TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
LÝ THANH TÂM
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGHỀ LƯỚI KÉO VEN BỜ VÀ XA BỜ Ở
TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THUỶ SẢN
2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
LÝ THANH TÂM
SO SÁNH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH NGHỀ LƯỚI KÉO VEN BỜ VÀ XA BỜ Ở
TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ THUỶ SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THANH LONG
2014
Trần Đề và huyện Cù lao Dung của tỉnh Sóc Trăng nhằm so sánh hiệu quả tài chính
nghề lưới kéo ven bờ và xa bờ. Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 60 hộ khai thác bằng
nghề lưới kéo ven bờ và xa bờ. Kết quả cho thấy, số lượng tàu khai thác xa bờ của
tỉnh Sóc Trăng thấp (295 tàu), công suất trung bình là 308 CV/tàu và trọng tải trung
bình 34,8 tấn/tàu, kích thước mắt lưới đụt trung bình là 2a=18,2 mm. Số lượng tàu
lưới kéo ven bờ là 809 tàu, công suất trung bình 35,2 CV/tàu và tải trọng trung bình
là 6,01 tấn/tàu, kích thước mắt lưới đụt trung bình là 2a= 21,8 mm. Sản lượng khai
thác trung bình tàu lưới kéo xa bờ (10.074 kg/chuyến) cao hơn so với sản lượng
trung bình tàu lưới kéo ven bờ (699 kg/chuyến) nhưng sản lượng trung bình trên 1
CV nghề lưới kéo xa bờ (299 kg/CV/năm) thấp so với nghề lưới kéo ven bờ (964
kg/CV/năm). Tỉ lệ cá tạp của lưới kéo ven bờ cao chiếm 51,8% và tàu lưới kéo xa bờ
(21,2%). Thu nhập và lợi nhuận tàu lưới kéo xa bờ cao (2.192 triệu đồng/năm; 697
triệu đồng/năm) hơn tàu lưới kéo ven bờ (877 triệu đồng/năm; 561 triệu đồng/năm).
Khó khăn chung hiện nay của nghề lưới kéo đơn là thiếu người lao động, giá nhiên
liệu tăng, nguồn lợi suy giảm, thời tiết xấu, giá bán sản phẩm khai thác thấp, thiếu
vốn…
Từ khoá: Chi phí, khai thác hải sản, lưới kéo, ven bờ, xa bờ.
1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Sóc Trăng là tỉnh nằm ở phía Nam cửa sông Hậu, với chiều dài bờ biển 72 km, trong
đó có 03 cửa sông lớn (Trần Đề, Định An và Mỹ Thanh) và diện tích mặt nước sông
là 21.655 ha, mang theo nguồn lợi thủy hải sản phong phú và đa dạng. Đây là điều
kiện thuận lợi để Sóc Trăng phát triển ngành kinh tế biển (Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn (NN&PTNT) Sóc Trăng, 2007).
Năm 2013, toàn tỉnh có 1.085 phương tiện khai thác biển với tổng công suất 117.307
CV. Trong đó tàu khai thác biển 880 chiếc, tổng công suất 110.975,5 CV (tàu khai
thác xa bờ 285 chiếc); tàu khai thác nội đồng 205 chiếc, tổng công suất 6.331,5 CV
(Chi cục Khai thác và BVNLTS Sóc Trăng, 2013). Sản lượng khai thác hải sản trên
So sánh hiệu quả tài chính của nghề lưới kéo ven bờ và xa bờ;
-
Những thuận lợi và khó khăn của nghề lưới kéo
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014 tại hai huyện ven biển Cù
Lao Dung và Trần Đề của tỉnh Sóc Trăng.
2.2 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp gồm điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển khai thác thủy sản, số tàu
theo loại nghề, sản lượng khai thác của tỉnh được thu thập từ các kết quả nghiên cứu,
các báo cáo có liên quan đến lĩnh vực khai thác hải sản đã được công bố từ Sở
NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng, Chi cục KT&BVNLTS tỉnh Sóc Trăng. Các nghiên cứu
có liên quan, tạp chí chuyên ngành và các website chuyên ngành cũng được tham
khảo.
2.3 Số liệu sơ cấp
Nghiên cứu đã phỏng vấn 30 hộ làm nghề lưới kéo ven bờ và 30 hộ làm nghề lưới
kéo xa bờ theo bảng câu hỏi soạn sẵn để tìm các thông tin về hiện trạng khai thác
NLHS như sau:
-
Những thông tin chung về chủ tàu và thuyền trưởng.
Hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo ven bờ và xa bờ (kết cấu tàu, ngư cụ,
ngư trường, mùa vụ, thời gian khai thác của chuyến biển và trong năm).
Những loài khai thác (loài kinh tế và cá tạp)
Sản lượng khai thác hải sản theo chuyến và theo năm.
điều tra từ Chi cục KT&BVNLTS, năm 2009 toàn tỉnh Sóc Trăng có 1.001 tàu
KTHS với tổng công suất là 96.004 CV. Đến năm 2013, tổng số tàu trong toàn tỉnh là
1.104 chiếc, với tổng công suất 126.108 CV. Sản lượng khai thác thủy sản cũng tăng
theo số lượng tàu, sản lượng tăng từ 25.833 tấn (2009) lên 43.501 tấn (2013) (Bảng
1). Số lượng tàu khai thác xa bờ còn thấp chiếm khoảng 24,4% tổng số lượng tàu
khai thác, số lượng tàu KTHS ven bờ chiếm tỷ lệ cao (75,6%) (Hình 1). Với số lượng
tàu ven bờ quá nhiều đã và đang gây áp lực cho NLHS ven bờ của tỉnh.
1200
1059
1062
1079 1104
1001
1000
809
812
798
815
774
800
600
400
227
295
267
264
Lưới rê
Tấn
Lưới vây
Tấn
Ngư cụ cố định
Tấn
Tổng SL
Tấn
2009
8.305
4.720
6.458
4.428
1.922
25.833
2010
9.228
5.244
7.176
4.128
2.136
27.912
2011
10.709
8.693
7.078
1.469
lưới rê chiếm khoảng 24,8%, nghề này chủ yếu tập trung vào các tàu công suất nhỏ,
khai thác còn lạc hậu, hiệu quả chưa cao. Đóng đáy là loại nghề khai thác chiếm
10,8%, tập trung ở hai huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu, đây là loại nghề khai thác
không chọn lọc, với kích thước mắt lưới nhỏ (được dùng để khai thác ruốc), chất
lượng sản phẩm khai thác thấp (Bảng 2).
Bảng 2: Cơ cấu tàu thuyền khai thác tỉnh Sóc trăng phân theo nghề năm 2013
Địa phương Lưới kéo Lưới rê Lưới vây Đáy biển Đặt lợp Nghề khác Tổng
Trần Đề
333
105
22
48
10
30
548
Vĩnh Châu
1
137
0
60
0
0
198
TP Sóc Trăng
2
4
0
0
22
119
10
45 1.104
Tỉ lệ (%)
57,40
24,80
2,00
10,80
0,90
4,10
100
3.2 Khía cạnh kỹ thuật của nghề lưới kéo ven bờ (
Do sự khác nhau về kích cỡ, công suất, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tàu lưới kéo
xa bờ được trang bị máy móc thiết bị hiện đại nên không cần phải nhiều thuyền viên
(5,300,53 người/tàu) nhưng nhiều hơn so với tàu lưới kéo ven bờ (2,770,50
người/tàu), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P
299b107
48,2a13,4
79,8b7,51
Loài cá tạp (%)
51,8a13,4
21,2b7,51
Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p
0,331,83
Hầu hết các tàu khai thác thuỷ sản sau khi đánh bắt về, bán sản phẩm thuỷ sản khai
thác tại bến cho các cơ sở thu mua ở địa phương dạng tươi sống. Kết quả cho thấy,
nghề lưới kéo ven bờ và xa bờ phần lớn tiêu thụ hải sản chủ yếu cho tư nhân (vựa,
nậu) tỉ lệ lần lượt là (100%) và (62,7%). Riêng đối với nghề lưới kéo xa bờ ngoài bán
cho tư nhân còn bán cho nhà máy chế biến xuất khẩu chiếm khoảng 37%, do khai
thác xa bờ khả năng khai thác các loài có giá trị xuất khẩu cao hơn, đa dạng, phong
phú về thành phần loài và kích cỡ (Bảng 6).
