TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ THÚY ANH
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI
CÔNG NGHIỆP TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Lithopenaeus
vannamei) VÀ TÔM SÚ (Penaeus monodon) Ở TỈNH
TRÀ VINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THỦY SẢN
2014
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI
CÔNG NGHIỆP TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Lithopenaeus
vannamei) VÀ TÔM SÚ(Penaeus monodon) Ở TỈNH TRÀ VINH
Lê Thúy Anh
Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ
Email:
Tóm tắt
So sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh tôm thẻ chân
trắng (TTCT) và tôm sú ở Trà Vinh được thực hiện từ tháng 08 năm 2014 đến tháng 12
năm 2014 tại huyện Cầu Ngang và Duyên Hải với tổng số quan sát là 60 hộ. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, mật độ thả giống tôm sú trung bình 33,73±10,96 con/m2 và mật độ
thả giống TTCT là 53,57±21,35 con/m2. Tôm sú được nuôi trong thời gian trung bình
131,00±26,00 ngày/vụ, dài hơn so với thời gian nuôi TTCT 94,00±20,00 ngày/vụ. Hệ số
tiêu hao thức ăn (FCR) của tôm sú là 1,43±0,43 và TTCT là 1,28±0,48. Năng suất tôm sú
đạt 3,01±2,14 tấn/ha/vụ và TTCT là 5,07±4,10 tấn/ha/vụ. Bình quân 1 ha của mô hình
1 GIỚI THIỆU
1
1.1 Đặt vấn đề
Theo Tổng cục thống kê năm 2013, cả nước có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS)
là 1.037 nghìn ha, đạt 3.210 nghìn tấn; trong đó, diện tích nuôi tôm là 637 nghìn ha với
sản lượng 544,9 nghìn tấn. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2013 đạt 6,7 tỷ USD;
trong đó, giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,1 tỷ USD và chiếm 46% tổng giá trị xuất khẩu thủy
sản của cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi tôm trọng điểm của
cả nước, chiếm 92,5% tổng diện tích và 79,8% tổng sản lượng nuôi tôm nước lợ. Năm
2013, diện tích nuôi tôm nước lợ của ĐBSCL là 601.854 ha, trong đó tôm sú là 560.733
ha và tôm thẻ chân trắng (TTCT) là 41.120 ha. Tổng sản lượng của tôm sú là 253.108 tấn
và TTCT là 162.456 tấn.
Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc khu vực ĐBSCL có nhiều tiềm năng phát triển nghề
NTTS. Năm 2013, giá trị sản xuất NTTS của tỉnh đạt 1.678 tỷ đồng với tổng sản lượng
nuôi trồng 81.265 tấn. Trong đó, sản lượng tôm sú thu hoạch là 12.325 tấn, năng suất bình
quân đạt 0,47 tấn/ha; TTCT đạt sản lượng 8.132 tấn với năng suất bình quân 3,1 tấn/ha.
Trước đây, tôm sú là đối tượng nuôi chủ lực, mang về kim ngạch xuất khẩu cho tỉnh trên
90 triệu USD mỗi năm. Tuy nhiên, hiện nay do dịch bệnh lan rộng đã làm giảm năng suất
và lợi nhuận của các ao nuôi tôm sú. Vì vậy, đầu vụ năm 2013 hầu hết các hộ nuôi tôm sú
đã chuyển sang nuôi TTCT. Năm 2012 toàn tỉnh thả nuôi 29.787 ha tôm sú và 700 ha
TTCT. Đến năm 2013 thì diện tích tôm sú là 30.967 ha, chỉ tăng 1,04 lần so với năm
trước; trong khi đó, diện tích nuôi TTCT là 2.323 ha, tăng đến 3,32 lần (Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh, 2013). Từ vấn đề về dịch bệnh và xu hướng
chuyển đổi đối tượng nuôi như hiện nay, đề tài “So sánh hiệu quả tài chính của mô hình
nuôi thâm canh và bán thâm canh tôm thẻ chân trắng và tôm sú ở tỉnh Trà Vinh” đã được
thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm so sánh hiệu quả tài chính của mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh
3.1.1 Thông tin chung về hộ nuôi tôm
Độ tuổi của các hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh đều ở độ tuổi trung niên nên có nhiều kinh
nghiệm trong nuôi tôm với số năm kinh nghiệm nuôi tôm sú trung bình 7,60±4,61 năm và
TTCT 6,90±3,38 năm.
