phân tích hiệu quả của mô hình lúa tôm càng xanh xen canh ở huyện hồng dân tỉnh bạc liêu - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ĐÀO THỊ KIM BA

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH LÚA - TÔM CÀNG
XANH XEN CANH Ở HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN

ĐÀO THỊ KIM BA

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH LÚA - TÔM CÀNG
XANH XEN CANH Ở HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN

Cán bộ hướng dẫn
PGs. Ts DƯƠNG NHỰT LONG
Ks. PHAN HẢI ĐĂNG


Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ thả giống trung bình 1,38±0,64 con/m2. Thời gian nuôi từ 5 - 11 tháng,
khối lượng tôm nuôi trung bình là 38,87±7,45 g/con, tôm đạt tỷ lệ sống từ 10 – 33,75%, năng suất tôm nuôi
ở các ruộng dao động từ 51 – 200 kg/ha/vụ. Tổng chi phí bình quân của mô hình 16,73±4,34 tr.đ/ha/vụ.
Tổng lợi nhuận thu được từ mô hình trung bình 20,28±7,16 tr.đ/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận trung bình là
128,94±55,84%, hiệu suất đồng vốn 2,29±0,56 lần/vụ. Lợi nhuận thu từ tôm càng xanh là 11,07±4,55
tr.đ/ha/vụ với tỷ suất lợi nhuận là 109,96±96,56%, lợi nhuận thu từ lúa 16,15±7,40 tr.đ/ha/vụ với tỷ suất
lợi nhuận trung bình là 108,83±68,70%. Trong mô hình sản xuất này có 100% số hộ nuôi đều có lợi nhuận,
không có hộ nào bị lỗ.
Từ khóa: Tôm càng xanh, Macrobrachium rosenbergii, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả tài chính, chi phí, lợi
nhuận.


PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH LÚA - TÔM CÀNG XANH
XEN CANH Ở HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU
Đào Thị Kim Ba và Phan Hải Đăng và Dương Nhựt Long
Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nhằm phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm càng xanh kết hợp
với lúa ở vùng nước lợ, đề tài “Phân tích hiệu quả của mô hình Lúa – Tôm càng xanh xen
canh ở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện từ tháng 08 năm 2014 đến tháng
12 năm 2014 thông qua phỏng vấn trực tiếp 30 hộ tại huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ thả giống trung bình 1,38±0,64 con/m2. Thời gian
nuôi từ 5 - 11 tháng, khối lượng tôm nuôi trung bình là 38,87±7,45 g/con, tôm đạt tỷ lệ
sống từ 10 – 33,75%, năng suất tôm nuôi ở các ruộng dao động từ 51 – 200 kg/ha/vụ.
Tổng chi phí bình quân của mô hình 16,73±4,34 tr.đ/ha/vụ. Tổng lợi nhuận thu được từ
mô hình trung bình 20,28±7,16 tr.đ/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận trung bình là
128,94±55,84%, hiệu suất đồng vốn 2,29±0,56 lần/vụ. Lợi nhuận thu từ tôm càng xanh là
11,07±4,55 tr.đ/ha/vụ với tỷ suất lợi nhuận là 109,96±96,56%, lợi nhuận thu từ lúa
16,15±7,40 tr.đ/ha/vụ với tỷ suất lợi nhuận trung bình là 108,83±68,70%. Trong mô hình

