ngoại thương là sự tổ chức và điều khiển các lĩnh vực
hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động liên quan bằng hệ thống các công cụ
quản lý và những phương pháp phù hợp thông qua hệ thống tổ chức bộ máy quản lý
nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Trong đó, các cơ quan quản lý nhà nước về
ngoại thương (chủ thể quản lý) sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý ngoại
ngạch thuế quan, thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng hay còn gọi là thuế chống
trợ cấp, thuế bổ sung để thực hiện biện pháp tự vệ đặc biệt trong các trường hợp
khẩn cấp, phụ thu nhập khẩu, công cụ tỷ giá hối đoái, công cụ lãi suất tín dụng xuất
khẩu, trợ cấp xuất khẩu và bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm xuất khẩu, quỹ dự
trữ ngoại hối và các loại quỹ khuyến khích xuất khẩu, xúc tiến xuất khẩu…
- Các công cụ, biện pháp có tính chất hành chính như: giấy phép xuất nhập
khẩu, hạn ngạch nhập khẩu và giới hạn xuất khẩu tự nguyện, quy hoạch ngành/lĩnh
vực, các yêu cầu thành phần của địa phương, các biện pháp quản lý hải quan được
sử dụng trong thông quan và sau thông quan
b. Phân loại theo mục đích sử dụng
- Các công cụ quản lý dài hạn như: chiến lược xuất nhập khẩu, quy hoạch
ngành và phân ngành, các kế hoạch trung và dài hạn, các chương trình phát triển
xuất khẩu dài hạn…
13
- Các công cụ được sử dụng nhằm thực hiện việc kiểm soát và tác động trực
tiếp có tính ngắn hạn đến hoạt động ngoại thương như: các công cụ hành chính như
giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các công cụ kinh tế như phụ thu thuế xuất
nhập khẩu, lãi suất tín dụng, hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu…
- Các công cụ, biện pháp được Chính phủ sử dụng để can thiệp đến hoạt động
ngoại thương trong các tình huống đột xuất và phù hợp với quy định của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) nhằm bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ, bảo vệ an ninh
quốc gia, bảo vệ cán cân thanh toán, bảo vệ người tiêu dùng, trả đũa thương mại,
bảo vệ nhân quyền như: quy định tỷ lệ giá trị trong nước của hàng xuất khẩu, quy
định hạn chế nhập khẩu, phụ thu thuế nhập khẩu, thuế đối kháng, quy định tiêu
chuẩn lao động
- Các công cụ được sử dụng nhằm kích thích lợi ích kinh tế của các chủ thể
kinh tế tham gia hoạt động ngoại thương như: lãi suất, tỷ giá hối đoái, các loại quỹ
như quỹ xúc tiến xuất khẩu, bảo hiểm xuất khẩu…
cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến
khi chúng đủ vững mạnh để có thể cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài. Do bị đánh
thuế, hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn so với hàng nội địa có thể thay thế và điều này
làm giảm lượng nhập khẩu. Đồng thời, thuế quan nhập khẩu có thể được áp dụng để
trả đũa các biện pháp hạn chế thương mại do các quốc gia khác tiến hành. Hiện nay
trên thế giới, thuế xuất khẩu ít được sử dụng hơn, chủ yếu đánh vào các mặt hàng
mà Nhà nước không khuyến khích xuất khẩu như các mặt hàng sử dụng các nguồn
tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quan trọng
của nó đối với sự an ninh lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết.
Tuy nhiên, cả thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu đều có tác dụng tăng nguồn thu cho
ngân sách nhà nước. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, nguồn thu từ thuế chiếm
một tỷ trọng rất lớn trong ngân sách quốc gia.
- Phân loại
Thuế quan có thể được chia làm nhiều loại phụ thuộc vào các tiêu chí phân
loại khác nhau.
Nếu dựa trên đối tượng chịu thuế, thuế quan gồm hai loại: thuế nhập khẩu,
thuế xuất khẩu.
Nếu căn cứ vào phương thức tính thuế, thuế quan được chia thành ba loại:
thuế quan đặc định, thuế theo giá trị và thuế quan hỗn hợp.
Thuế quan đặc định là loại thuế được tính theo giá trị cố định bằng tiền trên
một đơn vị hàng hóa. Khoản thuế do vậy sẽ phụ thuộc vào lượng hàng xuất, nhập
khẩu mà không phụ thuộc vào giá cả hay giá trị của hàng hóa. Ưu điểm của loại
thuế này là dễ thu, hạn chế việc khai man giá hàng hóa để trốn thuế. Tuy nhiên,
cách thu này khá cứng nhắc nên hiệu quả bảo hộ có thể không được đảm bảo.