Bảng 1: Tuổi của chủ hộ, kinh nghiệm nuôi tôm và số lao động tham gia nuôi tôm
Diễn giải
Tuổi của chủ hộ (năm)
Kinh nghiệm nuôi tôm (năm)
Số lao động trong gia đình tham
gia nuôi tôm (người)
+ Số lao động nam (người)
+ Số lao động nữ (người)
Số lao động thuê (người)
Tôm sú
(n=30)
43,7±9,59
7,60±4,61
2,07±0,87
TTCT
(n=30)
39,9±9,68
6,90±3,38
2,17±0,95
1,30±0,53
0,77±0,68
2,20±1,64
hầu hết các hộ nuôi TTCT mới bắt đầu nuôi trong những năm gần đây nên kinh nghiệm
nuôi thấp hơn so với hộ nuôi tôm sú. Ngoài ra, các hộ nuôi còn học hỏi chuyên môn từ
các lớp tập huấn do chính quyền địa phương và các doanh nghiệp chế biến thức ăn tổ
chức với tỷ lệ khá cao. Tuy nhiên, số hộ được đào tạo chương trình đại học và cao đẳng
về thủy sản thì chiếm tỷ lệ tương đối thấp 3,30% đối với cả hai mô hình nuôi.
3
3.1.2 Các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của hai mô hình
Diện tích mặt nước và độ sâu bình quân mặt nước ao ở hai mô hình dao động trong
khoảng từ 0,81-1,01 ha và 1,33-1,38 m. Mật độ thả giống tôm sú trung bình 33,73±10,96
con/m2 thấp hơn so với mật độ thả giống của TTCT (53,57±21,35 con/m2). Tuy nhiên,
trong kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hà (2011) thì mật độ thả giống tôm sú thấp
hơn rất nhiều, trung bình là 19,1 con/m2. Giá mua con giống tôm sú trung bình
77,17±7,62 đồng/con thấp hơn giá mua giống TTCT (87,17±7,95 đồng/con) do giống
TTCT chủ yếu nhập từ các tỉnh miền Trung nên giá mua cao hơn giá giống tôm sú.
Thời gian nuôi tôm sú trung bình 131,00±26,00 ngày/vụ dài hõn thời gian nuôi TTCT
(94,00±20,00 ngày/vụ). Kết quả này týõng ðồng với kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị
Quyền và Lê Xuân Sinh (2010) với thời gian nuôi tôm sú trung bình là 120 ngày/vụ. Hệ
số tiêu hao thức ãn (FCR) ở tôm sú là 1,43±0,43 cao hõn hệ số thức ãn của TTCT
(1,28±0,48) và thấp hõn hệ số FCR bình quân nuôi tôm sú 1,54 của 2 nãm trýớc (Lâm
Vãn Tùng và ctv, 2012).
Bảng 3: Diện tích mặt nước ao nuôi, độ sâu mặt nước ao, mật độ thả giống, giá mua con
giống, thời gian nuôi và hệ số FCR
Tôm sú
(n=30)
0,81±0,77
1,33±0,18
33,73±10,96
Năng suất trung bình (tấn/ha/vụ)
Tôm sú
(n=30)
33,30±22,68
47,47±37,79
TTCT
(n=30)
48,60±29,90
63,73±41,41
3,01±2,14
5,07±4,10
Kích cỡ tôm sú thu hoạch bình quân là 47,47±37,79 con/kg và TTCT là 63,73±41,41
con/kg. Kích cỡ tôm sú nhỏ hơn kích cỡ tôm thu hoạch 29,23 con/kg ở Cà Mau
(Nguyễn Thị Kim Chi, 2013). Năng suất nuôi trung bình của các hộ nuôi tôm sú là
3,01±2,14 tấn/ha/vụ và TTCT là 5,07±4,10 tấn/ha/vụ. Năng suất nuôi tôm sú có sự khác
biệt giữa các tỉnh với năng suất trung bình nuôi tôm sú ở tỉnh Long An là 2,02 tấn/ha/vụ
(Huỳnh Thị Quyền và Lê Xuân Sinh, 2010) và năng suất tôm sú ở tỉnh Cà Mau là 5,29
tấn/ha/vụ (Lê Khánh Linh, 2013). Do vậy, năng suất tôm nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như mật độ thả giống, tỷ lệ sống và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng.