nước ngọt, phân bố ở hầu hết các thủy vực nước nội địa như sông, hồ, ruộng, đầm. Ở Việt
Nam, tôm càng xanh (TCX) tập chung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Lông
(ĐBSCL). Các mô hình nuôi tôm càng xanh phổ biến hiện nay: nuôi tôm trong ao hay
mương vườn, nuôi kết hợp hay luân canh trên ruộng lúa, nuôi đăng quầng ven sông. Tôm
– lúa là mô hình canh tác hiệu quả và mang tính bền vững ở ĐBSCL. Năm 2006, ĐBSCL
có diện tích nuôi tôm càng xanh là 9.077 ha với sản lượng khoảng 9.514 tấn (Lê Xuân
Sinh, 2008).
Huyện Hồng Dân là một huyện của tỉnh Bạc Liêu có diện tích đất nhiễm mặn khá cao tập
trung chủ yếu ở các xã Ninh Thạnh Lợi, Ninh Thạnh Lợi A, Vĩnh Lộc, Vĩnh Lộc A, Lộc
Ninh và Ninh Hòa, mô hình sản xuất chính của huyện là mô hình canh tác lúa - tôm và
giống lúa được chọn sản xuất chủ yếu là giống lúa Một Bụi Đỏ địa phương. Năm 2013,
diện tích thả nuôi tôm càng xanh ở huyện Hồng Dân là 181 ha trong đó Ninh Thạnh Lợi
A 150 ha, Ninh Thạnh Lợi 25 ha và Vĩnh Lộc 6 ha.
Mô hình nuôi lúa – tôm càng xanh xen canh đang là mô hình đem lại hiệu quả kinh tế khá
cao cho người nuôi, được xem là bước đột phá trong chuyển dịch sản xuất nông nghiệp,
giúp người dân tận dụng hết diện tích đất sẵn có trong mùa mưa. Đây là mô hình nuôi có
mức đầu tư thấp, phù hợp với khả năng của nhiều bà con ít vốn, góp phần ổn định môi
trường sinh thái cho vùng nuôi. Vì thế, đề tài “Phân tích hiệu quả của mô hình Lúa –
Tôm càng xanh xen canh ở huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích hiệu quả của mô hình Lúa – Tôm càng xanh xen canh ở huyện Hồng Dân, tỉnh
Bạc Liêu làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển mô hình nuôi góp phần cải thiện thu
nhập cho hộ dân ở huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu.
1.3 Nội dung nghiên cứu
 Phân tích khía cạnh kỹ thuật của mô hình lúa - tôm càng xanh xen canh ở huyện
Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu;
 Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình lúa – tôm càng xanh xen canh;
 Xác định những thuận lợi và khó khăn của mô hình lúa – tôm càng xanh xen canh.

2

- Giá thành được tính theo phương pháp hệ số
- Hiệu quả chi phí = TR/TC (lần/vụ)
3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 Thông tin chung về nông hộ
Từ bảng 1 cho thấy, chủ hộ của mô hình sản xuất có độ tuổi trung bình là 48±10,9 tuổi,
dao động từ 32 - 73 tuổi, trong đó có 16,7% chủ hộ là lao động có tuổi ngoài 60. Tổng số
lao động trong gia đình trung bình là 4,7±1,4 người/hộ. Trung bình có 2,3±1,5 người/hộ
tham gia mô hình. Có 30 hộ nuôi được khảo sát thì cả 30 hộ đều sử dụng lao động gia
đình trong quá trình sản xuất của mình, không thuê thêm lao động trong nuôi tôm và chỉ
thuê lao động trong cải tạo đất trồng lúa và lúc thu hoạch lúa. Kinh nghiệm sản xuất của

3


các nông hộ trung bình khoảng 4,2±1,9 năm, lâu nhất là 9 năm kinh nghiệm, ít nhất là 1
năm. Vì đây là mô hình mới được nhân rộng trong những năm gần đây nên kinh nghiệm
nuôi của nông dân còn thấp.
Bảng 1: Thông tin về tuổi, số lao động tham gia mô hình và số năm kinh nghiệm
Diễn giải

n

Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất

Tuổi chủ hộ (tuổi)

30

48


8

Số năm kinh nghiệm (năm)

30

4,2

1,9

1

9

Theo kết quả khảo sát, có 13,3% số hộ có trình độ học vấn cấp III. Còn lại phần lớn là cấp
I chiếm tỉ lệ 66,7% số hộ và cấp II chiếm tỉ lệ 20% số hộ nuôi. Khó khăn trong việc tiếp
cận thông tin khoa học kỹ thuật của người nuôi.
Theo khảo sát, có 50% số hộ nuôi thu thập nguồn thông tin về kỹ thuật nuôi là từ nông
dân khác, vì phần lớn các chủ hộ đều không có thời gian để tham gia các lớp tập huấn nên
tỉ lệ nguồn thông tin được thu thập từ việc tập huấn, học tập từ cán bộ kỹ thuật chỉ chiếm
26,7%. Mô hình khá mới đối với các hộ ở huyện Hồng Dân nên nguồn thông tin từ việc
đúc kết kinh nghiệm từ bản thân không cao chỉ chiếm tỉ lệ 16%, còn lại 6,7% nông dân
thu thập thông tin từ truyền thông, báo đài.
3.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi
3.2.1 Thiết kết ruộng
Qua bảng 2 cho thấy diện tích mặt nước ruộng nuôi có sự chênh lệch giữa các hộ, diện
tích trung bình 2,64±1,36 ha, diện tích dao động từ 0,50 - 6,0 ha. Mực nước trên trảng cao
nhất 0,50 m, thấp nhất 0,30 m, mực nước trung bình 0,38±0,08m.
Bảng 2: Đặc điểm ruộng nuôi của các hộ khảo sát
Diễn giải