Thuế quan tính theo giá trị hàng hóa được đánh theo một tỷ lệ phần trăm cố
định trên giá trị của một đơn vị hàng hóa. Nhược điểm của loại thuế này là khó
khăn trong việc áp dụng vì nhân viên hải quan cần có nghiệp vụ chuyên môn để
đánh giá đúng giá trị của hàng hóa để từ đó xác định đúng mức thuế. Chẳng hạn,
người ta phải làm rõ những gì được đưa vào giá trị hàng hóa: chi phí sản xuất, bảo
hiểm, chi phí vận chuyển… Tuy vậy, loại thuế này đã được sử dụng rộng rãi trên
sách thuế quan. Biểu thuế quan của các nước thường được xây dựng theo mẫu quy
định của Tổ chức Hải quan thế giới, thể hiện theo mã HS, thường từ 6 – 10 số (tùy
điều kiện của mỗi nước). Trong hội nhập thương mại quốc tế theo mô hình WTO,
nhất là trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA), danh mục hàng hóa cắt giảm
thuế quan nhập khẩu theo cam kết giữa các đối tác thường được xác lập theo 4
Danh mục: Danh mục thông thường, Danh mục nhạy cảm thường, Danh mục nhạy
cảm cao và Danh mục loại trừ.
- Tác động của thuế quan đến nền kinh tế
Tác động rõ nhất và trực tiếp nhất của thuế quan là tác động đối với mức giá
nội địa. Thuế quan chủ yếu là thuế nhập khẩu, từ đó tạo ra sự chênh lệch giữa giá
nội địa và giá thế giới của hàng hóa. Về mặt kinh tế, thuế nhập khẩu gây thiệt hại
cho người tiêu dùng vì họ buộc phải trả nhiều tiền hơn, hoặc phải mua số lượng
hàng hoá ít hơn, hoặc cả hai. Ngược lại, nhờ thuế quan, các nhà sản xuất nội địa thu
được lợi thông qua gia tăng số lượng cũng như giá bán các sản phẩm của họ. Tuy
nhiên, lợi ích nhà sản xuất thu được không bù đắp được thiệt hại người tiêu dùng
phải gánh chịu. Các nhà sản xuất có lợi nhờ tăng giá chỉ với lượng hàng nội địa,
trong khi người tiêu dùng phải trả giá cao hơn cho cả hàng trong nước và hàng nhập
16
khẩu. Do đó, nếu chỉ tính đến nhà sản xuất và người tiêu dùng thì thuế quan mang
lại thiệt hại.
Tuy vậy, ảnh hưởng của thuế quan lên nền kinh tế không chỉ là thay đổi thu
nhập của nhà sản xuất và người tiêu dùng, thuế quan còn mang thu nhập cho ngân
sách nhà nước.
Bên cạnh đó, tác động của thuế quan nhập khẩu và xuất khẩu cũng khác
nhau. Thuế nhập khẩu làm tăng giá hàng nhập khẩu, làm giảm số lượng nhập và số
dư của người tiêu dùng, làm tăng số dư của người sản xuất nội địa, làm di chuyển
nguồn nhân lực từ ngành xuất khẩu này sang ngành xuất khẩu cạnh tranh khác.
Trong khi đó, thuế xuất khẩu làm giảm giá nội địa hàng hoá xuất khẩu, làm giảm
khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử trong một số trường hợp được quy định cụ
thể trong GATT 1994 (Điều XX, Điều XXI, Điều XIX…).
Một vụ việc nổi tiếng liên quan tới cấm nhập khẩu là vụ Mỹ - Cấm nhập khẩu
tôm và các sản phẩm tôm. Từ ngày 1/5/1996, Mỹ quy định mọi kiện hàng tôm và
các sản phẩm tôm gửi lên tàu vào Mỹ phải kèm theo tờ khai của người xuất khẩu
tôm chứng nhận rằng tôm được đánh bắt theo các điều kiện không gây ảnh hưởng
bất lợi cho rùa biển và sẽ cấm nhập khẩu các loại sản phẩm này nếu không thỏa
mãn yêu cầu trên. Một loạt các nước: Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đã
phản đối quy định này của Mỹ và đưa vụ việc ra giải quyết tại WTO.
Hạn ngạch:
Hạn ngạch hay hạn ngạch nhập khẩu là quy định của nhà nước để giới hạn về
khối lượng hoặc giá trị của một số các hàng hóa nhất định được nhập khẩu nói
chung hoặc nhập khẩu từ một thị trường nào đó, trong một thời hạn nhất định,
thường là một năm. Trên thực tế, các hạn ngạch về số lượng được áp dụng nhiều
hơn hạn ngạch về giá trị, do việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó thực hiện
hơn.
Một ví dụ cho việc sử dụng hạn ngạch nhập khẩu có thể kể đến trường hợp
Nhật Bản. Hệ thống hạn ngạch của Nhật bản được phân chia làm 4 nhóm: nhóm
Hạn ngạch nhập khẩu theo kế hoạch, Hạn ngạch nhập khẩu hỗn hợp, Hạn ngạch đặc
biệt cho vùng Okinawa, và Các hạn ngạch vì mục đích đặc biệt. Các mặt hàng thuộc
phạm vi điều chỉnh của hệ thống hạn ngạch nhập khẩu của Nhật Bản bao gồm:
- Nhóm mặt hàng không được đưa vào tự do hóa theo quy định của WTO do
có khả năng gây tổn hại tới cộng đồng (vũ khí, súng cầm tay các loại, thuốc
phiện );
- Nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu để bảo vệ sản xuất trong nước (chủ
yếu là sản phẩm nông sản, hải sản );
- Nhóm mặt hàng động thực vật thuộc danh sách cần bảo vệ theo Công ước
Washington.
Các mặt hàng thuộc danh mục cần hạn ngạch nhập khẩu vào Nhật Bản sẽ