4
3.1.3 Phân tích và so sánh các chỉ tiêu tài chính của hai mô hình
Tổng chi phí nuôi tôm sú trung bình là 306,62±166,58 tr.đ/ha/vụ và nuôi TTCT là
+ Chi phí thức ăn
+ Chi phí thuốc/hóa chất
+ Chi phí trả lương lao động
Tôm sú
(n=30)
306,62±166,58a
6,64±4,47a
299,97±165,40a
100
11,14
8,33
1,80
0,55
8,65
44,92
23,97
0,66
TTCT
(n=30)
305,24±159,32a
7,55±6,13a
297,69±157,63a
100
11,95
14,97
2,09
0,30
10,32
167,32±54,25a
503,66±386,60a
197,04±274,98a
1,48±0,82a
0,48±0,82a
70,00
313,31±248,65
30,00
74,25±35,24
Hiệu quả kinh tế
Giá thành sản xuất (1000đ/kg)
Giá bán bình quân (1000đ/kg)
Tổng thu nhập (tr.đ/ha/vụ)
Tổng lợi nhuận (tr.đ/ha/vụ)
Thu nhập/Chi phí (lần)
Tỷ suất lợi nhuận (lần)
Tỷ lệ số hộ có lời (%)
Mức lời bình quân (tr.đ/ha/vụ)
Tỷ lệ số hộ thua lỗ (%)
Mức lỗ bình quân (tr.đ/ha/vụ)
TTCT
(n=30)
60,21±65,78b
135,02±16,81a
684,55±494,85a
379,31±390,54b
2,15±1,08b
1,15±1,08b
B
Hằng số
X1- Đối tượng nuôi (1:Tôm sú; 0:TTCT)
Sai số
chuẩn
264,25
-151,45
356,79
74,70
X2- Tỷ lệ sống (%)
X3- Chi phí cải tạo (tr.đ/ha/vụ)
9,94
-2,36
X4- Kích cỡ tôm thu hoạch (con/kg)
X5- Chi phí thuốc hóa chất (tr.đ/ha/vụ)
X6- Hệ số tiêu hao thức ăn (FCR)
X7- Giá con giống trung bình (đồng/con)
Hệ số
Β
T
-0,30
-0,12
-3,23
-1,26
0,00
0,22
-63,64
-8,05
72,81
4,10
-0,08
-0,21
-0,87
-1,96
0,39
0,06
R
R2
0,80
150
100
50
0
1
Đối tượng nuôi (1: Tôm sú; 0: TTCT)
Hình 1: Týõng quan ðối týợng nuôi và lợi nhuận trong nuôi tôm
Tỷ lệ sống (%): Tỷ lệ sống có mối týõng quan thuận với lợi nhuận nuôi tôm, với mức ý
nghĩa 1%. Khi các yếu tố khác không ðổi, tỷ lệ sống tãng lên 1% thì lợi nhuận sẽ tãng
9,94 tr.ð/ha/vụ. Một số ao có tỷ lệ sống thấp hõn 15% nên sản lýợng thu hoạch thấp và
7
thua lỗ ở mức 7,44 tr.ð/ha/vụ, nguyên nhân là do dịch bệnh gia tãng và nguồn nýớc
trong ao nuôi chýa ðýợc xử lý tốt nên số lýợng tôm chết tãng lên rất nhiều.