Mực nước mương bao (m)

30

0,83

0,20

0,50

1,50

Diện tích ao ương (ha)

15

0,12

0,09

0,04

0,30

Mực nước mương bao bình quân là 0,83±0,20 m, mực nước thấp nhất là khoảng 0,5 m,
cao nhất là 1,5 m. Kết quả này cao hơn kết quả khảo sát mô hình TCX – Lúa xen canh ở 2
tỉnh Bến Tre và Bạc Liêu của Tạ Hoàng Bảnh (2011), diện tích nuôi trung bình của nông
hộ là 1,03±0,74 ha/hộ, dao động từ 0,2 – 3,5 ha/hộ, độ sâu mực nước trên trảng là

4

11

12

Hình 1: Lịch thời vụ
Mùa mưa : Trồng lúa và tôm càng xanh
Mùa khô : Thả tôm sú
3.2.3 Cải tạo ruộng nuôi
Kết quả khảo sát cho thấy, có 96,7% số hộ có cải tạo ruộng nuôi còn lại 3,3% số hộ không
thực hiện việc cải tạo lại ruộng. Hình thức cải tạo phổ biến đó là bón vôi và sên vét. Có
56,7% số hộ nuôi có thực hiện sên vét lại mương bao trước khi thả giống còn lại 43,3%
không sên vét lại mương bao là vì có những hộ nuôi mới nuôi được 1 - 2 năm, thường thì
sau khi mô hình được thực hiện khoảng 3 - 5 năm người nuôi mới tiến hành sên vét một
lần. Có 90% số hộ nuôi có bón vôi cải tạo nền đáy trước khi cho nước vào ruộng còn lại
10% không bón vôi vì những hộ này chưa thật sự quan tâm đến mô hình chuyển đổi này.
3.2.4 Giống
Qua kết quả khảo sát cho thấy, nguồn cung cấp giống tôm càng xanh chủ yếu từ các trại
sản xuất tôm giống trong tỉnh (chiếm tỉ lệ 90% số hộ nuôi), vì giá bán tôm giống trong
tỉnh rẻ và gần nhà nên được được nhiều hộ nuôi lựa chọn. Còn lại 10% số hộ nuôi lựa
chọn mua con giống ngoài tỉnh với giá cao và xa nhà như Cần Thơ, An Giang. Hiện nay
nguồn giống chất lượng không ổn định, các hộ nuôi rất dễ mua phải nguồn giống kém
chất lượng trên thị trường.
Bảng 3: Kích cỡ con giống thả và mật độ thả giống trong mô hình lúa – tôm
Diễn giải

n

Trung bình

Độ lệch chuẩn

đồng/con, dao động từ 160 - 280 đồng/con cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Tạ
Hoàng Bảnh (2011), giá giống trung bình 161,09±22,34 đồng/con. Nguyên nhân giá
giống cao là do nhu cầu về giống tăng nhưng không đủ số lượng để đáp ứng dẫn đến tình
trạng thiếu giống. Bảng 3 cho thấy, kích cỡ giống tôm càng xanh trung bình 1,36±0,40