3.3 Khía cạnh tài chính nghề lưới kéo ven bờ (
Ngư Cụ
4,630,74
7,82
37,419,1
5,59
Đàm thoại
1,760,47
2,01
2,251,17
0,33
Định vị
1,272,15
3,08
5,631,76
0,83
cần được quan tâm và có biện pháp giải quyết. Chẳng hạn như cần có tàu thu mua và
cung cấp nguyên liệu cho các tàu KTHS trên biển sẽ giảm chi phí nhiên liệu và thời
gian đi về, kéo dài thời gian chuyến biển và sản phẩm KTHS được tốt hơn so với lưu
trữ trên tàu khai thác trong thời gian dài.
So sánh với kết quả nghiên cứu tàu lưới kéo ở Bạc Liêu của Hồng Văn Thưởng &
ctv, (2014) chi phí biến đổi của tàu lưới kéo trên 90 CV là 1.317 triệu đồng/tàu/năm,
tàu lưới kéo dưới 90 CV là 414 triệu đồng/tàu/năm. Như vậy, chi phí biến đổi tàu
lưới kéo ở Bạc Liêu cao hơn các tàu ở Sóc Trăng (tàu lưới kéo trên 90 CV là 1.279
triệu đồng/tàu/năm, tàu lưới kéo dưới 90 CV là 299 triệu đồng/tàu/năm). Chi phí biến
đổi tăng cao trong khi giá bán sản phẩm chỉ tăng nhẹ hoặc biến động thất thường làm
cho thu nhập của ngư dân làm nghề lưới kéo ở Bạc Liêu giảm đáng kể.
Bảng 8: Chi phí biến đổi nghề lưới kéo
2,06
Lương thực
0,720,12
31,59,34 11,2 5,373,11
48,420,1
4,18
Nước đá
0,190,07
8,16a3,55 2,80 4,913,09
43,2b21,7
3,32
Tiền nhân công
1,360,97
64,4a54,4 18,6 18,815,6
171b114
0,68
Tổng chi phí biến
100
6,772,00
299a116 100 13968,3 1.279b514
đổi
Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p
Thu nhập (triệu đồng)
28,3a12,3
877277 7,66b4,31
2.192942
Lợi nhuận (triệu đồng)
18,2a8,74
561209 2,54b2,76
697519
Tỉ suất lợi nhuận (lần)
1,95a0,83
1,950,83 0,48b0,38
0,480,38
Các giá trị trên cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p
36
1
Kinh nghiệm đi biển
34
2
Giá hải sản ổn định
26
3
Liên kết khai thác và dịch vụ trên biển
17
4
Kỹ thuật đòi hỏi không cao
10
5
Bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn làm cản trở hoạt động khai thác của nghề lưới
kéo như: Bạn ứng tiền không trả, giá dầu tăng, ngư trường cạn kiệt nguồn lợi, thời
30
2
Ngư trường cạn kiệt nguồn lợi
29
3
Thời tiết
18
4
Ép giá
15
5
Thiếu vốn
13
6
6
Khó khăn chung hiện nay của nghề lưới kéo đơn là tình trạng thiếu người lao
động, giá nhiên liệu tăng, nguồn lợi suy giảm, thời tiết xấu, giá bán sản phẩm
khai thác thấp, thiếu vốn…
4.2 Đề xuất
-
Để nghề KTHS phát triển theo hướng bền vững, đặc biệt là các nghề khai
thác xa bờ thì ưu tiên hiện nay là Nhà nước cần có chính sách thực hiện bình
ổn giá xăng dầu, chính sách hỗ trợ vốn cho đánh bắt xa bờ.
-
Đối với nghề lưới kéo ven bờ, tuyên truyền ngư dân tuân thủ qui định kích
thước mắt lưới, đồng thời có hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với các tàu
khai thác không đúng tuyến khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ.
-
Xây dựng các mô hình tổ chức quản lý vùng biển ven bờ phù hợp với tập
quán, truyền thống của ngư dân ở địa phương.
-
Tăng tỷ lệ ăn chia lợi nhuận trên tàu để hạn chế việc người lao động bỏ việc.
-
9. Thái Ngọc Chiến, 2009. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền
vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
thủy sản III.
10. Tổng cục Thống kê, 2013. Niên giám Thống kê 2012. NXB Thống kê Hà
Nội.
11. Xuân Trường, 2013. Nghề cá Sóc Trăng: Bao giờ mới vươn xa?.
http://thuysanvietnam.com.vn/nghe-ca-o-soc-trang-bao-gio-moi-vuon-xaarticle-6448.tsvn. Ngày truy cập 27/11/2014.