Tr.đ/ha/vụ
400
350
300
250
200
150
100
50
0
-50
Chi phí cải tạo (tr.đ/ha/vụ)
Hình 3: Týõng quan chi phí cải tạo và lợi nhuận trong nuôi tôm
Kích cỡ tôm thu hoạch (con/kg): Kích cỡ tôm thu hoạch có mối týõng quan nghịch với lợi
nhuận nuôi tôm, với mức ý nghĩa 1%. Giả ðịnh các yếu tố khác không ảnh hýởng ðến lợi
nhuận của mô hình, nếu kích cỡ tôm thu hoạch tãng lên 1 con/kg thì lợi nhuận sẽ giảm
2,51 tr.ð/ha/vụ. Khi số lýợng tôm nhỏ hõn 40 con/kg thì lợi nhuận sẽ lớn nhất với mức lợi
nhuận trung bình là 370,49 tr.ð/ha/vụ. Nguyên nhân là do nếu số lýợng tôm thu hoạch trên
1 kg càng nhiều thì sẽ bán với giá càng thấp nên lợi nhuận sẽ giảm dần khi kích cỡ tôm
thu hoạch càng tãng.
8
Tr.đ/ha/vụ
400
300
200
100
0
80
-100
Kích cỡ tôm thu hoạch (con/kg)
Thức ăn tốt
Vốn tự có
Lao động dồi dào
Con giống tốt
Thời gian nuôi ngắn
TTCT
(n=30)
6,67
43,33
0,00
3,33
23,33
3,33
23,33
20,00
3,33
10,00
Kết quả nghiên cứu cho thấy, về thị trường tiêu thụ, chất lượng thức ăn và chất lượng
con giống thì các hộ nuôi tôm sú thuận lợi hơn so với các hộ nuôi tôm TTCT. Tuy
nhiên, mô hình nuôi TTCT có nhiều điều kiện thuận lợi mà ở mô hình nuôi tôm sú
không có như nguồn lao động dồi dào, thời gian nuôi ngắn.
3.3.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi trên, các hộ nuôi cũng gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn lớn
nhất hiện nay của các hộ nuôi tôm sú và TTCT là dịch bệnh ngày càng tăng, chiếm đến
66,67%. Ngoài ra, thời tiết diễn biến thất thường, tình trạng nguồn nước ô nhiễm và
9
16,67
6,67
20,00
66,67
16,67
0,00
13,33
0,00
0,00
Các hộ nuôi TTCT có ít năm kinh nghiệm nên chưa nắm rõ về kỹ thuật nuôi, chiếm
13,33%. Tuy nhiên, TTCT có thời gian nuôi ngắn hơn nên ít gặp rủi ro, trong khi đó
tôm sú là đối thượng nuôi trong thời gian dài mới có thể thu hoạch được, chiếm đến
20,00%. Ngoài khó khăn về thời gian nuôi dài thì các hộ nuôi tôm sú còn gặp phải một
số khó khăn khác mà ở mô hình nuôi TTCT không gặp phải như dễ nhiễm bệnh từ ao
khác 3,33% và một số hộ nuôi tôm sú hiện vẫn chưa có điện 3,33% mà phải kéo điện từ
hộ gia đình khác nên làm cho chi phí này cao hơn so với những hộ có điện.
3.4.3 Giải pháp
Dựa vào kinh nghiệm lâu năm, các hộ nuôi tôm đã có một số giải pháp để hạn chế những
rủi ro trong quá trình sản xuất. Phần lớn các hộ nuôi tôm đều sử dụng thuốc để phòng
ngừa và điều trị khi dịch bệnh xảy ra. Ngoài ra, các hộ nuôi còn quản lý dịch bệnh và xử
lý nước tốt để hạn chế mầm bệnh xuất hiện trong ao nuôi, một số ít hộ nuôi tham gia tập
huấn kỹ thuật, thả giống với mật độ thích hợp và chọn con giống có chất lượng để hạn
chế thất thoát trong quá trình nuôi.
Bảng 10: Giải pháp khắc phục những khó khãn
Ðõn vị tính: %
Giải pháp
Tôm sú
(n=30)
Lợi nhuận bình quân của các hộ nuôi tôm sú là 197,04 tr.đ/ha/vụ, thấp hơn nhiều so với
lợi nhuận của các hộ nuôi TTCT 379,31tr.đ/ha/vụ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p
-
xã
truy
hội
cập
2013.
ngày