5


cm/con, dao động từ 0,80 - 2,5 cm/con. Mật độ thả nuôi trung bình 1,38±0,64 con/m2, dao
động từ 0,70 - 3,0 con/m2 gần bằng với ghi nhận của Tạ Hoàng Bảnh (2011) mô hình nuôi
tôm càng xanh xen canh trong ruộng lúa mật độ thả nuôi trung bình 1,42±0,85 con/m2.
Thấp hơn ghi nhận của Phạm Minh Truyền (2003) mật độ 2-3 con/m2 ở Trà Vinh. Huỳnh
Thị Mộng Cầm (2012), nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa kết hợp mật độ dao động từ
0,6 - 0,9 con/m2.
3.2.5 Chăm sóc và quản lý mô hình nuôi
(a) Thức ăn
Kết quả điều tra cho thấy có 70% số hộ trong suốt quá trình nuôi không cho ăn mà chỉ
bón phân gây màu tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, 30% số hộ còn lại cho ăn nhưng
với số lượng rất ít chủ yếu là cá tạp và khoai mì, ốc.
(b) Thay nước
Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết các hộ nuôi đều không thay nước theo định kỳ, chỉ
thay nước khi quan sát thấy nước trong ruộng chuyển sang màu đậm hơn đầu vụ. Số lần
thay nước từ 1 - 6 lần/vụ tùy theo hộ, trung bình thay nước khoảng 3,37 lần/vụ, lượng
nước được thay từ 10 – 60 %/lần, trung bình 44,55 %/lần. Khi bơm nước vào ruộng,
nguồn nước được lấy trực tiếp từ sông không qua xử lý nên dễ bị địch hại xâm nhập, mầm
bệnh dễ dàng tấn công con tôm nuôi. Người dân nên có túi lọc nước khi cấp nước vào
ruộng nuôi.
(c) Bệnh
Kết quả khảo sát cho thấy, bệnh phổ biến trên tôm càng xanh là bệnh đóng rong (chiếm tỉ
lệ 50% số hộ nuôi) và bệnh đen mang (chiếm 33% số hộ) còn lại 17% số hộ là các loại

7,03
34,24

Nhỏ nhất Lớn nhất
5
25,00
10,00
51,00

11
50,00
33,75
200,00

Qua bảng 4 cho thấy, thời gian nuôi trung bình của các hộ 6,90±1,27 tháng/vụ. Khối
lượng tôm lúc thu hoạch đạt trung bình 38,87±7,45 g/con, dao động từ 25 - 50 g/con, tỷ lệ
sống trung bình đạt 25,10±7,03%, dao động từ 10,0 – 33,75%. Kết quả này cao hơn so
với kết quả của Hồ Thanh Thái (2011) sau 6 tháng nuôi tôm đạt trọng lượng từ 37,0 - 47,9
g/con, tỉ lệ sống tôm nuôi dao động từ 18,9 - 25,6%. Gần bằng với kết quả nghiên cứu của

6


Huỳnh Thị Mộng Cầm (2012), khối lượng trung bình dao động từ 30,4 ± 18,1 g/con đến
40,5±22,4 g/con, tỷ lệ sống dao động từ 16,4 – 31,7%. Lam Mỹ Lan và ctv (2008), nuôi
tôm càng xanh xen canh với trồng lúa mật độ 1 và 2 con/m2 đạt khối lượng trung bình lần
lượt là 32,5±1,7 g/con và 29,7±0,5 g/con, tỷ lệ sống lần lượt là 33,7±5,0% và 26,5±4,5%.
Khối lượng và tỷ lệ sống trung bình của tôm nuôi có sự chênh lệch giữa các hộ nguyên
nhân là do trong quá trình nuôi một số hộ do ít đầu tư thức ăn và không thường xuyên
thay nước dẫn đến tôm bị bệnh đóng rong khó phát triển, hộ đầu tư kỹ lưỡng về thức ăn


Bảng 5: Tổng chi phí đầu tư trong mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh với lúa
Diễn giải

Giá trị

Tổng chi phí (tr.đ/ha/vụ)

16,73±4,34

Chi phí cố định (tr.đ/ha/vụ)

0,72±0,46

Chi phí biến đổi (tr.đ/ha/vụ)

16,01±4,12
100

Cơ cấu chi phí biến đổi (%)
Tôm càng xanh
Chi phí sên vét (%)

11,33

Chi phí bón vôi (%)

12,80

Chi phí con giống (%)

21,05

Chi phí thuốc BVTV (%)

18,09

Chi phí thu hoạch (%)

30,54

Chi phí sữa chữa (%)

2,33

Bảng 6 cho thấy, chi phí đầu tư cho nuôi tôm càng xanh tương đối thấp dao động từ 2,75
– 17,35 tr.đ/ha/vụ, trung bình là 5,99±2,76 tr.đ/ha/vụ. Kết quả này cao hơn so với kết quả
nghiên cứu trước đó của Tạ Hoàng Bảnh (2011) có chi phí đầu tư là 5,557±2,092 tr.đ/ha.
Chi phí này thấp hơn chi phí đầu tư cho nuôi tôm càng xanh trong mô hình tôm càng xanh
– lúa của Huỳnh Thị Mộng Cầm (2012), chi phí bình quân là 16,07 ± 3,30 tr.đ/ha. Chi phí
thấp nguyên nhân là do mô hình này có kỹ thuật đơn giản nên có thể tận dụng được lao
động sẵn có của nông hộ và có nguồn thức ăn tự nhiên sãn có. Thu nhập trung bình của
tôm càng xanh nuôi trong ruộng là 18,34±6,13 tr.đ/ha/vụ, dao động 8,18 – 35,20
tr.đ/ha/vụ. Lợi nhuận từ nuôi tôm càng xanh dao động từ 0,35 – 18,10 tr.đ/ha/vụ, đạt
trung bình 11,07±3,55 tr.đ/ha/vụ. Tỷ suất lợi nhuận của tôm càng xanh đạt trung bình
109,96±96,56%.

8


Bảng 6: Hiệu quả mô hình lúa – tôm càng xanh xen canh ở Hồng Dân – Bạc Liêu

20,65

115,67

50,75

20,04

Thu nhập (tr.đ/ha/vụ)
Tôm
càng Chi phí (tr.đ/ha/vụ)
xanh
Lợi nhuận (tr.đ/ha/vụ)

30

8,18

35,20

18,34

6,13

30

2,75

17,35


1,06

7,02

3,13

1,20

Thu nhập (tr.đ/ha/vụ)

30

13,20

50,00

27,06

9,49

Chi phí (tr.đ/ha/vụ)

30

6,50

16,33

10,02


1,15

6,30

2,80

1,08

Tổng chi phí (tr.đ/ha/vụ)

30

11,52

29,62

16,73

4,34

Tổng thu nhập (tr.đ/ha/vụ)

30

20,56

53,08

37,01


0,56

TCX
Tổng lợi nhuận (tr.đ/ha/vụ)
– Lúa
Tỷ suất lợi nhuận (%)
Hiệu quả chi phí (lần/vụ)

Chi phí đầu tư cho trồng lúa ở các hộ bình quân 10,02±2,85 tr.đ/ha/vụ. Thu nhập lúa dao
động từ 13,20 – 50,0 tr.đ/ha/vụ, trung bình 27,06 tr.đ/ha/vụ. Lợi nhuận lúa đạt từ 1,75 –
35,21 tr.đ/ha/vụ, trung bình đạt 16,15±7,40 tr.đ/ha/vụ. Tỷ suất lợi nhuận trung bình của
lúa là 108,83±68,70%. Hiệu quả đầu tư trong sản xuất lúa đạt trung bình 2,80±1,08
lần/vụ. Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu của Tạ Hoàng Bảnh (2011), chi phí trồng
lúa 5,69±1,04 tr.đ/ha, thu nhập từ cây lúa 10,45±4,10 tr.đ/ha, lợi nhuận đạt 3,80±4,66
tr.đ/ha/vụ, tỷ suất lợi nhuận 0,67. Kết quả cao hơn là vì trồng lúa là nghề truyền thống nên
người dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất.
Hiệu quả mô hình tôm càng xanh – lúa khảo sát tại huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu cho
thấy, tổng chi phí bình quân của mô hình là 16,73±4,34 tr.đ/ha/vụ, dao động từ 11,52 –
29,62 tr.đ/ha/vụ. Tổng thu nhập bình quân từ 2 đối tượng lúa và tôm càng xanh trong mô
hình là 37,01 tr.đ/ha/vụ, thu nhập cao nhất 53,08 tr.đ/ha/vụ và thấp nhất là 20,56
tr.đ/ha/vụ. Tổng lợi nhuận trung bình từ mô hình đạt 20,28±7,16 tr.đ/ha/vụ, thấp nhất 5,57
tr.đ/ha/vụ và cao nhất là 38,28 tr.đ/ha/vụ. Tỷ suất lợi nhuận trung bình của mô hình lúa –
tôm càng xanh là 128,94±55,84%. Hiệu quả chi phí đạt được bình quân 2,29±0,56 lần/vụ.

9


Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu trước đó của Tạ Hoàng Bảnh (2011), đạt
thu nhập 12,12±6,07 tr.đ/ha, lợi nhuận 6,56±5,71 tr.đ/ha và tỷ suất lợi nhuận 130%. So
sánh với kết quả của Hồ Thanh Thái (2011) tại huyện Hồng Dân lợi nhuận dao động từ

Lợi nhuận (90.250)

Giá
bán

Giảm 20%
Giảm 10%
Không đổi
Tăng 10%
Tăng 20%

112.800
126.900
141.000
155.100
169.200

Giảm
20%
40.600
72.200
86.300
100.400
114.500
128.600

Giảm
10%
45.675
67.125

94.200
108.300

3.5 Những thuận lợi và khó khăn của mô hình nuôi tôm càng xanh nuôi xen canh với
lúa ở huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu
3.5.1 Thuận lợi

10


Theo kết quả điều tra cho thấy, mô hình này có nhiều thuận lợi để các hộ nông dân áp
dụng chẳng hạn như chi phí đầu tư cho mô hình này tương đối thấp (22,2%), phù hợp cho
nhiều hộ có ít vốn giúp hộ có thu nhập ổn định; giúp các hộ tận dụng được diện tích mặt
nước sẵn có (18,9%), tăng thu nhập trên cùng đơn vị canh tác; tận dụng được nguồn lao
động từ gia đình (13,3%) nên không tốn thêm chi phí thuê lao động, các hộ chỉ thuê mướn
lao động khi tiến hành thu hoạch lúa và cải tạo lại mặt ruộng; mô hình có kỹ thuật nuôi
tương đối đơn giản người nông dân dễ áp dụng (12,2%); thực hiện mô hình này giảm
được rủi ro dịch bệnh trong quá trình nuôi (10,0%) làm tăng hiệu quả kinh tế; trong điều
kiện độ mặn thấp dưới 10% nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, tận dụng được nguồn thức ăn
có sẵn: khoai sắn, ốc bưu vàng rất phong phú nên tôm phát triển tốt và lớn nhanh (8,9%);
tôm càng xanh dễ nuôi, nhu cầu thị trường rất ưa chuộng, đầu ra tương đối ổn định
(8,9%); điều kiện tự nhiên thích hợp cho tôm càng xanh sinh trưởng và phát triển (5,6%).
3.5.2 Khó khăn
Mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh với trồng lúa hiện nay ở Hồng Dân, Bạc Liêu gặp
không ích khó khăn, kết quả nghiên cứu cho thấy: vấn đề về con giống là đáng lo ngại
nhất (28,9%), hiện nay giá tôm giống bản địa quá cao, số lượng cung chưa đáp ứng như
cầu người nuôi, trong khi đó nguồn tôm giống khó có thể phân biệt nguồn gốc lại giá rẻ;
nguồn nước bị nhiễn phèn nặng (26,7%) làm cho tôm nuôi chậm lớn, tỷ lệ sống không
cao; thời gian nuôi kéo dài (14,4%) đa phần hộ nuôi không đầu tư thức ăn, người nuôi ít
chủ động trong việc thay nước nên tôm dễ bị bệnh đen mang, đóng rong; nguồn nước hiện

Khó khăn lớn nhất hiện nay của mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh với lúa là về
số lượng và chất lượng giống tôm càng xanh. Tuy nhiên mô hình cũng mang lại hiệu
quả tương đối cao cho người nuôi.

4.2 Đề xuất
-

Mô hình tôm càng xanh xen canh với trồng lúa cần được nhân rộng trong thời gian tới
để người dân tận dụng hết diện tích mặt nước sẵn có, góp phần tăng thêm thu nhập.

-

Cần tổ chức nhiều lớp tập huấn cho bà con nông dân nhằm nâng cao kỹ thuật nuôi và
kiến thức để phục vụ tốt cho việc sản xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hồ Thanh Thái, 2011. Khảo sát hiện trạng và thực nghiệm nuôi tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii) kết hợp trong ruộng lúa tại huyện Hồng Dân tỉnh
Bạc Liêu. Luận văn tốt nghiệp cao học ngành Nuôi trồng thủy sản, Đại học Cần
Thơ. 84 trang
Huỳnh Thị Mộng Cầm, 2012. Hiện trạng mô hình nuôi và thực nghiệm nuôi tôm càng
xanh (Macrobrachium rosenbergii) trong ruộng lúa kết hợp tại xã Vĩnh Lộc A,
huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành Nuôi
trồng thủy sản, Đại học Cần Thơ. 53 trang.
Lam Mỹ Lan, Dương Nhựt Long và Micha, J.C (2008). So sánh biện pháp kỹ thuật và
hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) xen
canh và luân canh với trồng lúa. Tạp chí khoa học. Đại học Cần Thơ. Quyển 2:
82-88
Lê Xuân Sinh, 2008. Mô hình kinh tế sinh học để cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của
trại sản xuất giống TCX (Macrobrachium rosenbergii) ở ĐBSCL. Tạp chí khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status